Hôm nay,  

Đọc Vũ Hoàng Thư Từ Ngưỡng Xúc Chạm Của Thi Ảnh

25/06/202612:46:00(Xem: 379)

Đọc Vũ Hoàng Thư Từ Ngưỡng Xúc Chạm Của Thi Ảnh

Tô Đăng Khoa

---- “Chiến chinh rốt cùng còn lại là một mớ ký ức của một thuở đã phôi pha.” (Vũ Hoàng Thư)

blank
Đọc Vũ Hoàng Thư có thể bắt đầu từ một điểm rất nhỏ: một ảnh tượng vừa hiện ra trước khi nó trở thành ý nghĩa. Ở đó, ĐÂY LÀ X không phải là công thức lý thuyết đặt lên văn chương, mà là cú pháp căn bản của nhận thức khi đi vào chữ. ĐÂY là một xúc chạm: cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, con thuyền, ánh trăng. LÀ là trường hiện ra của xúc chạm ấy, nơi cái thấy vừa đủ ổn định để được nhận ra. X là con chữ được đặt xuống: không phải nhãn hiệu khái niệm, mà là ký tự, âm chữ, nhịp chữ, lời gọi làm cho cái vừa chạm được giữ lại trong văn. Khi Vũ Hoàng Thư phỏng dịch Bashō: “nhấp nhô cỏ hạ kéo về / chút tàn dư lại / mộng hề ! chinh nhân,” cỏ không còn chỉ là cảnh vật, nhưng cũng chưa tan vào một luận đề. Cỏ là điểm tiếp xúc làm phần vắng của chiến chinh hiện lên. Trong phần văn xuôi tiếp sau, Vũ Hoàng Thư viết: “Chiến chinh rốt cùng còn lại là một mớ ký ức của một thuở đã phôi pha.” Cái còn lại không phải lịch sử được kể lại đầy đủ, mà là một vệt rung sau lịch sử, nơi cỏ hạ là cỏ hạ trong cái thấy; từ duyên xúc chạm đó, mộng chiến binh mới sinh khởi quanh bờ cỏ hạ.

Ở bài viết về haiku mùa hạ, Vũ Hoàng Thư thường đi từ cái thấy nhỏ sang vùng mộng rộng. Ông nhìn một đám cỏ, một xác ve, một bờ ao, rồi để các lớp ký ức và thân phận nổi lên theo hơi nóng của mùa hè. Khi ông phỏng dịch Shiki: “một ao nước cũ lặng lờ / nổi trôi thân ngửa / vật vờ xác ve,” câu thơ không cần giải thích nhiều vì xác ve tự nó đã là một dấu chữ đủ mỏng. Trong cái thấy chỉ là cái thấy: xác ve nổi trên ao cũ. Nhưng cái thấy ấy do duyên xúc chạm mà thành, nên quanh nó có tiếng ve đã tắt, mùa hè đã qua, thân sống đã rời, âm thanh đã mất. Chính ở đây văn Vũ Hoàng Thư gần với một lối đọc bằng phần còn lại. Ông không chỉ nói cái đang có mặt; ông để cái đang có mặt vẽ ra đường viền của cái không còn có mặt. Trong đoạn viết về ve và sương, ông hỏi: “Có chăng ve hát từ sương trong một buổi sáng có sương giữa thế giới mù sương?” Câu hỏi ấy không đóng nghĩa. Nó giữ người đọc trong một chuyển động lưng chừng giữa ve và sương, giữa tiếng hát và tan biến, giữa cái nghe được và cái chỉ còn vọng lại trong ký ức.

Một đoạn riêng nên dành cho phong cách, chất trữ tình, chuyển động và kỹ thuật văn của Vũ Hoàng Thư. Văn ông có nhịp tản mạn nhưng không rời rạc; nó vận hành bằng làn sóng liên tưởng, từ một ảnh tượng cụ thể trôi sang ký ức, từ ký ức sang mộng, từ mộng sang một câu hỏi hiện sinh, rồi trở lại bằng một hình ảnh nhỏ. Chất trữ tình của ông nằm ở độ ngân, không nằm ở tuyên bố. Những câu văn như “Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly 𝘭𝘢̀𝘮 𝘴𝘢𝘰 𝘦𝘮 𝘣𝘪𝘦̂́𝘵 đ𝘰̛̀𝘪 𝘴𝘰̂́𝘯𝘨 𝘣𝘶𝘰̂̀𝘯 𝘵𝘦̂𝘯𝘩… 𝘯𝘨𝘢̀𝘺 𝘵𝘩𝘢́𝘯𝘨 𝘯𝘢̀𝘰 đ𝘢̃ 𝘳𝘢 đ𝘪 𝘬𝘩𝘪 𝘵𝘢 𝘤𝘰̀𝘯 𝘯𝘨𝘰̂̀𝘪 𝘭𝘢̣𝘪, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều…” hay “Tiếng trumpet của Al Hirt “Theme from a Dream” vọng lại một trưa tháng 5, mơ màng như một giấc mơ đang tan” cho thấy kỹ thuật mở trường bằng khí hậu hơn là bằng lập luận. Ông thường dùng chuỗi hình ảnh nối tiếp để tạo một chuyển động nhớ không cần trung tâm cố định: “Như một luồng gió thổi qua, hồi tưởng ngất ngây rồi bay mất. Chớp nhoáng như một ánh mắt, như vệt nắng đậu hờ bờ tóc đã không còn. Như tiếng guốc cuối hành lang và hương tóc ngậm hờn gió biển.” Câu văn vì vậy giống một dòng khói hơn là một đường thẳng: nó đi bằng âm, bằng bóng, bằng dư vị, bằng những mảnh hiện ra rồi khuất. Kỹ thuật chính của ông là để con chữ không đứng riêng như khái niệm mà tan vào khí sắc của cảnh, làm cho cảnh có nhạc, cho nhạc có hình, cho hình có ký ức, và cho ký ức chạm tới mộng.


Trong “Theme from a Dream,” tiếng kèn là một ĐÂY rất rõ. Nó là một biến cố nghe. Vì bản nhạc không lời, nó không buộc ký ức đi vào một câu chuyện cố định. Nó chỉ mở ra một vùng khí hậu. Vũ Hoàng Thư viết: “Bản nhạc không lời nên không có câu chuyện kể. Chỉ âm nhạc dập dồn luống nhớ.” Câu này có thể làm trục cho phần đọc về âm thanh. Tiếng kèn không kể, nhưng nó gọi. Nó không xác định, nhưng nó làm những mảnh đời tưởng đã lặng bắt đầu trôi lại. Ông hỏi: “Cái gì đọng lại sau một cơn mơ nhỉ? Một chốn cũ, một thời đã qua?” Ở đây, mộng không phải sự phủ định của thực tại. Mộng là cách cái đã qua còn chạm vào hiện tại khi nó không thể trở về như một sự kiện đầy đủ. Những mảnh ảnh tượng trong câu văn — “vệt nắng đậu hờ bờ tóc đã không còn,” “tiếng guốc cuối hành lang,” “hương tóc ngậm hờn gió biển” — không cần nhập vào một cốt truyện. Chúng hiện ra như những ký tự rời của một đời sống đã mất, và chính sự rời ấy làm chúng có sức.

Từ đó có thể đọc mộng trong Vũ Hoàng Thư như vùng trung gian giữa cái thấy và ý niệm. Mộng không hoàn toàn là ảo giác, cũng không phải sự thật theo nghĩa sự kiện. Mộng là phần kinh nghiệm còn rung khi cái đã mất chưa chịu biến mất hẳn. Khi ông nhắc Trang Tử, Hoàng Chân Y, Phạm Thiên Thư, hay những đêm đối ẩm với Lê Lạc Giao, ông không nối các tên tuổi ấy bằng hệ thống học thuật. Ông nối bằng cùng một trường cảm: con người sống trong những dòng trôi, những gặp gỡ không trọn, những nhớ nhung chỉ có thể thành hình trong mộng. Vũ Hoàng Thư kể lại lời người bạn Lê Lạc Giao: “Chúng ta, cõi người, anh nói, “là những dạt trôi tìm một bến bờ vô định”.” Câu ấy làm rõ một trục ngầm của văn ông: đời sống không đứng yên như vật thể để được định nghĩa, mà dạt qua những bờ tạm, nơi âm thanh, bóng người, rượu, đêm, và ký ức cùng nhau mở ra một cõi không chắc bờ.

Bài viết về Đạo Nguyên đưa chuyển động ấy vào một cảnh giới lặng hơn. Ở đây, Vũ Hoàng Thư phỏng dịch bài waka của Đạo Nguyên bằng ít chữ: “Sóng yên / gió lặng. / Thuyền trôi. / Giữa đêm, / Ngập ánh trăng ngời đầy khoang.” Cái thấy ở đây gần với X là X nhất. Sóng là sóng, gió là gió, thuyền là thuyền, trăng là trăng. Trong cái thấy chỉ là cái thấy, và cái thấy này do duyên xúc chạm mà thành: đêm, nước, gió lặng, thuyền trôi, ánh trăng đầy khoang. Khi Vũ Hoàng Thư viết “Bài hòa ca không giảng giải một giáo lý nào, chỉ dẫn đến một khung cảnh thật êm đềm, một chiếc thuyền thả trôi, sóng gió yên, và trăng,” ông đã chạm đúng chỗ trọng yếu của bài waka: cảnh không cần nói thay cho giáo lý; cảnh tự mở ra một thế đứng. Cái lặng của bài không nằm ở việc không có ý nghĩa, mà ở chỗ ý nghĩa chưa tách khỏi cảnh để đứng thành một mệnh đề riêng.

Như vậy, đọc Vũ Hoàng Thư từ điều mình biết về tiếp xúc, chữ gọi và mộng không phải là đem một khung ngoài áp lên ông. Đó là cách nhìn vào chính chuyển động đã có trong văn ông: ảnh tượng hiện ra, con chữ đặt xuống, ký ức mở ra, phần vắng có đường viền, rồi mộng giữ lại những gì không thể trở về nguyên vẹn. Trong đoạn viết về ve và sương, Vũ Hoàng Thư viết: “Trong một thế giới mong manh, ve hát về sương là điệp trùng của ngắn ngủi trở thành thiên thu.” Câu ấy cho thấy ông không tìm sự vĩnh cửu ngoài khoảnh khắc. Ông tìm nó ngay trong cái mong manh được nghe đủ sâu. Vì vậy, khi đọc ông, điều cần giữ là thứ tự của tiếp xúc: trước hết là cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, trăng; sau đó mới là ký ức, mộng, vô thường, đạo, hay thân phận. Chính thứ tự ấy làm văn ông có độ lắng.

Vũ Hoàng Thư có thể được đọc như người viết của những ngưỡng chuyển: từ thấy sang nhớ, từ nhớ sang mộng, từ mộng sang chữ, từ chữ trở lại cảnh. Ông không dựng một hệ thống tư tưởng theo nghĩa chặt. Ông đi bằng những hình ảnh được chạm vào đủ lâu để chúng tự gọi phần vắng của mình. Cỏ hạ gọi chiến binh đã khuất. Xác ve gọi tiếng hát đã tan. Tiếng kèn gọi một đời sống đã xa. Trăng gọi sự lặng im của thuyền, sóng, gió và người nhìn. Trong cách đọc này, ĐÂY LÀ X không đóng văn ông vào công thức; nó chỉ giúp ta nhận ra một điều giản dị: văn Vũ Hoàng Thư bắt đầu từ xúc chạm, đi qua con chữ, và giữ lại trong mộng phần đời sống không còn có thể nắm bằng tay.



Tháng 11 năm 1990, từ miền Đông Hoa Kỳ về Nam California nắng ấm, anh chị Thái Tú Hạp - Ái Cầm ghé thăm và tặng mấy món quà, trong đó có tập thơ Miền Yêu Dấu Phương Đông. Anh chia sẻ, bây giờ xa cố hương, nơi chốn mịt mù… khi nào nhớ thì đọc. Vài tuần sau tôi viết cảm nghĩ về tập thơ nầy: Thái Tú Hạp & Miền Yêu Dấu Phương Đông cho tờ Saigon Times của anh.
Đó là lời bộc bạch chân thật của một người Phật tử tại gia đối trước Bồ Tát Quán Thế Âm. Trong đoạn thơ trên, chúng ta thấy thi sĩ Tâm Tấn trong cõi sâu xa của tâm thức dường như không thể quên ước nguyện từ vô lượng kiếp muốn đáp chuyến đò từ bờ bên này sinh tử luân hồi sang bên kia bờ giải thoát niết bàn
Tác phẩm Vòng Xoáy Cuộc Đời, tuyển tập văn và cũng là những lời tâm sự của Thầy Thích Nhuận Hùng, vừa hoàn tất xong và chuẩn bị phát hành. Nói “tâm sự” là nói ra những lời từ trái tim. Tôi biết Thầy Thích Nhuận Hùng nhiều năm, Thầy đơn sơ và chất phác y hệt như những gì Thầy viết ra. Không phải như một nhà văn (Thầy không có ý trở thành một nhà văn), Thầy chỉ viết lên những gì Thầy nhìn thấy, nghe được, cảm thọ, nhận biết và suy nghĩ về những gì chung quanh Thầy.
Chất thơ trong các Lá Thư Tòa Soạn bàng bạc trong từng dòng chữ. Văn xuôi nhưng là thơ, là tiếng nói thiết tha của Vĩnh Hảo, một nhà văn cư sĩ đang mang chánh pháp vào đời. Chất thơ thường hiện rõ trong những đoạn văn đầu trong Lá Thư Tòa Soạn. Vĩnh Hảo viết thư theo kỹ thuật “Tiên tả cảnh, hậu thuyết kinh” --- nơi đó, vào đề bằng những chuyện lá mùa thu rơi với hoa mùa xuân tàn, rồi nói chuyện vô thường, vô ngã;
Tất cả các bài thơ trong tập “Đêm Vang Hình Tiếng Chuông” đều trình bày tương tự và có khi biến thể nhiều câu hơn, nhưng cũng ngắt dòng như thế.
Thomas Piketty, nhà kinh tế học Pháp, vừa cho ra mắt tác phẩm “Capital and Ideology” (Tư bản và Ý thức hệ). Qua tác phẩm mới nhất này, Piketty báo động về tình trạng bất bình đẳng tài sản trong toàn cầu hiện nay và đề ra việc cải cách về thuế tài sản, thu nhập và hợp tác quốc tế là một đối sách. Trên cơ sở tái tạo công bình xã hội, Piketty hy vọng, chủ nghĩa xã hội sẽ mang lại ý nghĩa đóng góp tích cực hơn cho việc xây dựng tương lai.
Tình thân không giúp chúng ta có thể hiểu hết mọi chuyện về nhau. Đặc biệt là khi khảo sát về các lộ trình tâm có thể dẫn tới những dòng thơ. Có phải thơ là thuần cảm hứng từ những kiếp xưa rơi xuống, hay là từ một chuỗi lý luận phức tạp? Khế Iêm là một trong vài nhà thơ, theo tôi nhận thấy, có lộ trình tâm rất mực phức tạp, đầy những dây nhợ rắc rối y hệt như các dàn phóng phi thuyền vũ trụ của NASA. Nhưng hôm nay, bài này sẽ chọn một phương diện khác của Khế Iêm để suy nghĩ, tập truyện “Lời Của Quá Khứ” (LCQK), một ấn phẩm năm 2020, phiên bản mới của nhà xuất bản Văn Mới 1996. Giao tình của tôi với Khế Iêm có lẽ cũng đã gần 3 thập niên, ban đầu là qua nhà văn Mai Thảo. Là những người mê chữ gặp nhau, nhưng mỗi người là một thế giới riêng. Ngay cả nhiêu năm trước, những khi ngồi với Khế Iêm nơi quán cà phê góc đường Westminster/Euclid ở Santa Ana, niềm vui của tôi là được nghe kể chuyện sách vở, thơ ca… Tôi không phải là học giả nên không ưa suy luận, bản thân chỉ là một nhà
Đây là cuốn sách viết bằng song ngữ Anh-Việt của cư sĩ Nguyên Giác. Sách dày 319 trang vừa được Ananda Viet Foundation (Nam California) xuất bản. Cư sĩ Nguyên Giác tu học với một số thiền sư tiền bối nổi tiếng trước 1975 như Thích Tịch Chiếu, Thích Thường Chiếu, Thích Thiền Tâm và Thích Tài Quang. Cư sĩ Nguyên Giác say mê Thiền, nghiên cứu về Thiền, viết về Thiền và sống chết với Thiền. Ông đã xuất bản tám cuốn sách về Thiền. Nay ở tuổi 68, ông viết cuốn này vì sợ rồi đây sức khỏe suy yếu, không còn khả năng viết nữa. Tuy nhiên ước mơ lớn vẫn là để cho các nhà nghiên cứu ngoại quốc muốn tìm hiểu về Phật Giáo Việt Nam, nhất là Thiền, có tài liệu tham khảo vì hiện nay Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ biến khắp thế giới.
Từ lúc nhận sách đem về nhà, trong đầu tôi dường như có cái gì đó còn vướng vướng. Cầm cuốn sách, lật qua lật lại, lật tới lật lui. Vẫn chưa mở sách ra để đọc. Bổng nhiên mắt tôi dừng lại ở cái tựa đề sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” À, thì ra chính cái tựa đề này làm cho mình bị khựng lại. Rồi tôi thắc mắc về tựa đề cuốn sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” Định mệnh là định mệnh gì? Định mệnh của ai, của dịch giả họ Trịnh hay của tác giả bài văn tuyển dịch, hay của tất cả mọi người? Tôi có nằm trong cái định mệnh đó? Có cái gì đó tương quan tương duyên giữa “định mệnh” trong cuốn sách ngày xưa với “định mệnh” bất ổn của xã hội ngày nay? Chính những thắc mắc đó đã xô đẩy tôi bước vào cuốn sách và đi tìm câu trả lời. Tìm trong mục lục, tôi thấy có bài “Gặp Gỡ Với Định Mệnh” của nhà văn người Mỹ Philip Roth. Tôi vội vàng lật qua trang 47. Và tôi bắt đầu đọc một mạch không ngừng cho đến hết. Dịch giả Trịnh Y Thư rất tử tế, anh đã giới thiệu một cách trang trọng tác giả
“Chúng ta đến xứ sở này xa lạ / ra đi chưa hết lạ / nhưng không bao giờ thôi yêu mến / mặt hồ đại dương / căn nhà chở che hạnh phúc / lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do. / Đây là nơi chúng ta hàn gắn mình / Như thợ giày khâu vết thương há miệng / Sau đường dài ngập máu / sau đường dài ngập phân / sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh / một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn. / Đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng / và chết vào buổi chiều có cánh / bay về một xứ sở đã xa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.