Hôm nay,  

Nguyễn Mạnh An Dân: Tiếng Thét Trước Tệ Nạn

17/02/202012:37:00(Xem: 4861)


Mồng 5 Tết Canh Tý 2020, một người bạn viết lách bên Houston điện thoại qua nói đương tụ họp bạn bè làm lễ trăm ngày cho Nguyễn Mạnh An Dân. Lạ quá, như một thần giao cách cảm, lúc đó cái tựa bài mới vừa được đánh máy xong trên computer, người viết đương nhẫm trong trí coi mình sẽ viết gì về bạn văn nầy. Không có đầy đủ tác phẩm của anh, nghĩ rồi lúc nào đó cũng sẽ thủ đắc được thôi nên chỉ mới làng nhàng viết được mấy dòng, còn đương tìm ý. Lời báo tin khiến tôi hăn hái hơn trong việc hoàn thành dự định viết về một người thơ mới mất. Những đóng góp văn chương trước đó của anh rất có ý nghĩa, nói gì về anh cũng là đem về sự công bình cần thiết cho người sanh ra đã lỡ cầm trong tay lá bài xấu.

blank


Nguyễn Mạnh An Dân là một người viết văn dấn thân, anh viết về những điều đáng viết khi nhìn chuyện xấu xa ngoài xã hội. Anh chắc lọc đề tài, cẩn thận trau chuốt lời để tạo nên những đoạn văn trơn tru, gợi cảm, đánh vào lòng người đọc. Được hỏi tại sao viết ít và chậm, anh cười nhẹ, từ tốn trả lời bằng cái nhún vai và đưa hai tay xòe ra trước ngực rất Mỹ đại ý rằng đi làm suốt ngày để kiếm cơm, mệt nhọc, thường suy nghĩ về đề tài và bố cục khi đương lái xe, viết văn thì lúc nầy một chút lúc kia đôi ba đoạn. Còn thơ thì tuông ra nguyên bài, có khi hai ba bài một lần, nhưng thiên hạ đã phóng thơ ra nhiều quá khiến mình cũng ngài ngại làm thơ. Ý tưởng thì anh em thường trùng vì ai nấy đều đau đáu trước nỗi đau thương của dân tộc. Mình phải chọn cách nào cho khác biệt về kỹ thuật, may ra. Đời sống xứ người có những bận rộn cơm áo không chừa bao nhiêu thời giờ cho việc viết vì viết lách ở ngoài nước không là một nghề để kiếm cơm. Anh nhấn mạnh đến chữ kỹ thuật

Điều giải bày trên không mới, biết bao nhiêu người viết đã làm như vậy, đã suy nghĩ như vậy. Có người đã đánh vật suốt đời với câu cú, với chấm (.) phết (,) đấu hỏi (?) dấu than (!) xuống hàng trong trường hợp bất ngờ nhứt, kể cả sử dụng từ khác với tính chất của chúng bấy lâu nay để mang một ấn tích khác thường cho thơ mình.

Mọi tìm kiếm đều có giá trị cố gắng đáng trân trọng và bổ xung tri thức trong ngành. Những đón nhận của người đời lại là một chuyện khác. Có thể hân hoan có thể hững hờ...

Nguyễn Mạnh Dạn là tên khai sanh của anh. Ra đời năm 1948, tại Bình Định. Nhập ngũ khi chưa xong Đại Học, làm sĩ quan cấp thấp cho tới ngày tàn cuộc chiến, đi tù gần chục năm. Qua được đất nước Tự Do liền cầm ngay cây bút. Có tên trong vài tác phẩm chung với nhiều bạn cùng chí hướng. Riêng anh có:

Hai tập truyện

Người Lính Không Có Vũ Khí, Làng Văn, Canada, 1995. 

Cử Đầu Vọng Minh Nguyệt, Làng Văn, Canada, 2000. 

Một tập thơ

Tiếng Thét, Anh Em, Na Uy, 2000.

Truyện anh thường lấy bối cảnh người lính VNCH, những người vì dân, vì bổn phận trai trong thời chiến mà cầm súng. Truyện thường mang tính bi đát của sự chiến đấu thiếu cân xứng của bên thua cuộc, yêu nước, hào hùng nhưng không đủ vũ khí đạn dược vào giờ chót. Không khí ngậm ngùi độc giả cảm nhận dầu chưa đọc hết truyện. Ngậm ngùi khi biết rằng những người hào hùng đó rồi sẽ chết, sẽ bị tù đày. Ngậm ngùi khi thấy những tình yêu đẹp đẽ được chăm chúc rồi sẽ trở thành ảo mộng do thời cuộc. Ngậm ngùi khi thấy một đơn vị nhỏ cố giữ vững vị trí nhưng cuối cùng không thể được vì biết bao nhiêu ‘đích thân’ đã tan hàng trước tiên. Nguyễn Mạnh An Dân là chứng nhân và có trí nhớ tốt - người lính chết tức tưởi, cô gái người yêu của anh mới vừa được nói chuyện với anh trên máy truyền tin thì đã thành người cô phụ sau đó không lâu. Truyện anh trung thực, dễ đọc, đáng tin rằng cường độ hư cấu không nhiều.

Tuy vậy tôi thích tập thơ của anh hơn. Có điều gì đó hấp dẫn trong Lời Tựa:

Tập thơ nầy tôi làm trong hai trại An Dưỡng và Tân Hiệp, Biên Hòa, được chép lại tại Sungei Besi, Mã Lai.  Tôi đã đặt trên nó là Tiếng Thét Từ Trái Tim… Tiếng Thét ấy của nhiều người, trong và ngoài trại giam. Có người gọi đây là thơ tù… Việc người tù làm thơ cũng chẳng có gì mới lạ. Vấn đề là ở chỗ vì sao đi tù và bao nhiêu người trong cả nước đi tù. (NVS in chữ đậm.)

Chắc ai cũng chú ý đến chữ vì sao và bao nhiêu.

Chữ Vì sao dẫn đến câu trả lời: Chế độ họ như thế nên họ phải cho người khác phe đi tù sau khi thắng trận với ngoại viện thiệt nhiều và vô số dối gian. Thế thôi, chuyện chẳng có gì khó hiểu. 

Chữ Bao nhiêu sẽ đi đến cái thở dài não nuột thay vì là những con số vô hồn. 

Đi tù đương nhiên sẽ một số người làm thơ, cách nầy hay cách khác, lý do nầy hay lý do khác. Ra tù có người nhớ người quên những bài thơ mình đã chắt chiu ghi vào tim gan, não bộ. Có người muốn phổ biến, người không. Kể vài trường hợp phổ biến dầu phải mất một thời gian lâu sau khi ra tù: 

Nguyễn Sỹ Tế: Khúc Hát Gia Trung, Edition Emn, Bonn Germany, 1994.

Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu: Bạch Hoa, Vina, Seattle USA, 2019.

Thơ anh là bức tranh xã hội với những chấm phá ít oi trên khung vải rộng, cũng không được trét màu quá đen tối hay quá đậm nét, những nét cọ nhè nhẹ với gam màu lờn lợt nhưng tạo được rung cảm, xót xa cho khách thưởng ngoạn.

Người cha trong tù cảm nhận tương lai đen tối của những đứa con mình khi bị cấm cửa tới trường. Những đứa trẻ khác may mắn hơn chút ít, được đi học thì học được những điều dối trá từ trên đưa xuống như thiên đàng, ấm no, lao động cho con cháu muôn đời sau:

Bé thơ khăn đỏ 

cổ quàng

học bài xã hội 

thiên đàng đẹp tươi

Lao động 

bằng năm bằng mười

Ấm no con cháu 

muôn đời về sau?!

(Khăn)

Nguyễn Mạnh An Dân làm thơ rất ít khi chấm, phết ở cuối hàng, vậy mà ở đây anh dùng một lần cả dấu than và dấu hỏi (?!) một chỗ. Hai dấu nầy nói giùm tác giả rất nhiều về sự không tin tưởng lẫn ngờ vực tới chán nản của mình.

Đó là trẻ nhỏ, người lớn cũng chẳng khác gì hơn: Làm việc, làm việc cho những khẩu hiệu, cho những bằng khen tiên tiến, để rồi nhìn lại mình chỉ còn là những bộ xương biết đi.



nhà nước kế hoạch

triển khai

Mỗi người làm việc 

bằng hai sức người

vàng sao rực đỏ cờ tươi 

bóng che 

những bộ xương

 phơi giữa đồng

(Xương)

Và biết bao nhiêu cô phụ bị gạt gẩm, phỉnh phờ bằng những lời hứa không bao giờ được giữ lời để thực hành:

Nghe nói 

nhiều lần phải tin 

đi Kinh Tế Mới 

để xin tha chồng 

Cả đời 

chỉ biết thật lòng 

làm sao em hiểu 

người 

không giống mình?  

(Người)

Vậy đó mọi người, già trẻ bé lớn đều được mớm bằng ảo mộng, ảo mộng vì bị lường gạt. Nguyễn Mạnh An Dân nói giùm người dân về cú bị gạt vô cùng lớn đó: Mọi người, không chừa ai, đều mắc mưu. Và nếu có biết cũng nín thinh, hi vọng mình được phần hên, bị gạt ít …

Phần đầu tập thơ là những chấm phá về xã hội VN mấy mươi năm đầu sau khi chế độ VNCH bị xụp đổ. Mỗi bài là bốn câu lục bát xuống dòng thành tám hàng với cái tựa chỉ độc một chữ lẻ loi. Vậy mà 29 chữ đó tả và gợi rất nhiều điều…

Anh dùng loạt những bài thơ ngắn nầy nói về thực trạng khổ ải của người dân Việt sống trong nhà tù cũng như bên ngoài xã hội. Nhà thơ nói gián tiếp hay trực tiếp. Thường là gián tiếp vì thơ anh có ít chữ mà mục tiêu hướng về thì nhiều, phải để cho người đọc trôi theo trí tưởng tượng của mình, từ đó họ khám phá lại những điều đã thấy, đã nghe, nhưng bị quên đi vì đã trở thành thường tình, giờ đọc thơ mới nhớ lại rằng mình vô phước.

Tôi gọi cách thế nầy của ý thơ Nguyễn Mạnh An Dân là cách viết của thơ Đường: chữ ít, gợi nhiều.

Chẳng hạn:

Sửa:  Người mẹ còn đói ăn lâu ngày lấy đâu có sửa nuôi con.

Sách: Trẻ thơ còn mấy cuốn sách cũng bị chiến dịch đốt sách tác hại.

Thuốc: Tù nhân được nhỏ mũi vài giọt nước tỏi trừ bịnh.

Họa: Họa cái điều cần tô hồng trong khi thực tế lại quá đen

Mê: Người ngủ gầm cầu nằm mê thấy tương lai tươi sáng.

Cãi: Bị can cãi cũng vô ích vì khung tội đã được làm sẵn, quan tòa chỉ phán thuộc lòng.

Lợi: Dân oằn mình dưới những nghĩa vụ. Đảng muốn như vậy dân phải chịu thôi.

Mấy chục bài lục bát xuống dòng của Nguyễn Mạnh An Dân đều như vậy. Người thi sĩ chứng nhơn nhìn thấy những chuyện trái lòng, những hành động kỳ dị, anh động tâm rồi tìm ra một vài chi tiết nho nhỏ để làm thông số cho những điều độc giả sẽ nghĩ hộ anh sau đó.

Anh là chứng nhơn vì anh đã thấy đã ghi lại. Rồi đây người lớp sau sẽ theo đó đánh giá thời đại chúng ta đương sống ngày nay, đánh giá những người có trách nhiệm về những xấu tốt đó.

Xin thêm một bài loại nầy mà tôi thấy rất hay, cảm động như xoáy vô tim:

Sư cụ 

vừa tụng kinh xong

nhìn ra khắp xóm 

bếp không khói chiều 

trầm tư 

chợt thấy một điều

Niết Bàn xa quá 

buồn hiu đời này

(Đời)

Trước đây lục bát xuống dòng, hay lục bát ngắt câu đã có người thử nghiệm rồi. Không ăn khách lắm nên thi sĩ chỉ làm vài ba chục bài, ít có trường hợp thực hiện cả bảy mươi bài như Nguyễn Mạnh An Dân. Anh xứng đáng là đệ tử thuần thành của thể loại lục bát xuống dòng.

Thiệt ra nhìn cho cùng lục bát xuống dòng không phải mới mẻ gì, chỉ tại chúng ta quen với cách nhìn 6, 8 do người đi trước trình bày có khoảng cách trong thơ bằng chữ Nôm nên ngỡ là luật bắt buộc phải xuống dòng. Từ đó có sự phân cách hai câu 6, 8 trong chữ quốc ngữ. (Sau nầy ở trong Nam loại truyện thơ bình dân viết bằng lục bát, để khỏi tốn giấy người ta in liền một hàng cả hai câu 6 và 8. Và vẫn được chấp nhận, chẳng ai phản đối gì.

Nghiên cứu sự ngắt câu trong thơ Đoạn Trường Tân Thanh người ta thấy  nhiều cách, như tiểu đối 3/3 - 4/4, như ngắt đoạn từng cặp hai chữ 2/4 - 4/4, như 4/2 -2/6… Chỉ việc xuống dòng những trường hợp nầy thì ta có lục bát xuống dòng kiểu Nguyễn Mạnh An Dân. 

Phần hai, ba của tập thơ là những câu hỏi để  tác giả trình bày thực trạng của chế độ mới: Nói một đường làm một đường khác đối nghịch, biến người dân thành những hình nộm, nói như vẹt, bỏ những điều tốt thiên lương để làm điều xấu  mong được sinh tồn.

Tất cả tập thơ là Tiếng Thét bất bình của người bất bình biết quan sát và biết sống xứng đáng là mình. Our lives teach us who we are. (Salmon Rushdie). Trong tù không thấp hèn bợ đỡ, ngoài tù mở mắt để thấy và lên tiếng báo động về sự hiện diện của một xã hội xuống cấp. Được tự do không quay mặt lại với những gì mình đã thấy trước kia.

Đó là nhà thơ dấn thân cho tới cuối đời như bao nhiêu nhà thơ hải ngoại khác.

Trước khi chấm dứt, nghĩ rằng cũng nên ghi lại mấy câu thơ xưa viết theo thể 7 chữ trong một bài thơ có nhiều khổ, nhưng nếu được viết lại theo cách xuống dòng thì chắc là cảm xúc của người đọc tăng lên thập bội: (Trúc Khanh: Bài thơ Mà Đời Đâu Phải…? trong Tạp văn Việt Nam Hồn, phụ trương Nguồn Sáng, Sàigòn, 1948.)

Hởi ôi! 

Thương nữ mà vong quốc. 

Thì đã đành rồi! 

Đến lũ trai.

Cũng chẳng hơn gì 

loài 

đĩ điếm.

Ăn ngon 

mặc đẹp 

lại… 

Than ôi!

Vậy thì sự xuống dòng cũng có giá trị gợi cảm của nó, miễn là người làm thơ biết chỗ cần phải xuống dòng. 

Mấy câu thơ của Nguyễn Hàn Chung trên fb gần đây khi bài viết nầy khép lại cũng nên đưa vô đây để thấy lục bát cách tân – một dạng khác của lục bát xuống dòng - có giá trị tạo được cảm xúc mạnh khi người thi sĩ muốn điều nầy.

Yêu đi, thà lỡ yêu lầm

anh, hơn hoang phế trăm năm, uổng gì!

Về trường hợp cuộc đời của Nguyễn Mạnh An Dân, và những trường hợp tương tợ: dở dang việc học, đi lính, đi tù, đến xứ tự do chậm, lỡ cầm những lá bài xấu trên tay nhưng họ đã chơi rất khéo léo. “Life is not always a matter of holding good cards, but sometimes, playing a poor hand well.” – Jack London. 

Họ đã hạ xuống rất hay những cây bài xấu để thắng vì đã biết đau nỗi đau của người đồng chủng trong thời đại Đồ Đểu. Họ đã lên tiếng và lên tiếng lớn, trường kỳ.


CA, Tháng Giêng, Canh Tý 2020, mồng 5-r ằm.


Văn hào John Steinbeck (1902-1968) là một nhà văn lớn của Mỹ quốc, tác giả nhiều cuốn tiểu thuyết kinh điển như Phía đông vườn địa đàng, Vườn nho nổi giận, Của chuột và người, v.v…
14 tháng 2 hàng năm là Ngày Lễ Valentine mà nhiều người gọi là Ngày Lễ Tình Nhân, là ngày Lễ Thánh Valentine mà cũng là ngày đặc biệt để những người yêu thương nhau biểu lộ tình cảm cho nhau.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh sinh ngày 15 tháng 7 năm 1924 tại Hà Nội. Hai cụ thân sinh mất sớm khi bà mới lên tám. Khởi đầu bà làm thơ sau đó viết văn từ những năm 1939-1940. Năm 1948-1951: bà và con gái sang Hồng Kông tị nạn chính trị cùng với chồng là dịch giả Trương Bảo Sơn.
Sáng Thứ Ba, ngày 11 tháng 2 năm 2020, văn phòng tòa soạn tuần báo Việt Báo, 10517 Garden Grove Blvd., thành phố Garden Grove, CA 92840 có nhân duyên lành đón tiếp nhà thơ Khế Iêm, Chủ Bút Tập San Thơ Tân Hình Thức, đến thăm và tặng sách.
Cứ mỗi tháng 2 dương lịch, Hoa Kỳ lại đón mừng Tháng Lịch Sử Da Đen (Black History Month), nhằm vinh danh thành quả của người da đen Hoa Kỳ, một truyền thống lần đầu tổ chức vào năm 1926 bởi sử gia Carter G. Woodson và kéo dài tới bây giờ.
Có những mùa khô nắng đổ trên thịt da bỏng rát. Đất nứt từng rãnh, chia thành những ô vuông bé nhỏ. Mỗi ô vuông nứt ra một mệnh đời. Mỗi mệnh đời rơi mãi vào trong những cơn mê sảng với cổ họng khô rang khát nước, loắn quắn tìm về suối nguồn tận non cao.
Một thập niên trước, nhiều người Nhật Bản vì rất xấu hổ khi bị bắt gặp đang ăn một mình tại trường hay tại nhà ăn nơi làm việc mà họ chọn ăn trong nhà vệ sinh. Từ sự xuất hiện không bạn bè được cho là điều không nên, dẫn tới điều được biết như là “benjo meshi” – “ăn trưa trong nhà vệ sinh.”
Đối với độc giả người Việt lớn lên từ thập niên 60 trở đi, có lẽ không mấy ai không biết đến Kim Dung với những bộ tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình của ông như Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký, v.v…
Văn giới Hoa Kỳ những ngày đầu năm 2020 xôn xao về cuốn tiểu thuyết American Dirt của nhà văn Jeanine Cummins. Lý do là vì cuốn sách vẽ ra những hình ảnh rất tiêu cực về vấn đề di dân lậu, mà chủ yếu là dân Mexico và châu Mỹ Latin.
Được tin buồn ngày đầu năm mới: Giáo sư, Cư sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đã từ trần vào ngày 25-1-2020 (nhằm mùng 1 Tết Canh Tý), tại tư gia ở Yardley, Pennsylvania, Hoa Kỳ; hưởng thượng thọ 93 tuổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.