Hôm nay,  

Hoa Trái Đầu Mùa

02/01/202114:55:00(Xem: 3927)

Hoa Trái Đầu Mùa


blankblank


Đêm hôm qua, đêm cuối năm Dương Lịch, ngày 31 tháng 12 năm 2020. Tôi thỉnh thoảng chạy ra trước cửa nhìn sang phía bên kia hồ xem có ai đốt pháo bông, cố nghiêng tai lắng nghe xem có tiếng súng bắn lẻ của ai đón mừng Năm Mới không. Đốt pháo bông và bắn súng lẻ là hai điều vẫn xảy ra đêm giao thừa Dương Lịch ở khu Eastside của thành phố Seattle, nơi chúng tôi cư ngụ. Không nhiều lắm, nhưng hàng năm vẫn có, một vài bông hoa pháo và tiếng súng bắn lẻ như một dấu hiệu, một tiếng cười bật lên chào năm mới. 


Trong nhà tôi, hai vợ chồng vẫn như những ngày thường, ăn cơm chiều xong, xuống nhà dưới mở truyền hình nghe tin tức của PBS, rồi kiếm một cái phim xem giải trí. Chúng tôi rất ít khi ăn mừng Tết Dương Lịch. Vào những năm Thái Bình Thịnh Trị, cả đại gia đình, anh, chị em chúng tôi thường tụ họp hơn mấy chục người ăn mừng Lễ Phục Sinh, Lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán với nhau. Ngày Tết Dương Lịch thường nhóm trẻ tụ họp bạn bè của chúng, cha mẹ không can dự. 


Năm nay mỗi gia đình tụ họp riêng, Gia đình tôi, đã có tụ họp nhỏ trong Lễ Giáng Sinh, năm nay lại hạn chế tối đa nên ông bà không tới nhà con cháu thường xuyên được nữa. Nếu có chỉ dùng “online”. 


Không có dấu hiệu, không tiếng động, không có gặp mặt, ngày hôm nay giao thừa dương lịch, đối với chúng tôi, cũng giống như những ngày trong nguyên 10 tháng trôi qua của năm 2020. Những ngày rất buồn đó bắt đầu từ tháng 3/2020. 


Tất cả chúng ta đã trải qua những ngày căng thẳng, những tháng rất buồn giữa đất nước tốt đẹp này. Con siêu vi trùng có tên là Covid.19 đã tàn phá, cướp đi sinh mạng cả một triệu con người trên thế giới nói chung và mấy trăm ngàn trên nước Mỹ nói riêng. Ngoài bệnh tật, người dân Mỹ chúng ta còn phải chịu đựng, phải chống trả với thù hận, kỳ thị, chia rẽ với một con vi trùng khổng lồ nữa là “Con Người”. 


Hơn bao giờ hết chúng ta cần những lời chúc gửi cho nhau là lời chúc an bình, hòa thuận. Gia đình, bạn hữu hãy bỏ và quên đi những khác biệt chính kiến, đừng lăng mạ nhau về những điều chính chúng ta cũng chưa thấu đáo tới nơi tới chốn. 


Người Việt Nam mình vẫn được coi là những người hiếu hòa, những người thân thiện, những người tình nghĩa thủy chung. Dắt díu nhau sang nước người sinh sống vì tránh Cộng Sản, sau mấy chục năm, đôi khi cũng có những bất hòa, nhưng chưa bao giờ chia rẽ kinh hoàng như mấy năm gần đây. Có những người bạn vượt biển, vượt biên, sống chết có nhau, gắn bó mấy chục năm, tưởng như không biến cố nào có thể tách rời nhau ra nữa. Bỗng vì bất đồng chính kiến, kẻ Dân Chủ, người Cộng Hòa từ mặt nhau một cách phũ phàng. Rồi con tránh không nói chuyện với cha, vợ quay lưng lại với chồng. Thật không thể nào hiểu nổi. 


Một số người vẫn tin vào cái đẹp cái thiện của nước Mỹ và người Mỹ. Sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nước Mỹ vẫn đứng vững và vẫn là một vùng đất lý tưởng cho rất nhiều người trên thế giới muốn tới dung thân. 


Xin cầu cho mọi cái xấu của năm cũ qua đi, thay vào đó những lời chúc tốt lành như hoa trái đầu mùa, mang tới cho những người dân sống trên mảnh đất Hiệp Chủng Quốc này, dù chủng tộc nào, tôn giáo nào, màu da nào cũng được Thượng Đế ban phát bình an tràn đầy trong hai bàn tay họ như hoa trái đầu mùa để họ lại mang chia cho người đang ở bên cạnh mình và cả những người ở rất xa mình. 


Trần Mộng Tú 

 JAN 1st, 2021

 

Hãy hình dung rằng sẽ tới một thời thế giới không còn bom đạn, và thay cho những trận mưa bom sẽ là những trận mưa thơ. Hãy hình dung rằng những góc phố Sài Gòn, Hà Nội và khắp thế giới sẽ dựng lên các bia đá khắc lên những dòng thơ ca ngợi hòa bình và tình thương. Như thế, thơ sẽ chữa lành thế giới, sẽ đẩy nhân loại bước rời xa các u tối chiến tranh, khi những ánh mắt căm thù hốt nhiên chỉ nhìn thấy những trận mưa hoa đầy chất thơ. Thậm chí, hát thơ còn chữa bệnh được: lịch sử ghi rằng trong thời Vua Hùng Vương, hát thơ chữa được sản nạn, hóa giải chứng đau bụng đẻ để bà bầu êm ái cho ra em bé an lành. Ông bà mình từ xa xưa đã nhìn thấy tác dụng của thơ. Khi nhìn thấy người thương bước tới sân đình giữa làng, trong khi lời còn rất rụt rè, thì dòng thơ ca dao có thể nói lên rất nhiều, dù là chàng ướm lời với nàng hay ngược lại: Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu. Sau khi hai dòng thơ trên được hát lên, lời nói nào sau đó cũng dư thừa.
Thơ quả đã giúp cho Phùng Cung sống sót, sau những năm dài tù ngục, và là chỗ dựa cho những người thất thế (như ông) đứng lên làm lại cuộc đời. Và cuộc đời te tua, tả tơi, bầm dập của Phùng Cung cũng khiến tôi thốt nhớ đến những người cầm viết khác – cùng thời với ông – những kẻ đã dựa vào thơ văn chỉ để kiếm chút công danh, hay bổng lộc.
Người ra đi lòng vẫn nhớ, con tim chia hai nửa mang theo nửa để laị quê nhà. Phần nhiều ai cũng nhớ quê hương, với những gã du tử thì càng tha thiết biết bao. Những gã du tử mang nghiệp chữ lòng mang mang viết nên những bài thơ, áng văn dâng cho đời. Mùa xuân về nước non cố quận mình tưng bừng trẩy hội, cho dù có nhiều hư hao và dang dở. Nước non dù còn nhiều nguy hiểm tồn vong, đời dù lắm dâu bể đổi thay, lòng người dù đa đoan… nhưng tình vẫn tha thiết lắm em ơi!
Ngàn năm trước, sau khi Trần Nhân Tông (Trần Khâm) truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên - tức vua Trần Anh Tông – Nhân Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Một năm sau Thượng Hoàng lên ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử tu hành, lấy pháp hiệu Điều Ngự Giác Hoàng, lập ra Thiền Phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Thời gian này tại chùa Hoa Yên (Yên Tử), Giác Hoàng mở các buổi thuyết pháp cho tăng chúng, thu nhận nhiều đệ tử.
Bên cạnh mười bài giảng của Thầy Phước Tịnh là mười bài Thiền Ca Chăn Trâu được kẻ nhạc do nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc sáng tác, dựa theo thơ Thầy Tuệ Sỹ. Sách in trên giấy đẹp, khổ vuông 8.5X8.5 inches, dày 90 trang. Sách “Mõ Trâu” do Tâm Nguyên Nhẫn thực hiện chỉ 30 ấn bản để tặng, theo các pháp thoại do Doãn Hương sưu tập lời giảng của Thầy Phước Tịnh về Thập Mục Ngưu Đồ. Doãn Vinh vẽ bìa và phụ bản. Nguyễn Đình Hiếu trình bày. Tâm Tường Chơn biên soạn. Bài này sẽ nhìn Thập Mưu Ngục Đồ qua bản đồ học Phật của Đấng Thế Tôn. Trong hai tạng Kinh A Hàm và Nikaya, Đức Phật đã từng so sánh tiến trình tu tâm như việc chăn bò. Trong Phật Giáo Tây Tạng, cũng có một hướng dẫn tương tự như tranh chăn trâu, nhưng là lộ trình chín giai đoạn chăn voi. / A HÀM, NIKAYA: CHĂN BÒ, THIỀN TÔNG VÀ HẠNH BỒ TÁT/ Trong Kinh Tạp A Hàm SA 1249, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, Đức Phật dạy về kỹ năng tu tâm tương tự như kỹ năng chăn bò, với 11 pháp người chăn bò cần khéo biết.
Ngày Đại Lễ Phật Đản đã được Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên tổ chức tại thủ đô Columbo của Tích Lan năm 1950 ấn định là ngày Rằm tháng tư Âm Lịch hay ngày trăng tròn tháng Vesak của Ấn Độ, tức tháng 5 Dương Lịch. Kể từ đó, các tổ chức Phật Giáo trên thế giới đều lấy ngày này làm ngày lễ chính thức kỷ niệm Đức Phật Đản Sinh. Theo đề nghị của 34 quốc gia có đa số người dân là Phật tử, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc trong phiên họp lần thứ 54 vào ngày 15 tháng 12 năm 1999 đã thông qua Nghị Quyết tuyên dương tinh thần từ bi, trí tuệ và hòa bình của Đức Phật và chính thức tổ chức Ngày Đại Lễ Vesak vào tháng 5 để kỷ niệm đức Phật đản sinh, giác ngộ và nhập niết bàn. Nhân mùa Phật Đản lần thứ 2644 năm nay, xin trích dịch câu chuyện về cuộc đời của đức Phật do Bhikkhu Bodhi viết trong bài “The Buddha and His Dhamma” [Đức Phật và Giáo Pháp Của Ngài]. Bhikkhu là tiếng Nam Phạn (Pali) chỉ giới phẩm Tỳ Kheo của một vị xuất gia trong Phật Giáo. Vì vậy, Bhikkhu Bodhi là Tỳ Kheo Bodhi.
Thành phố của tôi đích thực là Hà Nội: tôi sinh ra ở đó, tôi đã sống trọn vẹn thời tuổi trẻ ở đó. Nhưng tôi có một ông bác ưa phiêu lưu, sớm rời bỏ thành phố sinh trưởng, đi bén rễ ở một nơi mà ngày nhỏ tôi tưởng như xa xôi lắm. Đảo Phú Quốc ở mãi tận cùng đất nước. Những giấc mơ tuổi trẻ của tôi thường hướng về chân trời thật xa đó. Những giấc mơ cũng có khi hiện thành sự thật với những gánh hát tự miền xa tới trình diễn. Bao nhiêu đêm rực rỡ ánh sáng tiền trường, vang vang tiếng ca giọng nói của miền xa
Ngày 30 tháng 4 năm 2020 đánh dấu 45 năm Miền Nam Việt Nam thất thủ. Khởi đi từ đó dù cuộc chiến bom đạn đã chấm dứt trên quê hương nhưng lại mở ra một trận chiến âm thầm khốc liệt và đau thương khác cho dân tộc. Đó là cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, giữa tự do và độc tài, giữa nhân đạo và bất nhân mà bằng chứng cụ thể là hàng triệu người dân ruồng bỏ chế độ độc tài đảng trị tàn bạo cộng sản ra đi bằng đường bộ và đường biển khiến cho cả triệu người phải vùi thây dưới lòng đại dương hay chôn thân trong rừng sâu núi thẳm. Từ bối cảnh đó hai chữ “thuyền nhân” ra đời trong sự thức tỉnh của lương tâm nhân loại trước định mệnh nghiệt ngã của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20. Trong ý nghĩa này, thuyền nhân là những người dám xông vào cõi chết để tìm đất sống.Tại sao phải bỏ nước ra đi? Tại sao một dân tộc có lịch sử mấy nghìn năm kiên trì bất bại bám giữ từng tấc đất của ông bà tổ tiên để lại như người Việt Nam lại phải chọn lựa cho mình con đường bỏ nước ra đi đầy hung hiểm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.