Hôm nay,  

Câu Chuyện Đằng Sau “Ode To Joy” Của Beethoven

5/15/202600:00:00(View: 208)
 beethoven
 
Ludwig van Beethoven không bước vào “Ode to Joy” bằng niềm vui. Ông bước vào đó bằng bệnh tật, cô độc, chiến tranh, nghèo túng, và bằng thứ im lặng khủng khiếp nhất đối với một nhạc sĩ: tiếng đời tắt dần trong tai mình.

Khi còn trẻ, Beethoven đã mê bài thơ “Ode to Joy” của Friedrich Schiller. Đó không chỉ là một bài thơ ca tụng niềm vui, thực chất là một bài ca về tự do: một bản tuyên ngôn bốc lửa cho lý tưởng: nếu tự do, công lý và hạnh phúc con người được đặt vào trung tâm của đời sống, được xem như đối tượng tận hiến cao nhất – trong chính trị cũng như trong mỗi phận người – thì hòa bình và nhân hậu sẽ đến như hệ quả tất yếu, như “một cái hôn dành cho cả thế giới,” Schiller viết, và cậu thiếu niên Beethoven đã nghe trong câu thơ ấy một lời gọi. Ông giữ nó trong lòng gần ba mươi năm.

Ba mươi năm ấy không yên ổn. Cách mạng Pháp đổ máu. Chiến tranh Napoleon giày xéo Âu châu. Vienna, nơi Beethoven sống và sáng tác, bị quân Pháp chiếm đóng. Thành phố của âm nhạc vang tiếng trống trận, tiếng đại bác, tiếng người đói khổ. Còn trong đời riêng, Beethoven cũng bị xô qua hết nạn này đến nạn khác. Tình yêu không thành. Gia đình rạn vỡ. Em mất. Ông vướng vào cuộc tranh chấp quyền nuôi cháu kéo dài. Thân thể suy kiệt. Thính giác gần như mất hẳn.

Một người viết nhạc mà không còn nghe được đời. Nhưng cuộc đời vẫn không ngừng nghe ông.

Năm 1822, Beethoven ra khỏi nhà đi bộ. Với ông, đi bộ là cách nghĩ. Những ý tưởng thường đến trên đường, giữa nhịp chân và nhịp trí tưởng. Hôm ấy, trong đầu ông đang xoáy lên hình hài của một tác phẩm lớn. Ông đi mãi, qua khỏi thành phố, quên giờ giấc, quên đói, quên mệt, quên cả chính mình.

Đến chiều, cảnh sát bắt gặp một người đàn ông áo quần xộc xệch, không giấy tờ, lang thang ngoài vùng quê. Họ bắt ông vì tưởng là kẻ khả nghi. Khi ông nói mình là Beethoven, họ cười. Một thiên tài đã có tám bản giao hưởng, nhiều sonata, concerto, và danh tiếng khắp Âu châu, bỗng bị nhốt như một gã vô gia cư.

Gần nửa đêm, một viên chức âm nhạc địa phương được gọi đến. Ông nhận ra Beethoven ngay. Những lời xin lỗi vội vã được đưa ra. Sáng hôm sau, thị trưởng đích thân đưa Beethoven về Vienna bằng xe ngựa.

Người bị bắt lầm ấy đang mang trong đầu phần kết cho Bản Giao Hưởng Số 9.

“Ode to Joy” sẽ trở thành đoạn hợp xướng cuối cùng của bản giao hưởng ấy. Quyết định này táo bạo đến mức gần như ngang ngược. Trước Beethoven, giao hưởng là lãnh địa của nhạc cụ. Không ai đem lời thơ và tiếng hát con người đặt vào đó theo cách ấy. Nhưng Beethoven không cần lặp lại điều đã có. Ông cần một hình thức đủ lớn để chứa khát vọng đã theo ông từ tuổi trẻ: làm sao biến đau khổ thành ánh sáng, biến hỗn loạn thành trật tự, biến một bài thơ về tình huynh đệ thành tiếng gọi của cả nhân loại.

Ông làm việc trong thiếu thốn, tìm từng khoản tiền nhỏ để sống trong lúc viết. Hơn một năm, Beethoven vật lộn với cấu trúc, giọng hát, dàn nhạc, và cách đưa lời thơ vào phần cuối. Tin đồn lan khắp Vienna rằng ông đang viết một tác phẩm khác thường. Lúc đầu, Beethoven định cho trình diễn tại Berlin. Vienna nổi giận. Những người ái mộ ông viết thư nài nỉ, nhắc rằng chính thành phố này đã nuôi lớn thiên tài của ông bên cạnh bóng dáng Mozart và Haydn.

Beethoven đổi ý. Buổi ra mắt được định vào ngày 7 tháng 5 năm 1824 tại Vienna.

Ông chọn bốn ca sĩ độc xướng, dựng một dàn nhạc lớn vượt lệ thường, rồi đưa ra điều khiến mọi người lạnh gáy: ông muốn tự mình chỉ huy. Ai cũng biết ông gần như điếc hẳn. Nhà hát đành chiều, nhưng đặt một nhạc trưởng khác đứng cạnh ông. Dàn nhạc và ca đoàn được dặn phải theo người nhạc trưởng ấy, không theo tay Beethoven.


Hai buổi tập trước ngày diễn đầy trắc trở. Ca sĩ than không thể hát nổi. Một người bỏ cuộc. Người khác phải thay vào. Beethoven bị gọi là kẻ bạo ngược với cổ họng con người. Nhưng tác phẩm đã đi đến cửa. Không ai còn có thể chận nó lại.

Chiều 7 tháng 5, khán giả Vienna kéo đến chật phòng hòa nhạc. Beethoven bước ra, quay lưng về phía người nghe, giơ tay lên. Ông chỉ huy một thứ âm nhạc mà chính ông không còn nghe bằng tai. Nhưng ông nghe nó bằng trí nhớ, bằng xương tủy, bằng cả một đời bị dồn vào câm lặng.

Khi âm nhạc cất lên, những va vấp của buổi diễn không còn quan trọng. Bản giao hưởng đi qua bóng tối, giận dữ, tranh chấp, rồi mở ra một vùng sáng rộng lớn ở phần cuối. “Ode to Joy” không phải tiếng cười niềm vui dễ dãi của người chưa biết khổ. Đó là niềm hoan hỷ của người đã đi qua đổ nát mà vẫn không chịu giao linh hồn mình cho tuyệt vọng.

Hợp âm cuối vừa dứt, khán phòng bùng nổ. Người ta đứng dậy, vỗ tay, vẫy khăn, gọi tên Beethoven. Nhưng ông vẫn quay lưng về phía họ, tay còn đưa theo nhịp muộn của âm nhạc đang vang trong đầu. Ông không nghe thấy tiếng hoan hô.

Karoline Unger, nữ ca sĩ hát trong buổi ấy, bước đến, cầm tay ông, nhẹ nhàng xoay ông lại.

Trước mặt Beethoven là cả khối người bùng nổ không chỉ một, không chỉ hai, không chỉ ba, mà bốn đợt vỗ tay như núi lửa, cho đến khi viên Cảnh sát trưởng hét lên “Im lặng!” trên đợt thứ năm. Rốt cuộc, đó vẫn là thời cách mạng, và nghệ thuật nào khơi dậy trong linh hồn con người một phản ứng dữ dội đến thế — dù phản ứng ấy là niềm hoan lạc tột cùng — cũng là nghệ thuật nguy hiểm. Ở đây, trong thông điệp không thể đánh bại của “Ode to Joy,” vang lên lời kèn gọi nhân loại vứt bỏ mọi thần tượng giả đã nuôi dưỡng một thế kỷ chiến tranh không dứt và hàng ngàn năm bất bình đẳng — những chia rẽ quốc gia và đẳng cấp, những áp bức của giáo điều và truyền thống — để cùng đứng lại với nhau trong lòng cảm thông và tình liên đới phổ quát.

Từ đêm ấy, “Ode to Joy” không còn thuộc riêng về Beethoven hay Schiller. Nó đi vào trí nhớ nhân loại như một khúc ca của tự do và phẩm giá. Người ta hát nó trong những cuộc xuống đường chống độc tài. Người biểu tình Chile hát nó khi họ lật đổ chế độ độc tài Pinochet. Các nhạc sĩ Nhật trình diễn nó sau trận động đất và sóng thần Tōhoku. Sinh viên Trung Quốc mở nó vang lên tại Thiên An Môn. Leonard Bernstein, vị thánh bảo trợ của âm nhạc như một khí cụ nhân bản, chỉ huy một nhóm nhạc sĩ từng sống ở cả hai phía Bức Tường Berlin trong buổi hòa nhạc ngày Giáng Sinh sau khi bức tường sụp đổ. Nhà soạn nhạc Ukraine Victoria Poleva hình dung lại nó cho một buổi hòa nhạc quốc tế kỷ niệm năm mươi năm. Ode to Joy vẫn luôn vang lên trong những giờ phút con người cần tự nhắc rằng bạo lực không phải tiếng nói cuối cùng của lịch sử.

Trong “Ode to Joy,” niềm vui không phải là sự vắng mặt của đau khổ. Nó là phần còn lại sau khi đau khổ đã đi qua mà không giết được lòng người. Nó là tiếng hát của một kẻ gần như điếc, gửi cho một thế giới nhiều khi cũng giả điếc trước nỗi đau của chính mình.

Hai thế kỷ sau, khúc nhạc ấy vẫn còn vang. Không phải vì thế giới đã tốt đẹp hơn. Mà vì nhân loại vẫn cần những cuộc vượt thoát. Và giấc mơ Schiller - khao khát hôn cả thế giới bằng khả thể - vẫn hiện diện như những đêm xuân, ngay cả khi nhân loại còn trong cơn ác mộng.

Nguyên Hòa biên tập
Nguồn: Maria Popova, “Trial, Triumph, and the Art of the Possible: The Remarkable Story Behind Beethoven’s ‘Ode to Joy.’”
 

Vào khoảng năm 1985, nhóm ca viên cũ của Ca Đoàn Trùng Dương được dịp họp mặt lần đầu tiên trên đất Mỹ với hai cựu ca trưởng của Trùng Dương là nhạc sĩ Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Trần Chúc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa hôm đó đã cho mọi người nghe cassette tape nhạc giao hưởng trình bày trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương với 4 giọng tứ ca, rồi nói “nếu chúng ta có một ban đại hợp xướng thì sẽ khác hơn nhiều.
Một chương trình ca nhạc đánh dấu 30 năm ngày thành lập ban hợp xướng vốn được xem là nổi bật nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, với những khúc nhạc bất hủ của bảy, tám mươi năm tân nhạc VN, trình diễn bởi những ca sĩ tên tuổi hiện thời, cùng hàng trăm nhạc sĩ, ca viên, dưới tài điều khiển của những nhạc trưởng đầy khả năng và giàu kinh nghiệm, hiển nhiên phải là một chương trình đặc sắc, để lại dư âm trong lòng người nghe một thời gian thật dài, nếu không muốn nói là mãi mãi…
Nhạc trưởng Trần Chúc năm 1989. 2. Ngàn Khơi ra đời, lần đầu tiên hát Viễn Du tháng 6, 1989. 3. Thái Thanh, hát Việt Nam Quê Hương Mến Yêu trong buổi hòa nhạc đầu tiên 1990. 4. Mai Hương hát VNQHMY 1990. 5. Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi tại Concert 2007. 6. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương & Nhạc trưởng Lê Văn Khoa 1990.
WESTMINSTER, CA (Little Saigon) - Vở kịch “140 Lbs: How Beauty Killed My Mother” (“140 Lbs: Sắc Đẹp Đã Giết Chết Mẹ Tôi Như Thế Nào”) sẽ được trình diễn bởi chính tác giả Susan Liễu vào hai suất: thứ Bảy, ngày 21 tháng 12, lúc 7:00 P.M. và Chủ Nhật, ngày 22 tháng 12, lúc 2:00 P.M. tại Phòng Sinh Hoạt Người Việt, số 14771 Đường Moran, thành phố Westminster. Giá vé: $15 (sinh viên) và $25 (đồng hạng).
Ca nhạc sĩ Chế Linh là một biểu tượng cột trụ của dòng nhạc Vàng, ông là người Việt gốc Chàm và được xem là tứ trụ của nền Nhạc Vàng (chung với Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường). Tuy nhiên, trong “tứ trụ” đó, chỉ có duy nhất Chế Linh còn đi hát tới tận bây giờ và vẫn được đông đảo công chúng ngưỡng mộ.
Bốn mươi năm trước, tháng 11 năm 1979, ban nhạc rock Pink Floyd tại Anh đã trình làng băng nhạc thứ 11 có tên “The Wall” [Bức Tường].“The Wall” gồm 26 bài hát, 2 bản thu âm và một câu chuyện bí ẩn nhạc kịch, băng nhạc tiếp tục trở thành băng nhạc bán chạy thứ 2 trong lịch sử, theo bản tin của trang mạng www.theconverstion.com
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.