Hôm nay,  

Kim Vũ ra tập thơ mới tiếng Anh với câu hỏi triết lý “REALLY?”

05/07/202608:05:00(Xem: 998)
blankPHOTO: Từ trái: nhà báo Phan Tấn Hải cầm tập thơ "REALLY?" của nhà thơ Kim Vu (phải).

Kim Vũ ra tập thơ mới tiếng Anh
với câu hỏi triết lý “REALLY?”
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân.

Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp. Kim Vũ đã từng xuất bản 8 tác phẩm Việt và Anh, ấn hành thơ song ngữ, đã thực hiện 2 tập thơ dịch từ các nhà thơ nổi tiếng sang tiếng Anh, trong đó ông đã dịch thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thiên Thư… và mới tuần này, Kim Vũ phát hành tập thơ triết lý tiếng Anh, tựa đề “REALLY?” do nhà xuất bản ARCHWAY ấn hành. Dĩ nhiên, trong tình thân, nhà văn Kim Vũ có giải thích, trực tiếp trong một quán cà phê và sau đó là qua email... về “REALLY?” và…
 

“REALLY?” là tập thơ thứ hai bằng Anh ngữ của Kim Vũ xuất bản trong năm nay. Mở đầu là “REVELATION”, do nhà xuất bản PEGASUS bên Anh trình làng vào tháng 2 năm 2026, gồm nhiều bài thơ về nhiều đề tài, từ dục tính tới những suy ngẫm triết học, cũng như một bút ký du lịch khá dài lấy cảm hứng và được sáng tác sau một chuyến du lịch Âu châu vào năm 1996.

“REALLY?” cũng theo một loại hình tương tự, do. nhà xuất bản ARCHWAY tại Hoa Kỳ ra mắt vào đầu tháng 6 năm 2026. Phần giới thiệu của nhà xuất bản Archway in phía sau cuốn sách viết bằng tiếng Anh nơi đây chúng ta dịch là:
"Thị tập “REALLY?” đề cập đến những câu hỏi triết học cốt lõi về thái độ sống, giúp bạn thấy rằng sự mãn nguyện và hạnh phúc không hề nằm ngoài tầm với. Tác phẩm tôn vinh tình yêu và thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật mối liên kết giữa chúng. Cuốn sách cũng mang đến cái nhìn hài hước về tuổi già và khắc họa một mối quan hệ tưởng chừng bất khả thi nhưng lại khiến bạn mỉm cười.)

“REALLY?” gồm 37 bài thơ trong vỏn vẹn 54 trang giấy, với những bài không quá bốn câu, như bài thơ sau:

IS IT?
Is it the end of philosophy
Now that science has advanced so much?
Are you kidding me?
You haven’t seen anything yet!
 
(Chúng ta nơi đây có thể dịch là:
 
CÓ PHẢI?
Có phải triết học đã đến hồi kết
Giờ đây khi khoa học đã tiến bộ vượt bậc?
Bạn đang giỡn à?
Bạn vẫn chưa thấy gì đâu!)

Lại có bài dài đến 75 dòng trải dài bốn trang giấy có tên “THE DAY I MARRY YOU” (Ngày tôi cưới em).
Một bài khác cũng chỉ có bốn dòng mang tên “THE NON-DUAL DHARMA GATE” (Cửa pháp Bất nhị) như sau:
 

You speak.
I listen.
Transient images come and go in complete silence.
Past, present, and future are not different, nor separated.
 
(Chúng ta có thể dịch là:


Em nói.
Tôi nghe.
Các hình ảnh thoáng qua đến và đi trong im lặng hoàn toàn.
Quá khứ, hiện tại và tương lai không khác biệt, không rời nhau.)
 

Về hình thức, tập thơ áp dụng một thể thơ hoàn toàn mới trong Anh ngữ, áp dụng triệt để nguyên tắc “ying-yang” (bằng-trắc) phổ biến trong thi ca Việt Nam và Trung Hoa, hai ngôn ngữ đơn âm độc nhất trên thế giới. Những bài thơ cũng theo quy định về vần ở cuối câu cũng như ở giữa câu, làm cho những bài thơ đọc lên dễ nghe và hấp dẫn.

Trong năm nay, Kim Vũ cũng dự tính xuất bản một tác phẩm văn xuôi bằng Anh ngữ phiên dịch bốn truyện ngắn tiếng Việt của bốn tác giả đương đại cũng như trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà của miền Nam nước Việt vào những năm ’50s của thế kỷ trước: Mai Thảo, Tràm Cà Mâu, Phạm Tín An Ninh và Thanh Thương Hoàng, có nhan đề sách là “THE WOMAN ON NITELVA BRIDGE” (NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN CẦU NITELVA).

Trong tương lai, Kim Vũ dự tính viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử, dàn trải từ tác phẩm “THE REPUBLIC” của Plato cho đến những hậu quả mà nhân loại phải hứng chịu ngày hôm nay.

Tác giả Kim Vu còn được các bạn đồng môn Chu Văn An thời cuối thập niên 1950s biết với tên khai sanh là Vũ Mạnh Phát, sanh quán ở Hà Nội, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Như thế, sau các năm học trung học Chu Văn An (Sài Gòn), cậu học sinh Vũ Mạnh Phát được học bổng USAID sang Hoa Kỳ học ngành kiến trúc từ các năm 1959-1964. Sau khi tốt nghiệp kiến trúc tại đại học Catholic University of America (tại thủ đô Washington, DC) năm 1964, Vũ Mạnh Phát về nước làm việc trong ngành Kiến trúc và thiết kế Đô Thị. Năm 1973, ông được một học bổng nghiên cứu chuyên ngành phát triển đô thị tại viện nghiên cứu Institute of Social Studies in The Hague (Hòa Lan). Năm 1974, về nước. Trong khi làm việc chuyên ngành kiến trúc và thiết kế đô thị, thời gian trước 1975, ông đã tham dự các Hội nghị quốc tế tại Thái Lan, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản v.v...

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1991 theo diện thân nhân bảo lãnh, ông làm việc trong cương vị thông ngôn về y khoa tại bệnh viện Stanford Hospital and Clinics, cho tới năm 2016. Sau khi về hưu, ông dọn từ Bắc California về Quận Cam, Nam California – thời gian toàn thời để đọc, viết, làm thơ, dịch, nghiên cứu…

Kim Vu đã chứng tỏ được tài năng trên nhiều lĩnh vực sáng tác. Năm 2004, nhà phê bình văn học Diệu Tần Nguyễn Tinh Vệ khi nhận xét về Kim Vũ qua tập truyện ngắn Hạnh Ngộ Mong Manh như sau: "Qua tập truyện này, tôi hiểu là ông một người biết thẩm âm lời ca điệu nhạc rất sành sõi. Độc giả cũng còn có thể gán cho ông có tài hội họa và điêu khắc nữa. Ngoài ra ông có nhiều dịp xuất ngoại học hỏi, tu nghiệp quan sát ở vài nước Âu Châu và nhiều nước Á Châu, nên ông có một vốn liếng, kinh nghiệm, lịch lãm để sáng tác và biên khảo, dịch thuật vững vàng."

Độc giả quan tâm, có thể liên lạc trực tiếp tới nhà thơ Kim Vũ: [email protected] .



Thomas Piketty, nhà kinh tế học Pháp, vừa cho ra mắt tác phẩm “Capital and Ideology” (Tư bản và Ý thức hệ). Qua tác phẩm mới nhất này, Piketty báo động về tình trạng bất bình đẳng tài sản trong toàn cầu hiện nay và đề ra việc cải cách về thuế tài sản, thu nhập và hợp tác quốc tế là một đối sách. Trên cơ sở tái tạo công bình xã hội, Piketty hy vọng, chủ nghĩa xã hội sẽ mang lại ý nghĩa đóng góp tích cực hơn cho việc xây dựng tương lai.
Tình thân không giúp chúng ta có thể hiểu hết mọi chuyện về nhau. Đặc biệt là khi khảo sát về các lộ trình tâm có thể dẫn tới những dòng thơ. Có phải thơ là thuần cảm hứng từ những kiếp xưa rơi xuống, hay là từ một chuỗi lý luận phức tạp? Khế Iêm là một trong vài nhà thơ, theo tôi nhận thấy, có lộ trình tâm rất mực phức tạp, đầy những dây nhợ rắc rối y hệt như các dàn phóng phi thuyền vũ trụ của NASA. Nhưng hôm nay, bài này sẽ chọn một phương diện khác của Khế Iêm để suy nghĩ, tập truyện “Lời Của Quá Khứ” (LCQK), một ấn phẩm năm 2020, phiên bản mới của nhà xuất bản Văn Mới 1996. Giao tình của tôi với Khế Iêm có lẽ cũng đã gần 3 thập niên, ban đầu là qua nhà văn Mai Thảo. Là những người mê chữ gặp nhau, nhưng mỗi người là một thế giới riêng. Ngay cả nhiêu năm trước, những khi ngồi với Khế Iêm nơi quán cà phê góc đường Westminster/Euclid ở Santa Ana, niềm vui của tôi là được nghe kể chuyện sách vở, thơ ca… Tôi không phải là học giả nên không ưa suy luận, bản thân chỉ là một nhà
Đây là cuốn sách viết bằng song ngữ Anh-Việt của cư sĩ Nguyên Giác. Sách dày 319 trang vừa được Ananda Viet Foundation (Nam California) xuất bản. Cư sĩ Nguyên Giác tu học với một số thiền sư tiền bối nổi tiếng trước 1975 như Thích Tịch Chiếu, Thích Thường Chiếu, Thích Thiền Tâm và Thích Tài Quang. Cư sĩ Nguyên Giác say mê Thiền, nghiên cứu về Thiền, viết về Thiền và sống chết với Thiền. Ông đã xuất bản tám cuốn sách về Thiền. Nay ở tuổi 68, ông viết cuốn này vì sợ rồi đây sức khỏe suy yếu, không còn khả năng viết nữa. Tuy nhiên ước mơ lớn vẫn là để cho các nhà nghiên cứu ngoại quốc muốn tìm hiểu về Phật Giáo Việt Nam, nhất là Thiền, có tài liệu tham khảo vì hiện nay Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ biến khắp thế giới.
Từ lúc nhận sách đem về nhà, trong đầu tôi dường như có cái gì đó còn vướng vướng. Cầm cuốn sách, lật qua lật lại, lật tới lật lui. Vẫn chưa mở sách ra để đọc. Bổng nhiên mắt tôi dừng lại ở cái tựa đề sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” À, thì ra chính cái tựa đề này làm cho mình bị khựng lại. Rồi tôi thắc mắc về tựa đề cuốn sách “Gặp Gỡ Với Định Mệnh.” Định mệnh là định mệnh gì? Định mệnh của ai, của dịch giả họ Trịnh hay của tác giả bài văn tuyển dịch, hay của tất cả mọi người? Tôi có nằm trong cái định mệnh đó? Có cái gì đó tương quan tương duyên giữa “định mệnh” trong cuốn sách ngày xưa với “định mệnh” bất ổn của xã hội ngày nay? Chính những thắc mắc đó đã xô đẩy tôi bước vào cuốn sách và đi tìm câu trả lời. Tìm trong mục lục, tôi thấy có bài “Gặp Gỡ Với Định Mệnh” của nhà văn người Mỹ Philip Roth. Tôi vội vàng lật qua trang 47. Và tôi bắt đầu đọc một mạch không ngừng cho đến hết. Dịch giả Trịnh Y Thư rất tử tế, anh đã giới thiệu một cách trang trọng tác giả
“Chúng ta đến xứ sở này xa lạ / ra đi chưa hết lạ / nhưng không bao giờ thôi yêu mến / mặt hồ đại dương / căn nhà chở che hạnh phúc / lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do. / Đây là nơi chúng ta hàn gắn mình / Như thợ giày khâu vết thương há miệng / Sau đường dài ngập máu / sau đường dài ngập phân / sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh / một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn. / Đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng / và chết vào buổi chiều có cánh / bay về một xứ sở đã xa.
Qua cuốn sách này, Kissinger tổng kết những trải nghiệm phong phú qua hơn sáu thập kỷ trong chính trường thế giới. Là một người theo trường phái Hiện thực cực đoan (Hard-core Realist) trong lý thuyết Bang giao Quốc tế, ông đã phân tích theo khảo hướng lịch sử một cách xuất sắc về hệ thống chính trị châu Âu, các nước theo Hồi giáo, Trung Quốc và Mỹ, nhưng không đề cập đến sự phát triển tại châu Mỹ La tinh. Ông kết luận rằng có một hình thái mới trong quan hệ các siêu cường, nó dựa trên hệ thống theo Hoà ước Westphalen, sự cân bằng quyền lực trên toàn cầu và các nguyên tắc không can thiệp, tất cả sẽ là một mệnh lệnh chung cho việc xây dựng trật tự thế giới ngày nay. Tuy nhiên, nhìn chung, Kissinger không thể cung cấp các giải pháp khả thi hay bước đầu hữu ích. Có nhiều lý do để phản luận Kissinger mà bài điểm sách sau đây sẽ đề cập.
Ba mươi tháng Tư năm 1975 là dấu thời gian của những đổi đời, của vinh quang cùng đau khổ. Nhiều câu chuyện đã được kể lại, nhiều hồi ức đã viết về đất nước với chiến tranh quốc cộng và hệ lụy kéo dài. “Cha Vô Danh” [Nxb. L’Harmattan, France 2019, 532 trang] của Phạm Ngọc Lân ghi lại biết bao đổi thay, thăng trầm của đất nước, nhưng có những nét riêng vì trải dài gần ba phần tư thế kỷ từ đầu thập niên 1940 cho đến năm 2015 và qua những nơi ít được nhắc đến như Ba Bình, Lạng Sơn, Bảo Lộc, Vincennes, Toulon, Fréjus, Nouméa.
Chogyam Trungpa Rinpoche (1939-1987) là một trong những đạo sư Tây Tạng đầu tiên mang Phật Pháp đến phương Tây. Năm 1963 được học bổng để du học tại Đại Học Oxford. Năm 1967 sau khi tốt nghiệp Ngài thành lập Trung Tâm Thiền Samaye-Ling tại Scotland với phương pháp thiền áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Cuộc đời của Nữ Thiền sư Dipa Ma đã được tác giả Amy Schmidt đem vào tác phẩm “Knee Deep in Grace, The extraordinary Life and Teaching of Dipa Ma”. Sau đó, Tác phẩm nầy được bổ túc thêm để trở thành tác phẩm mang tên “Dipa Ma, The Life and Legacy of a Buddhist Master”. Dipa Ma (1911- 1989) ra đời tại Chittagong, một làng nhỏ nằm về phía Đông xứ Bengal (ngày nay là Bengladesh). Lúc dó Bà mang tên là Nani Bala Barua chớ chưa phải là Dipa Ma.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.