Hôm nay,  

Thế hệ chiêm bao

06/04/202212:34:00(Xem: 3161)

Điểm sách

ngvangia

 

(Nhân đọc Lặng Lẽ Phù Sa, thơ Nguyễn Văn Gia, NXB Hội Nhà Văn, 2015).

 

“Chén trà sương sớm bên thềm

Vừa nghe chim hót, vừa thèm chiêm bao” (Bùi Giáng).

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Gia cũng như nhiều người bạn bước chân vào Đại Học Huế trước khi chiến tranh kết thúc, một số có lẽ là thành viên của “thế hệ chiêm bao”.

 

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến

Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen. (Mơ ngày hòa bình, Huế, 1972)

 

Nguyễn Văn Gia (NVG) làm thơ buổi tàn cuộc binh đao, đâu đó trước khi Hiệp Định Paris (1/1973) được ký kết. Anh hân hoan “chào chim sẻ, chim cu gáy của ngày còn bé/ Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm”… Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ/ Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng.” Thật hồn nhiên và rất đỗi lạc quan cách mạng. Cho đến khi“Quá nửa đời gió bụi với sương phai/ Khi ngoảnh lại đã hoàng hôn nắng quái/ Cái không thực làm sao tìm cho được/ Đôi tay gầy không thể hái trăng sao.” Nhà thơ “Bỏ rơi viên phấn nửa chừng/ Ta về nằm ngủ giữa rừng chiêm bao.” Lại chiêm bao, bây giờ anh mơ bóng tre xanh, quê nhà đã thành cố hương, mùa trăng cũ và tiếng chim…

 

Có những người bạn, nhà văn-nhà báo-nghệ sĩ nhiếp ảnh… phải lên tận bán đảo Sơn Trà mai phục may ra ghi hình chim và vọoc. Đất Thanh Khê của anh với Ngã Ba Huế, cửa ngõ phía Tây thành phố Đà Nẵng, khe nước xanh đổ ra Vũng Thùng nay không còn xanh nữa, chỉ may mắn còn lưu giữ cái chợ nửa tỉnh nửa quê, nhưng để nghe được tiếng chim gù nơi thảo lư có lẽ hơi chông chênh. Thì đành chiêm bao vậy.

 

Thế hệ mình bước chân vào đại học khi chiến tranh không còn lởn vởn nơi vùng ven, có lúc đã đổ ập vào thành phố. Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ, trượt Đại Học anh vào Thủ Đức. Khung trời đại học Huế không cao vời vợi, mùa giêng hai mây mù bảng lảng vờn qua sát nhịp cầu ánh bạc, sà xuống cành phượng vĩ đến tận bãi cỏ chân cầu, hành lang Văn Khoa thì hẹp và sâu hun hút nên anh em sinh viên hầu như đều quen biết nhau, từ những nhan sắc một thời nay nhắc đến tên còn thấy xao xuyến, đến anh chàng sinh viên quần kaki vàng, đội mũ beret lệch thời thượng Che Guavara, trong câu chuyện, thỉnh thoảng chêm vào câu bùa chú “cuộc kháng chiến giữ nước và dựng nước vĩ đại của dân tộc ta” cóp nhặt đâu đó qua những tài liệu Văn-Sử-Địa miền Bắc lưu truyền vào. Chúng mình hồi ấy sống hài hòa, mỗi người có nỗi niềm riêng, điều quan trọng là tôn trọng giấc mơ người khác. Có lẽ, đời sống sinh viên bấy giờ sàn sàn như nhau, bổng lộc là hư vô, nên kèn cựa, cơ hội để mà làm chi? Khác với không khí đại học sau 1975 và xã hội bây giờ “Dối trá và sợ hãi/ Đã trở thành thói quen/ Cái tôi đã thành cái/ Hai mặt và phân thân” (Hai mặt).

 

Cho nên, thế hệ chiêm bao tồn tại qua chiến tranh từng trăn trở:

 

“Sống như thế nào là phải đạo/ Chẳng lẽ theo gió mà trở chiều.”

 

Một mai khi hòa bình đến, những năm tháng của tuổi trẻ đẹp nhất, chúng mình được lùa vào “Trại Súc Vật”(Animal Farm, tên một tiểu thuyết của George Orwell). Có anh ném giấc chiêm bao thời hoa mộng xuống sông Hương, sông Hàn… đi tìm giấc mơ khác bên kia đại dương, có anh quy khứ lai từ hay ra chợ bán văn ngày tháng qua, số ít chen được một chân vào giai cấp mới (chữ của Milovan Djilas), nghe lời phủ dụ của mấy con heo có vai vế trong Trại Súc Vật, riêng anh vẫn dạy học, thỉnh thoảng làm thơ “Nghĩ về đất nước”. Nhà thơ ơi, hãy khoác một vòng hoa và tránh ra cho người ta yêu nước!

“Lặng lẽ phù sa” những câu thơ tưởng yên ả như lớp trầm tích lắng đọng với thời gian, nhiều bài hư ảo như một thi kệ, vậy mà thỉnh thoảng thơ trỗi dậy phun trào như dung nham núi lửa muốn dịch chuyển cả đại cục.

 

Nhà thơ không ly hương, vậy mà thao thiết nhớ quê hương! Bên kia vườn địa đàng, con người có mặt với hoa lá, chim muông, núi đồi-dòng sông, những giấc mơ- chiêm bao.

 

Chẳng thể ngồi xuống chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng hoài những giấc mơ, sợ rồi lại hóa đá hay biến thành ảo ảnh…

 

Trên từng bước chân đi, biến giấc mơ để làm người Tự Do bởi Tự Do chưa bao giờ là món quà cho không.

 

Tống Văn Thụy

(2/2022)

 

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm...
Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Hồi Ký Tiểu Thuyết Lê Lạc Giao Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm Tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Nếu "Làng Sơn Dầu" đại diện cho Ngu Yên trong vai trò người kể chuyện, và tuyển tập thơ "1978-2026" cho thấy ông ở vai trò nhà thơ đi suốt gần nửa thế kỷ, thì "Nhạc Ngoại Quốc" lại giới thiệu một chân dung khác của cùng một người cầm bút: nhà nghiên cứu và người thực hành dịch thuật. Ngay từ trang mở đầu, tác giả đã minh định rõ ràng mục đích của công trình này: đây là tuyển tập mang tính giáo dục, nhằm giới thiệu sự phong phú của âm nhạc thế giới cùng thực hành dịch ca khúc, không nhằm mục đích thương mại. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tuyển tập này không chỉ nằm ở số lượng bài hát được chuyển ngữ, mà ở việc Ngu Yên đã xây dựng hẳn một khung lý thuyết bài bản để soi sáng cho từng bản dịch, biến tập sách vừa là một tuyển tập ca từ để hát, vừa là một công trình học thuật thu nhỏ về nghệ thuật dịch ca khúc.
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
LTS: Nơi đây sẽ trích dịch theo bản tiếng Anh "Soccer in Sun and Shadow" [Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm] do Mark Fried chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của nhà văn Eduardo Galeano (1940–2015). Galeano là một nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Uruguay. Galeano từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, bao gồm Giải thưởng Lannan đầu tiên về Tự do Văn hóa. Sau đây là trích dịch một số đoạn văn.
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.