Hôm nay,  

Đọc “We Do Not Part”* (Chúng Ta Không Lìa Nhau)

4/10/202600:00:00(View: 778)

we do not part
 
“Năm ấy, cha tôi mười chín tuổi. Ông có ba người em gái nhỏ hơn — đứa lớn nhất mười hai tuổi, đứa bé nhất còn đang nằm trong nôi — và một em trai. Ông thương cô em út nhất, đứa sinh vào đầu tháng Giêng năm ấy. Chính ông là người đặt tên cho nó là Eunyoung, sau khi ngăn ông nội đừng gọi nó là Soonyoung — bởi những người anh chị của nó đều mang những cái tên như Hakyoung, Sookyoung, Jinyoung, và Heeyoung. “Con bé vốn đã là một con chiên non rồi,” ông nói, “sao còn mạo hiểm khiến nó hiền hơn nữa bằng một cái tên như Soon chứ?”

Ông có một chiếc áo bông thắt thun ở lưng, bà nội mua cho để mặc cùng bộ đồng phục mùa đông. Mùa xuân năm ấy, trong cuộc bãi khóa của sinh viên, khi ông về nhà để khỏi tốn tiền trọ, ông bắt đầu có thói quen nhét đứa em bé của mình vào trong chiếc áo ấy. Ông thích kéo khóa xuống một chút, để bạn bè nhìn thấy mái tóc mềm như nhung của con bé, và thích nghe các cô gái xuýt xoa khi nó nắm lấy cổ áo ông bằng nắm tay bé xíu. Bà nội mắng ông, bảo kiểu gì rồi cũng đánh rơi mất con bé, nhưng ông nói bà đừng lo; ông vẫn luôn giữ nó rất kỹ. Và nếu có ngã, ông sẽ ngã ngửa ra sau, để đứa bé vẫn được yên lành.

Ông bà tôi lo đến mất ngủ vì đứa con trai cả, bởi ông là người đàn ông duy nhất trong nhà ở đúng độ tuổi mà lính tráng và cảnh sát có thể nghi là đang liên lạc với du kích trên núi. Người ta đồn rằng có những cảnh sát nói giọng miền Bắc vào làng, lôi thanh niên đi chỉ để đủ chỉ tiêu bắt người. Những thám tử từng làm việc cho Cảnh sát cấp cao Nhật Bản vẫn còn ở trong lực lượng, và vẫn tra tấn người ta như họ từng làm trước ngày giải phóng. Sau khi nghe chuyện một học sinh trung học chết vì bị tra tấn trong đồn cảnh sát, ông nội tôi bảo cha tôi trốn một mình trong những hang đá. Ban ngày, cha tôi thắp chiếc đèn dầu sứ nhỏ để đọc và học — ông mơ rằng khi mọi chuyện lắng xuống, mình sẽ nộp đơn vào một trường đại học ở Seoul. Trước khi mặt trời lặn, ông cẩn thận dập đèn và ngồi trong bóng tối. Ông đợi đến nửa đêm mới lén về nhà, ăn phần thức ăn đã nguội lạnh, rồi chợp mắt một lát. Sau đó, rất sớm trước bình minh, ông lại lặng lẽ trở về hang, mang theo vài củ khoai hấp và chút muối gừng gói trong một mẩu giấy.

Đêm tháng Mười Một ấy, ông đang đi lên hang như mọi khi thì nghe tiếng còi và thấy khu rừng bỗng sáng rực. Những ngôi nhà đang cháy. Bản năng bảo ông cứ đứng yên tại chỗ. Ông ẩn vào một bụi tre ở mép lòng suối cạn. Rồi ông nghe tiếng súng, bảy phát tất cả, vọng lên từ bãi đất trống trong làng. Qua những thân tre, ông thấy lính thổi còi, xô người dân ra khỏi làng. Dù đứng khá xa, ông vẫn nhận ra hai đứa em mình trong đám đông. Chúng đang nắm tay nhau. Những người đàn bà đi sau những đứa trẻ còn nhỏ hơn nữa, hoặc cõng trẻ sơ sinh trên lưng, cùng những người già, cứ ngã dúi dụi hoặc lê bước chậm chạp, làm cả hàng người chùng xuống. Bọn lính thổi còi và chĩa súng thúc họ đi tiếp.

Khi chắc rằng họ đã đi rồi, cha tôi chạy xuống làng. Ông ngoái lại và thấy nửa dưới của ngôi làng, phần đông đúc hơn, đang hừng hực cháy. Ngọn lửa lớn và sáng đến mức ông quả quyết  mình còn nhìn thấy những đám mây trắng phía trên làn khói. Chỉ còn những bức tường đá bao quanh nhà cửa và ruộng đất còn sót lại. Cha tôi chạy về sân nhà mình và chết lặng khi thấy mặt đất loang đỏ, cho đến khi hiểu ra rằng những chum ‘gochujang’ đã vỡ. Ông lục tìm trong nhà, không thấy ai ở bên trong, rồi vội chạy xuống gốc cây ở bãi làng. Có bảy người nằm chết ở đó. Một trong số họ là ông nội tôi. Những người lính đã đi từng nhà với bản sao sổ đăng ký cư trú, và khẳng định rằng bất kỳ người đàn ông nào không có mặt trong nhà đều hẳn đã theo quân nổi dậy, họ đã xử bắn những người thân còn lại. Cha cõng thi thể ông nội trên lưng và đưa về sân nhà. Ông gom một ôm lá tre, trải lên mặt và thân thể cha mình như một lớp vải lịm, rồi kéo từ đống tro tàn còn âm ỉ của cái chuồng ra phần đầu của chiếc xẻng kim loại đang đã cháy dở. Ông đợi cho kim loại nguội, rồi xúc đất phủ lên lớp lá ấy.”
 
*
Đoạn trên đây trích từ chương III –Wind (Gió)  của cuốn We Do Not Part (Chúng Ta Không Lìa Nhau).

Tôi chọn giới thiệu đoạn này bởi những hình ảnh mô tả cuộc tàn sát đẫm máu của Han Kang không khoải khiến độc giả Việt liên tưởng đến những ngày tháng Tư đen và những đợt tàn sát tập thể người Cộng Sản ra tay trên khắp các tỉnh thành miền Nam, Việt Nam trước khi họ chiếm đóng Sài Gòn.

Tháng Tư, đọc tác phẩm We Do Not Part, khi tác giả Hàn Quốc đưa người đọc ngược dòng thời gian trở lại những trang sử đẫm máu của Hàn Quốc, để chứng kiến và tưởng niệm hàng nghìn sinh mạng bị sát hại trong cuộc nổi dậy ở đảo Jeju sau Đệ nhị Thế chiến, chúng ta không khỏi ngậm ngùi thắp nén hương cho những người Việt đã bỏ mạng trong những cuộc tàn sát tập thể tàn nhẫn, cũng như hàng ngàn sinh mạng đã bỏ mình trên biển Đông.

Trở về với We Do Not Part (Chúng Ta Không Lìa Nhau) của tác giả Hàn Quốc Han Kang, nhân vật Kyungha là một người đàn bà sống lặng lẽ giữa hiện tại và âm vọng ký ức. Qua một cuộc hành trình cứu con chim nhỏ giữa bão tuyết, tác giả đưa người đọc vào một cõi ký ức nơi một thế giới của những người đã khuất bị dập vùi dưới tuyết, nơi những linh hồn còn vương, chưa thể nằm yên dưới lớp tuyết im lìm dày đặc. Màu trắng trong, thanh khiết của tuyết như những trang sử trống mà người ta cố tình không ghi nhớ về giai đoạn lịch sử đau đớn này của Hàn Quốc.

Bút pháp cô đọng nhưng ám ảnh của Han Kang hiện hình qua thân xác, cơn đau, sự câm lặng và những vết thương không có cơ hội lành lại.

“Chỉ vài giờ nữa thôi, thân thể Ama sẽ hóa băng.
Và sẽ được giữ nguyên như thế cho đến tháng Hai — khi ấy, nó sẽ tan rữa thật nhanh.Chỉ còn lại một nắm lông vũ, và những khúc xương thủng lỗ.”

Thảm kịch Jeju năm 1948, như cánh chim chôn dưới tuyết, hiện lên như một phần ký ức còn y nguyên đóng băng dưới tuyết, lấp lánh những thước phim chiếu cảnh hàng chục nghìn thường dân bị giết trong các cuộc đàn áp, những xác người bị vùi dưới đất, ném xuống biển, những tên tuổi bị xóa khỏi mặt đời trong câm lặng. Và sự im lặng ấy có lẽ là nguyên nhân khiến quá khứ không thể chia lìa.

We Do Not Part được thắp sáng bằng một thứ ánh sáng buồn, đẹp lạnh người. Tuyết, bóng tối, tro than, máu đỏ, tiếng gió, cánh chim, tất cả đi qua trang sách như những dấu vết của một cõi đời vừa thực vừa mộng. Người đọc có cảm giác đang bước trật giữa một cơn mơ lạnh, nơi mọi thứ dẫu mong manh đến đâu cũng không thể thật sự biến mất.

Điều cảm động là dưới những lớp bôi xóa, sự hiện hữu của mối liên hệ giữa người với người, sống với chết, hiện tại với quá khứ vẫn gắn bó. Điều tác giả muốn nói, có lẽ, không phải cứ chia xa là người ta sẽ mất nhau; chỉ cần ký ức còn đó, con người vẫn còn ở lại trong nhau, ngay cả khi đời sống, như lịch sử, đã trải qua những đổ vỡ sâu đậm, đau đớn nhất.
 
Nina HB Lê
 
*Cuốn We Do Not Part, ra mắt tại Hàn Quốc vào năm 2021 và đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác, đoạt giải Prix Médicis étranger tại Pháp năm 2023, vừa được thắng giải National Book Critics Circle (NBCC) năm 2026 tuần qua. 

** Han Kang, tác giả Nobel 2024 sinh năm 1970 tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc. Gia đình bà dọn lên Seoul bốn tháng trước cuộc nổi dậy ở Gwangju, diễn ra vào tháng 5 năm 1980, khi quân đội Hàn Quốc tàn bạo đàn áp phong trào sinh viên đòi dân chủ và thảm sát tới 2.300 người.

***Bạn đọc có thể đặt mua sách tại Bookshop để hỗ trợ tiệm sách độc lập thay vì mua ở Amazon.
 

Đọc Vũ Hoàng Thư có thể bắt đầu từ một điểm rất nhỏ: một ảnh tượng vừa hiện ra trước khi nó trở thành ý nghĩa. Ở đó, ĐÂY LÀ X không phải là công thức lý thuyết đặt lên văn chương, mà là cú pháp căn bản của nhận thức khi đi vào chữ. ĐÂY là một xúc chạm: cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, con thuyền, ánh trăng. LÀ là trường hiện ra của xúc chạm ấy, nơi cái thấy vừa đủ ổn định để được nhận ra. X là con chữ được đặt xuống
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
“Everything I Learned, I Learned in a Chinese Restaurant” (Mọi điều tôi học được đều từ một nhà hàng Trung Hoa) là một cuốn hồi ký dí dỏm, mang tính chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn gốc Hoa Curtis Chin, kể về quá trình trưởng thành của một người Mỹ gốc Hoa tại Detroit vào những năm 1980s. Nhà hàng của gia đình Chin – Chung’s Cantonese Cuisine – từng là điểm gặp gỡ của những cư dân đang phải vật lộn với những căng thẳng về sắc tộc, khó khăn kinh tế, cũng là nơi gắn liền với vụ án tội ác thù ghét đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử: vụ sát hại Vincent Chin. Curtis Chin là đồng sáng lập của tổ chức Asian American Writers’ Workshop. Bộ phim mới nhất của ông thực hiện cho đài PBS, mang tựa đề “Warren King: King of Cardboard” ra mắt trong tháng 5, là Tháng Di sản người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương (AAPI).
Có những cuốn sách không chỉ kể một câu chuyện, mà tự nó đã là một chuyện khác: chuyện về giọng nói, về cách kể, về thứ quyền lực ẩn trong từng lớp chữ. Taiwan Travelogue của Yang Shuang-zi (Dương Song Tử) là một cuốn như thế — đã đoạt National Book Award 2024 cho Văn chương Dịch thuật tại Hoa Kỳ, và mới đây lại nhận thêm giải International Booker 2026, trở thành tiểu thuyết đầu tiên dịch từ tiếng Hoa phổ thông được trao giải thưởng này.
Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện. Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng? Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế. Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.
Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.
Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương” (*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.