Hôm nay,  

Tóc Sương Say Tàn

04/07/202500:00:00(Xem: 2065)
 
 tiểu thuyết AI
 
Đặng Thơ Thơ cùng thế hệ với ông bác, em ruột mẹ tôi, sống trong thời Việt Nam Cộng hòa và cũng như ông bác tôi, Thơ Thơ xa xứ cùng gia đình, người bác theo ngành y còn chị ngành giáo dục, viết văn, sáng lập trang Da Màu như cách để giữ gìn bản sắc và ngôn ngữ Việt. Xa quê mới nhớ nhà, rời nhau mới ngẩn ngơ căn nhà cắt rốn, sợ mất tiếng mất giọng, ngôn ngữ bay tro nên việc người Việt tha hương lập ra các trang Văn Hải Ngoại là cách đại đoàn kết khỏi cảnh nhớ nhà, đồng thời đấy cũng là sân chơi, thư viện lưu trữ bản thảo, để người trẻ muốn tìm tòi giai đoạn 20 năm miền Nam, muốn thử sức mà không cần phải trình bày thành tích đăng báo, in sách chung sách riêng đều có thể liên lạc. Xác ta hồn ta trên đất tây phải đối mặt với nghịch cảnh khách ngoại vi, phải học nhuyễn ngoại ngữ, văn hóa tây để sinh nhai, tiếng Việt chỉ có thể nói với đồng hương hoặc tự thầm trên trang giấy. Bạn văn mỗi người một phương, kẻ sang Mỹ, người đi Đức, sang Pháp, mỗi người ở một tiểu bang, ai nấy trong tình trạng mai một tiếng Việt nếu không viết. Mang trên vai nỗi đau thời binh chiến, ra đi, vỡ vụn trong dư chấn văn hóa ngoại, nhập quốc tịch, sống lõi nửa đời nhưng vẫn là khách trọ. Viet Thanh Nguyen, Ocean Vương được phương tây ca ngợi bởi thực lực, bởi họ là những người Việt mất giọng, ngoài chút ký ức mỏng tanh như nắng sớm thì mọi thứ họ viết, những cuốn sách họ đọc, văn hóa họ hấp thụ đều phù hợp với căn cước một người ngoại quốc gốc Việt. Linda Lê là một nhà văn giỏi nhưng bà đã muốn trở thành một nhà văn Pháp, nói, viết bằng tiếng Pháp, sách đọc cũng là ngoại văn, đến những địa điểm, trích dẫn trong sách cũng rặt là sử Pháp, Tây Ban Nha, không thể thấy chút dấu vết nào của người Việt, ảnh hưởng của Thommas Bernhard dàn trải khắp tác phẩm khiến bà như một phiên bản rút gọn của Bernhard, tôi không hài lòng cái tinh thần đồng hoá mình thành người Pháp để thành danh trên đất Pháp. Cũng thân thế nhà văn gốc Việt và đều nổi danh, Viet Thanh Nguyen tìm đến thư viện, lục tung những tư liệu về cuộc chiến tranh miền Nam rồi hơ lửa, đốt nóng từng tế bào, đật vụn hiện thực thành những mảnh bột, ván nếp nặn ra cuốn tiểu thuyết lịch sử cho riêng mình, Ocean Vương, trong thơ luôn vương vấn hình ảnh đạn và mẹ, cuốn tiểu thuyết Một Thoáng Rực Rỡ Nhân Gian viết bằng tiếng Anh và được dịch lại bằng tiếng Việt, phát hành trong nước là sự trọn gói những hồi ức thơ ngây của tác giả với đất mẹ, chưa bàn đến đánh giá của thế giới, nội việc khắc sâu chữ V trong tim thì người viết đã thành công trong việc trung thực với bản thân, hiểu dân tộc mình hẵng bước ra thế giới, qua thế giới ta mới thấm vị thế của dân tộc và tìm thấy tính nhân loại.

Văn chương của Đặng Thơ Thơ phôi thai từ những vết thương hằn sâu, với đủ sắc màu, từ chính trị, giới tính, màu da; chủ đề và tư tưởng viết của chị chưa cần lập ngôn đã áng thấy ở phần title Literature Without Borders, chủ trương làm việc của Da Màu. Văn của Thơ Thơ là tạng văn lạnh, câu đơn nghĩa kép, không bóng bảy màu mè, tiết chế cảm xúc, đôi lúc là tự truyện, đối thoại mà như độc thoại; đôi lúc văn phong chị như ống kính ngắm quan sát từ bóng tối; cách kể, tả dửng dưng, nhấm nháp sự di chuyển hình thể, sự rung cảm của cảm xúc và nội tâm từ nhiều chiều, nhiều góc độ. Mỗi truyện ngắn của Thơ Thơ thiên về thiết lập cấu trúc, khảo sát và khảo cứu chủ đề hơn là kể một câu chuyện đầy đủ lớp lang. Tập sách Phòng Triển Lãm Mùa Đông là những khảo nghiệm sơ khởi, trải đều từ phòng tranh, nhà trẻ, vườn lan, sự sáng tạo, mỗi truyện là một mệnh đề bỏ ngỏ, mọi thứ đều trôi đi chỉ có nỗi đau, sự day dứt đâm gai vào người đọc, đây là Nhân.
 
Khả Thể đa thể loại và khó đọc hơn, những truyện ngắn với tôi là ưu tú chia tập sách làm 4 thể loại: Tôn Giáo (“Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối”), Lịch Sử (“Mở Tương Lai,” “Cấy Óc,” “Lịch Sử Nhìn Từ Âm Bản”) Kỳ Thị, (“Lý Lịch Hoang Tưởng Của Tôi,” “Ký Ức Của Người Loạn Tính”- hai truyện này cùng bổ trợ cho nhau, một truyện nhìn từ ngoài, truyện còn lại thì nhìn từ trong, chia nhỏ một bản thể thành nhiều bản thể, thể nghiệm cái nhìn song song dưới hình thức viết nhật ký) và Giả Định (“Con yêu tinh thứ 108,” “Cấy Óc,” “Mở Tương Lai”). Việc khảo nghiệm mệnh đề triết học thông qua sáng tác đã có ở Jean Paul Sartre, Albert Camus, họ viết tiểu thuyết dưới góc nhìn triết học, con người văn học là đối tượng hiện sinh. Đặng Thơ Thơ học hỏi ở các tiền bối nhưng không mượn nghệ thuật để luận triết học, chị lấy văn học làm nền tảng rồi trồng ý tưởng lên đó, sau đó khái quát, đặt giả thiết bằng những tình huống giả định, từ đó tăng sức nặng của mạch văn, đẩy người đọc phải tham gia vào bản viết để cân nhắc về một lối đi khả thể cho câu chuyện. Khả Thể là một tập sách tham vọng trong chủ đề và tư tưởng; và đấy là Kết.

Lúc hay tin Đặng Thơ Thơ ra tiểu thuyết, tên Ai, tôi nghĩ đến AI, thứ đang phủ hết mọi nền tảng từ công nghệ Chat GPT, app chỉnh sửa, ghép mặt cho đến những series phim đình đám như Black Mirror. Cuốn sách viết về kỷ nguyên máy móc hóa, nhân tính giả, người là máy- máy là người chăng, tôi ngờ thế và nỗi nghi của tôi sai bét khi cầm cuốn sách trên tay. Là Ai chứ không phải AI. Với Ai, chữ cái I trong bảng ngoại ngữ và cái tôi bị trừ đi (Ai-I) từ chủ thành khách, từ quen thành lạ, từ bản gốc hiện hữu thành phó bản mơ hồ, tương tự như mỗi lần nghe số lạ ta luôn phải rào trước bằng câu hỏi Ai vậy! Cùng là người viết, tôi luôn trăn trở câu nói “Tôi là ai ngoài cái mẹ đặt, thân xác phối từ mẹ từ cha!” mỗi khi viết cái gì đó, là truyện ngắn đơn hoặc liên truyện, vẫn câu nói đó được khoét rộng trong từng lớp truyện, tôi viết về tôi nhưng cái tôi họa trên giấy không phải là tôi những cũng là tôi hoặc ai đó. Hư vô hóa bản thân, tự khước từ hoặc buộc phải khước từ đã có từ thời Kafka, Joyce, trong nước thì có Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh…, Đặng Thơ Thơ cũng ảnh hưởng từ lớp tiền bối, đàn anh nhưng đó chỉ là phụ lục mỏng, lối đi của chị vừa quen vừa khác, quen vì mệnh đề Ai mang thuộc tính âm bản gốc phân bào, khác vì nằm ẩn sau chuyện người mẹ và đứa con là câu chuyện lớn của thời đại. Khi con thơ thì nó là của mẹ, chỉ mẹ sở hữu còn khi con lớn, con trở thành người khác, không còn của mẹ, người mẹ mất con khi không thể tỉ tê, gần gũi, ẵm trong lòng, cõng trên lưng. Người viết về Ai đã nhiều, với đủ góc nhìn, còn với tôi, Ai là cuốn sách về sự đứt gãy của lịch sử và ngôn ngữ. Hai thế hệ, mẹ Việt, con Việt trên đất tây, chính sử là mẹ, giả sử là những thứ ngoại biên, ngoại ngữ xâm thực tiếng Việt, đây không phải nỗi sầu riêng của người Việt mà là bi kịch của mọi sắc tộc lưu lạc trên xứ người. Với những gì tôi đọc của Đặng Thơ Thơ thì Ai là cuốn sách hoàn hảo từ thể loại đến bút pháp, Ai là Quả chứng được trên ngọn núi viết tên Thơ Thơ.

Nhà văn là những người tạo ra chữ, họ đi tới bằng cách viết. Với họ, viết là một hành động khẳng định. Tôi đi ngược lại, xóa từng chữ, từ cuối lên đầu. Nếu gọi nhà văn là I đi, thì tôi là –i. Nhà văn có tiếng tăm, tôi là hạng vô danh. Nhà văn là hình ảnh để ngưỡng mộ, tôi là kẻ vô hình. Nhà văn sẽ bất tử, còn tôi sẽ mất tích (tr.92-93) Lời tự thuật cũng là mảnh khóa bước vào thế giới của tiểu thuyết. Vũ trụ của Ai là sự trừ đi, phủ nhận hiện hữu bằng việc mất tích. Nhưng mất tích không có nghĩa là trốn vào hư vô, mà là bước đi, đi đến đâu cũng là mất tích. Hiện hữu như mất tăm diễn ra trong sự quan sát từ người mẹ, từ hình ảnh người mẹ mải mê trang điểm trên ghế nhựa khước từ lời van nài “nhìn con một chút” của đứa bé, đến tờ thông cáo nhận thưởng 200 quan Pháp của tòa soạn với lời ghi chú nhớ dẫn con theo. Nhưng làm sao dẫn người đang mất tích đến báo để nhận diện đứa trẻ đã lạc khỏi tầm tay? Loạt ảnh “bí mật về những đứa trẻ mất tích” chỉ là trò ăn tiền ác ý giữa nhiếp ảnh và tòa soạn, họ bóp méo sự hiện diện của những đứa trẻ, hất chúng vào vùng sương mù, tạc thù một án bắt cóc, mất tính vốn nhan nhản trên mặt báo; và những người mẹ tuy biết con mình vẫn ở bên, vẫn dẫn con đến lĩnh thưởng. Đứa trẻ bị kẹt giữa sự gian trá của người lớn, một phe bán được báo, một phía có tiền, thứ tiền bán con trong tâm tưởng, hay như chính đứa con trai bắt mẹ mình phải clone chính nó…Không khí truyện như nghẽn lại, đặc sánh, nghẹt thở; chỉ một câu nói, một hình ảnh là khiến người đọc mơ hồ không biết là mơ hay thực.


Năm 2019, Jordan Peele xuất xưởng bộ phim Us (Chúng Ta), với chủ đề thay thế bản gốc bằng bản sao. Cái tên Us còn mang nghĩa viết tắt từ USA và bộ phim ẩn ý cho sự tàn bạo của chính phủ Mỹ với những người tỵ nạn, phải sống bên lề, trong phim là tầng hầm. Mỗi người đều có một phiên bản giống hệt mình, dàn diễn viên chính có nhiều người là dân tỵ nạn rồi đây sẽ bị thay thế bởi bản sao, vừa là người Mỹ chính quy sẽ bị thay thế bởi phiên bản được tạo ra từ chính phủ. Us là phim kinh dị, bạo lực và máu me còn Ai là tiểu thuyết văn học. Nếu phim của Peele triển khai sự mất tích vì bị thay thế thì tác phẩm của Thơ Thơ là sự mất tích khi vẫn hiện hữu, mất tính ở thể chủ động. Mất tích trong chuyến đi xa, mất tích trong ký túc xá, mất tích tạm thời, mất tích vĩnh viễn, mất tích ở bất cứ đâu và với mọi giả định có thể nghĩ ra… Sự mất tích này không mang tính tự hủy hay bị diệt như của Kafka. Mất tích là để khai phá, nên đi đến đâu, biết đến nơi nào là liền tự coi như đã và đang mất tích, tự xóa dấu vết mình, hư ảo hóa cuộc đời thay vì đến đâu là tụ tập, chụp ảnh, ghi tên như cách sở hữu một nơi chốn đã thuộc về mình trong chuyến đi. Lịch sử trong tiểu thuyết Ai là lịch sử của sự mất tích. Nhân vật người mẹ là một người Việt sống ở Mỹ, bà đối lập với người con, thế hệ lớn lên ở Mỹ, dùng hai ngoại ngữ nhưng không thật sự thạo tiếng nào. Tiếng Anh là ngôn ngữ để sinh tồn ở ngoài còn tiếng Việt là tiếng nói khi về nhà, bởi đứa trẻ là người Việt và chỉ khi nói tiếng Việt thì hai mẹ con mới tìm thấy nhau. Ai rồi cũng sẽ già, rồi lú lẫn, quên dần mọi thứ bao gồm cả tiếng nói. Ngôn ngữ thứ hai sẽ là thứ bị mờ đi đầu tiên, rồi đến ký ức, hình ảnh, tiếng nói. Nếu ngay cả tiếng mẹ đẻ cũng ứ nghẹn, tiêu tan trong phổi thì mình sẽ nói gì, điều gì sẽ luyến lưu trong mình? Tôi ngờ rằng căn nguyên của ý niệm muốn mất tích nảy mầm từ sự đứt gãy giữa hai thế hệ cùng chung huyết thống.

“Mẹ của con đã chết rồi. Đây là một người khác nhập vào mẹ.” (trang 116)
“Thơ Thơ!”
Một giọng lạnh lẽo trả lời:
“Gì đó?”
“Mẹ nói dối, mẹ vẫn là mẹ. Mẹ biết tên mình là Thơ Thơ” (trang 117)

Hai dòng đối thoại ở hai trang, thuộc về dòng in nghiêng của hồi ức hé mở rất nhiều điều. Người con víu lấy câu chuyện về một đứa trẻ sáu tuổi sống bên trong mình, là hai thực thể có cùng một bộ nhớ, và lấy đó làm lý do để mất tích. Người mẹ chết nhưng vẫn không quên được tên mình-thứ định danh sự tồn tại của một con người sau khi cắt rốn. Hiểu ở mạch nghĩa khác thì đứa trẻ 6 tuổi bên trong là phần ký ức bị chôn sâu, đó cũng là phần mỏng manh, yếu đuối và trong sáng nhất của mỗi người, Hãy để trẻ em đến với Ta và đừng xua đuổi chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai nên giống như chúng. Ta bảo các ngươi, ai không đón nhận Nước Trời như một trẻ em thì sẽ không được vào trong Nước ấy- Lời chúa Jesus được thánh sử ghi lại trong phúc âm. Đứa trẻ 6 tuổi trong phần nhật ký gửi chuyên viên tâm lý và được Thơ Thơ hình dung lại có là phần thiên thánh, ngây dại đã bị vấy bẩn nên nằm mãi bên trong, hay đó là chấn thương ghì nặng lớn lên cùng mình, mang trọng lượng, diện mạo của mình nhưng tuổi vẫn chỉ là 6? Làm sao để thoát được nếu không rời đi, mất tích; mất tích để quên sự hiện hữu của cái tôi, trở thành ai, không còn là người Việt cũng chẳng mang quốc tịch Mỹ. Nhưng có đi đến đâu, ở đâu, mất tích ở vị trí nào thì tôi (I) vẫn chỉ thấy I (tôi), thứ bản thể không thể dứt, không thể buông; bởi khi ta tìm cách vô hiệu hóa sự tồn tại một cách quyết liệt và liên tục là đã gián tiếp khẳng định nó không thể biến mất. Không ai có thể phủ nhận sự dối trá mà chỉ có thể làm rõ, khiến mặt thật lộ khỏi mặt nạ. Không ai phủ nhận, xóa bỏ được sự thật bởi sự thật luôn ở đó, càng vùi lấp thì vải thưa bị rách sẽ gây ra một vụ nổ chấn động đất trời.

Cha là trời, một Titan cao ngút như trụ kình thiên. Mẹ là đất, cũng là mùa màng. Con người khởi nguyên từ cuộc hôn phối giữa trời và đất. Nghệ thuật ưu ái hình ảnh của mẹ nhiều hơn với cha, nhất là người Việt. Ở Phạm Duy, là hình ảnh bà mẹ Gio Linh áo quần nâu sòng, mặt mũi nhăn nhúm như lịch sử nước Nam từ lúc thành hình luôn chìm trong khói lửa và chia lìa, ở Dương Nghiễm Mậu, là bà mẹ trong căn nhà xơ xác, yêu con quên mình, ngày về đám con xin chia của nhưng gia tài của mẹ là nước Việt buồn. Còn ở tiểu thuyết Ai, bà mẹ trong mắt tôi tóc sương say tàn, người mẹ trong sách, tên Thơ Thơ vỡ òa khi người con dịch lại bài thơ tiếng Anh thành tiếng Việt, thứ ngôn ngữ uyển chuyển thoát khỏi lớp vỏ ngoại văn đơn nghĩa để thoát thai thành hồn bướm, cũng bà mẹ đó say tàn trong những chuyến mất tích, tóc sương suy tưởng về sự mất giống của tiếng Ais, của tiếng Việt sau hàng trăm hàng ngàn năm bị lai tạo bởi quyển lực kẻ mạnh. Người mẹ riêng của đứa con trai-vừa là chủ thể riêng vừa là phó bản róc ra từ xương thịt mẹ, đang lớn lên tiến vào cộng đồng ngoại quốc, nơi có giấc mơ của nó và giấc mơ đó là sự mất tích với nước Việt, dù đứa trẻ vẫn nói được tiếng nước ta nhưng chính thứ tiếng đó đã nghiền nát tâm hồn trẻ nhỏ, United States of America vừa là vòng tay nhân ái vừa là lò xay nhuyễn sắc tộc, họ chấp nhận mọi tộc người và đó phải là người sõi tiếng Anh, sành văn hóa Mỹ. Hàng năm, có bao nhiêu người da đen, da vàng bị mất tích, xác nằm hoang ngoài rừng nhưng chỉ cần một người da trắng vắng mặt 24 giờ là báo chí sẽ loạn lên, đã bao nhiêu thành tựu nghệ thuật của người Phi Châu bị Picasso chiếm dụng, đạo nhái thành tác phẩm riêng, ngay cả khi ông thừa nhận chuyến viếng thăm bảo tàng ở Trocadero đã thay đổi tư duy hội họa của mình nhưng không bao giờ thừa nhận nền nghệ thuật Châu Phi, câu nói Nghệ sĩ giỏi thì sao chép, Nghệ sĩ vỹ đại thì ăn cắp sẽ thành tấm gương tày liếp với bất cứ ai và là sấm ngôn sáng tạo chỉ bởi cái tên Picasso. Hội họa Châu Phi vẫn ở đó nhưng mọi dấu ấn đã bị đánh cắp và mất tích trong tranh vị họa sĩ thiên tài người Tây Ban Nha. Lưu vong. Lạc lối. Sống cả đời vẫn chỉ là khách. Cùng với thủ pháp chơi chữ, cắt dán, kết hợp với cái hiện thực đương đại, là những công nghệ điện tử, nền tảng mạng xã hội, thứ hổ lốn kéo gần con người đến kiến thức và tách hồn khỏi xác, tách người khỏi người. Những cái tên như Ais, trang mạng trienlam.mattich.ai, I, Ai…nhấn mạnh cái lạ, cái khác, sự khách thể trong thế giới tiểu thuyết. Bất cứ ai bất cứ đâu cũng có người mất tích, cá thể đại diện cho dân tộc của họ trong sự mất tích chung và riêng, khi ngôn ngữ gốc, bản tướng sinh tiền của quốc tộc dần bị sửa chữa, rút gọn, hiệu đính thành thứ ngôn ngữ hợp thời. Bảo tàng về sự mất tích trong Ai là sự mở rộng của Phòng Triển Lãm Mùa Đông, người mẹ trong Ai là phần trưởng thành của nhân vật trong truyện “Mở Tương Lai” và hai mẹ con trong Ai là phiên bản hoàn hảo từ tùy bút “30/4 và Một Ngày Ở Phía Tương Lai.” Chỉ với một chữ Ai, Đặng Thơ Thơ đã suy tưởng được sự khủng hoảng giữa chủ thể và khách thể, chị khái quát và khái thác đến tận cùng những ngờ vực, day dứt, đau đớn của những số phận những kiếp người của thế hệ, tấn bi kịch cáo chung của các dân tộc chịu lời nguyền lưu vong trong lịch sử.

Khởi thủy từ những nhát cắt ứa tim trong Phòng Triển Lãm Mùa Đông, khơi mở biên bộ và cấu trúc, bút pháp bằng Khả Thể và tổng lược, đại kiện toàn với Ai, Đặng Thơ Thơ đã thành tựu trong quá trình viết và sáng tạo những gì của thế hệ mình với thế hệ đang sống và sẽ ra đời trong tương lai. Ai là cuốn tiểu thuyết cắt lớp, đa ngôn, là bản giao hưởng đêm đen, thứ phúc âm âm- dương của thời đại. Đọc Ai vừa là đọc tinh cốt của nhà văn cũng là đọc chính mình, tự khám phá, tìm hiểu ngã thể trong mỗi người. Sự phai máu, mờ đi của ngôn ngữ của mỗi thế hệ, đó là mối họa, mối lo hay sự cảnh giác về mặt tối của sự giao thoa, hội nhập thế giới- muốn hòa nhập thì phải thay đổi, biến đổi tới mức không còn nhận ra mình trong quá khứ, thấy lạ lẫm thân mình ở hiện tại, lịch sử đời người bị đứt đoạn và mất tích từng nấc từng nấc, và với tôi, Ai là một trải nghiệm lý thú, một chuyến mất tích để thấy mình mất và còn những gì. 
 
Tru Sa
3.2025 
 

Qua cuốn sách này, Kissinger tổng kết những trải nghiệm phong phú qua hơn sáu thập kỷ trong chính trường thế giới. Là một người theo trường phái Hiện thực cực đoan (Hard-core Realist) trong lý thuyết Bang giao Quốc tế, ông đã phân tích theo khảo hướng lịch sử một cách xuất sắc về hệ thống chính trị châu Âu, các nước theo Hồi giáo, Trung Quốc và Mỹ, nhưng không đề cập đến sự phát triển tại châu Mỹ La tinh. Ông kết luận rằng có một hình thái mới trong quan hệ các siêu cường, nó dựa trên hệ thống theo Hoà ước Westphalen, sự cân bằng quyền lực trên toàn cầu và các nguyên tắc không can thiệp, tất cả sẽ là một mệnh lệnh chung cho việc xây dựng trật tự thế giới ngày nay. Tuy nhiên, nhìn chung, Kissinger không thể cung cấp các giải pháp khả thi hay bước đầu hữu ích. Có nhiều lý do để phản luận Kissinger mà bài điểm sách sau đây sẽ đề cập.
Ba mươi tháng Tư năm 1975 là dấu thời gian của những đổi đời, của vinh quang cùng đau khổ. Nhiều câu chuyện đã được kể lại, nhiều hồi ức đã viết về đất nước với chiến tranh quốc cộng và hệ lụy kéo dài. “Cha Vô Danh” [Nxb. L’Harmattan, France 2019, 532 trang] của Phạm Ngọc Lân ghi lại biết bao đổi thay, thăng trầm của đất nước, nhưng có những nét riêng vì trải dài gần ba phần tư thế kỷ từ đầu thập niên 1940 cho đến năm 2015 và qua những nơi ít được nhắc đến như Ba Bình, Lạng Sơn, Bảo Lộc, Vincennes, Toulon, Fréjus, Nouméa.
Chogyam Trungpa Rinpoche (1939-1987) là một trong những đạo sư Tây Tạng đầu tiên mang Phật Pháp đến phương Tây. Năm 1963 được học bổng để du học tại Đại Học Oxford. Năm 1967 sau khi tốt nghiệp Ngài thành lập Trung Tâm Thiền Samaye-Ling tại Scotland với phương pháp thiền áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Cuộc đời của Nữ Thiền sư Dipa Ma đã được tác giả Amy Schmidt đem vào tác phẩm “Knee Deep in Grace, The extraordinary Life and Teaching of Dipa Ma”. Sau đó, Tác phẩm nầy được bổ túc thêm để trở thành tác phẩm mang tên “Dipa Ma, The Life and Legacy of a Buddhist Master”. Dipa Ma (1911- 1989) ra đời tại Chittagong, một làng nhỏ nằm về phía Đông xứ Bengal (ngày nay là Bengladesh). Lúc dó Bà mang tên là Nani Bala Barua chớ chưa phải là Dipa Ma.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
Trong những ngày nhàn rỗi cuả tháng 4, vô tình được đọc tác phẩm The Sympathizer (Grove Press New York, 2015) của Viet Thanh Nguyen (sinh năm 1971 tại Ban Mê Thuột), với bản dịch Việt Ngữ của Lê Tùng Châu (23 chương 434 trang), tôi hoàn toàn bị cuốn hút và ngỡ ngàng trước một tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Viet Nam, nhưng toàn truyện như một bản hòa tấu đủ cung bậc thăng trầm, với nhiều đoạn trường canh vừa có triết tính và thơ mộng, vừa có ý nghĩa sâu sắc và mang tính gợi hướng của thời đại. Chính Viet Thanh Nguyen, một nhà văn người Mỹ gốc Việt đã đánh bại bao nhiêu tác phẩm khác trên đấu trường văn chương và được hội đồng chấm giải Pulitzer vinh danh, trao giải năm 2016...
Đầu thập niên 60, thầy Nguyễn Phú Long, hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, Quảng Nam - dịch giả Nguyễn Kim Phượng – làm thơ với bút hiệu Hoàng Thị Bích Ni. Nhà thơ Luân Hoán, nòi tình với thi ca từ thuở học trò cho đến nay xấp xỉ tám mươi, với bút hiệu nàng thơ Châu Thị Ngọc Lệ xuất hiện trên tờ Ngàn Khơi, Thời Nay… mượn địa chỉ của một người đẹp có thật tên Đoàn Thị Bích Hà, ở Đà Nẵng. Có người từ Sài Gòn ra tìm… sợ bể mánh nên lấy bút hiệu khác là Lê Quyên Châu.
Tôi tình cờ đọc được một bài tiểu luận sâu sắc của một cựu nhân viên tình báo Hoa Kỳ nhắc đến việc virus Covid-19 có thể thoát ra từ một phòng thí nghiệm sinh học ở Vũ Hán Trung Quốc do điều kiện bảo giữ thiếu an toàn. Bài viết khiến tôi liên tưởng tới nhiều điều trùng hợp kỳ lạ giữa câu chuyện đại dịch hôm nay với câu chuyện đại dịch trong tiểu thuyết "Hoả ngục" của nhà văn Dan Brown bắt nguồn từ một con vi khuẩn.
Trong thời buổi đại dịch toàn cầu, mọi người đều được yêu cầu ở trong nhà không đi ra ngoài ngoại trừ có việc cần và khi xét nghiệm dương tính với COVID-19 thì phải tự nguyện cách ly tại nhà.Đối với nhiều người đây là thời gian rảnh rổi nhất từ trước tới giờ. Suốt ngày ở trong nhà, cứ đi ra rồi đi vào, hết ăn rồi ngủ, hết xem truyền hình rồi ra vườn nhổ cỏ trồng cây. Nhưng rồi thời gian vẫn thấy dư thừa nhiều. Nếu bạn là người thích đọc sách thì đây là lúc để bạn đọc những cuốn sách mà mình thích nhưng vì lâu nay bận rộn nên chưa đọc được. Nhân tiện, Việt Báo xin giới thiệu một số sách được mục văn hóa của trang mạng www.bbc.com tiếng Anh bình luận cho là hay nhất trong năm 2020 tính tới thời điểm này.
Chết Dưới Tay Trung Quốc lẽ ra là sách “gối đầu giường” cho các nhà lãnh đạo, chính trị gia trên thế giới nhưng bóng ma vòi bạch tuộc của Trung Quốc quá lớn, bao trùm lãnh thổ khắp mọi nơi… Dù có một trăm quyển sách như vậy cũng khó phá tan đám mây đen vần vũ đe dọa trên hành tinh con người. Hơn thế nữa, Trung Quốc trở thành miếng mồi ngon cho giới kinh doanh đầu cơ trục lợi, giới chính khách bị mua chuộc và lợi dụng cơ hội để xâm nhập, khuynh loát vào nội tình của các quốc gia nhằm dụ dỗ, tuyên truyền và phân hóa nội tình của mỗi nước. Với các nước nhược tiểu, Trung Quốc dùng thủ thuật “cây gậy và củ cà rốt (carrot and stick) trong chính sách đó “cây gậy” tượng trưng cho sự đe dọa trừng phạt, “củ cà rốt” tượng trưng cho quyền lợi, phần thưởng. Với các siêu cường, Trung Quốc xử dụng chính sách ve vãn (flirtation policy). Trò xảo quyệt, thủ đoạn chính trị nầy đã có từ thời kỳ mô tả trong Đông Châu Liệt Quốc, giai đoạn Xuân Thu, Chiến Quốc trước công nguyên trải qua năm trăm năm ở
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.