Hôm nay,  

Tiễn Anh

09/12/202200:00:00(Xem: 14567)
 
Bài điếu văn đọc tại Tang Lễ của BS Phạm Gia Cổn ngày 8 tháng 12, tại chùa Bảo Quang.
Gia đình Việt Báo xin thành kính phân ưu cùng chị Kiều Hạnh và tang quyến.
 
Hình 1
 Bác Sĩ Phạm Gia Cổn (1942-2022)
  
Chúng ta có mặt hôm nay để đưa tiễn một chiến hữu thân thương về chốn vĩnh hằng.

Tôi biết BS. Phạm Gia Cổn lúc tôi vừa tập tễnh bước vào đời lính,  nhận trách nhiệm làm y sĩ trưởng cho Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng một tiểu đoàn mà BS. Cổn vốn là y sĩ tiền nhiệm 2 năm trước. Tôi lội bộ theo TĐ, Anh làm chỉ huy trưởng Bệnh Viện Dã Chiến Đỗ Vinh tại căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở BV Dã Chiến khi tôi theo trực thăng chuyển thương binh. Tôi nhìn thấy anh cao lớn, rất phong độ, uy dũng, với 3 bông mai đen ở cổ áo hoa rừng và dấu hiệu 3 đấm tay của Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Tae Kwon Do ở túi áo trước ngực bên trái. Nhìn vào Anh, tôi có cảm giác như một tảng đá mạnh bạo, có tinh chất võ biền mà mình có thể dựa lưng khi cần. Dù hình tướng có vẻ rất quân kỷ, nhưng thái độ anh lại hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, cởi mở nhưng trực tính. Anh đã cho tôi sự tự tin và niềm vui trong tình huynh đệ. Về sau, tôi cũng biết tin anh được đề cử làm Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trong trận bảo vệ phòng truyến Phan Rang vào đầu tháng 4, 1975.

Hình 2

Mùa Hè Đỏ Lửa - 1972


Mãi sau này, khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi mới nghe lại tên của Anh, nhưng do bận rộn với sinh kế lại ở tiểu bang xa, nên phải một thời gian khá dài về sau, tôi bắt đầu sinh hoạt với nhóm Quân Y Nhảy Dù tại Nam Cali, và có những lần gặp gỡ với Anh, khi thì tại Cà-phê Factory, nghe Anh kể chuyện cổ tích trong khi cùng nhau đốt vài ba điếu thuốc, khi lại cùng với các niên trưởng Trần Tấn Phát (RIP), Nguyễn Văn Cơ, DS. Mai Minh Chí, DS. Nguyễn Mậu Trinh từ xa đến thăm… Lúc cần những chi tiết hay tài liệu về quân sử, nhất là về các đơn vị Nhảy Dù, với tên và chức tước của các niên trưởng, tôi thường nhờ đến Anh; hay khi tôi viết những bài liên hệ về Nhảy Dù, tôi cũng chia sẻ với Anh. Về phía Anh thỉnh thoảng cũng chuyển tôi những bản nhạc do Anh sáng tác mà anh biết tôi rất thích vì cùng sở thích với nhau. Chúng tôi từng chung lưng đón chào các niên trưởng Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù trong một tiệc hội ngộ vào tháng 9, 2019 tại Little Saigon, và gặp nhau hằng như mỗi năm tại các tiệc Tất Niên,Tân Niên hay các buổi họp quan trong của chi hội Gia Đình Mũ Đỏ Nam Cali.  Do ở xa Little Saigon, tôi không học Khí Công Hoàng Hạc với Anh, dù hiện diện nhiều lần những khi Hoàng Hạc sinh hoạt chung trong cộng đồng.

Kính thưa quý vị, qua nhiều lần tiếp xúc với Anh, và nhất là qua bài “Vài Góc Cạnh Trong Cuộc Đời Tỵ Nạn” do Anh viết và đăng trong Đặc San Đại Hội YND tại Hoa Thịnh Đốn năm 2015, tôi biết Anh tốt nghiệp Y Khoa Saigon năm 1971, thuộc khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, đã từng làm những công việc tầm thường như bao nhiêu người Việt di tản đến nước Mỹ sau 1975, nào là y công, phụ bếp rửa chén trong nhà hàng tàu… Anh cố gắng tìm cách đi học lại, vào được nội trú tại ĐH Chicago năm 1978, học tiếp chuyên môn Gây Mê tại Illinois, rồi fellowship về Critical Care tại Florida. Năm 1982 Anh được nhận vào trong ban giảng huấn của ĐH UCLA và về hưu trí sau 28 năm giảng dạy tại trường đại học danh tiếng này. Trong quá trình giảng dạy, Anh từng là thuyết trình viên tại các hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh, Hán Thành, Hồng Kông và tại các hội thảo y khoa ở Mỹ.

Ngoài những sinh hoạt chuyên môn y khoa, BS. Cổn còn sinh hoạt với tổng hội sinh viên VN, mở các khóa hội thảo, văn nghệ, biễu diễn võ thuật, tổ chức Health Fair trong các hội chợ Tết. Do những hoạt động nói trên, Anh từng được bầu làm chủ tịch Hội Y Sĩ Nam Cali, chủ tịch Hội Y Sĩ VN tại Hoa Kỳ, chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Gia Đình Mũ Đỏ trong 2 nhiệm kỳ, Chủ Nhiệm Đặc San Mũ Đỏ trong nhiều năm… Là một người Việt tỵ nạn, BS. Cổn luôn sát cánh với cộng đồng người Việt tỵ nạn CS và từng nhiều lần ra tay vạch rõ và làm sáng tỏ lằn ranh Quốc Cộng đối với những cá nhân bị phân hóa vì tư lợi hay tham vọng. Với tính thẳng thắn nhưng phát biểu điềm đạm và cư xử lịch sự, những người khác chính kiến với anh vẫn phải vị nể Anh. Những đụng chạm vì chính nghĩa nói trên khiến cộng đồng người Việt càng thấy rỏ tinh thần bất khuất của Anh nên càng quý phục và thương mến Anh.

Song song với chuyên môn y khoa, BS. Cổn còn nổi bật về những kiến thức võ thuật, mà Anh bắt đầu có từ khi còn trong nước. Tôi được cho biết Anh từng theo học Nhu Đạo, võ Tây Sơn Nhạn, võ cổ truyền Thiếu Lâm Thất Sơn. Tại Mỹ, Anh là một Master Đệ Bát Đẵng Huyền Đai Hapkaido và là chủ tịch Tổng Hội Hapkido Việt - Hàn. Đến khi Anh tự mình sáng lập, phát triển và bành trướng môn Khí Công Hoàng Hạc – là một môn võ nhạc dựa trên 4 thế “Bấm, Vòng, Vươn, Buông”- chú trọng vào hô hấp, cử động nhẹ nhàng và từ tốn, gây tác động tốt trên tâm ý, nhất là cho người cao niên - BS Phạm Gia Cổn đã chính thức trở thành một Grand Master theo đúng nghĩa của nó.

Kính thưa quý vị, nói hay viết về BS Phạm Gia Cổn mà không nhắc đến tinh thần và sự nghiệp văn nghệ của Anh là một thiếu sót lớn. Đúng vậy, từ bao nhiêu năm trước, cộng đồng được nhìn thấy Anh dưới hình ảnh một nghệ nhân say sưa thổi kèn saxo, và kèn đồng; riêng một mình, hay khi phối hợp với tiếng hát của ca sĩ, hay chơi trong ban nhạc do anh sáng lập mang tên “The Star Band”.  Và cũng đã từ lâu nhạc do Anh sáng tác, đa số phổ từ những bài thơ của thân hữu, càng được mến chuộng, nhất là trong giới quân y sĩ và cựu quân nhân với nhau. Nếu bàn luận về bản chất nghệ sĩ của BS Phạm Gia Cổn và phân tích những sáng tác của Anh, chắc cần phải nhiều giờ đồng hồ nhưng vẫn chẳng đủ.  Cá nhân tôi rất ngưỡng mộ tài nghệ sáng tác nhạc của Anh, và cảm nhất là những bản nhạc như: Một Ngày Mũ Đỏ Một Đời Mũ Đỏ, Tiễn Anh, Tóc Mây, Cung Buồn…nhưng đặc biệt xúc động yêu thích 2 bản Đã Một Lần và Đường Chim Khuya. Trong chốc lát, tôi sẽ mời quý vị lần lược thưởng thức các bản nhạc nói trên. Như một vinh danh người nhạc sĩ tài ba Phạm Gia Cổn của chúng ta.

Tôi xin tạm dừng nơi đây, mời quý vị lắng nghe bản Đường Chim Khuya – một sáng tác mới nhất của Anh trong năm 2022 –mà tôi nghĩ như một bày tỏ hoài niệm của chính cuộc đời Anh)
 
 
 
Tin Anh vào bệnh viện lan truyền nhanh chóng trên diễn đàn Quân Y Nhảy Dù và các diễn đàn thân hữu xa gần, được các niên trưởng đón nhận một cách dè dặt và quan tâm lúc ban đầu, nhưng liền sau đó có niềm tin Anh khả quan sau giải phẩu. Đang định chờ đến thăm anh, nhưng bất ngờ nhận tin Anh từ trần giữa sáng ngày 30 tháng 11, 2022. Thật quá đột ngột và bàng hoàng! Quá sửng sốt và đau xót. Là những tính từ diễn tả tâm trạng chung của chúng tôi. 

Vậy nhưng, với tôi, cái chết của Anh mang nhiều ý nghĩa sâu đậm của bi hùng tráng. Nó như cái chết nhanh chóng của một con người quân tử, khi bị vây hãm bởi một tình cảnh khắc nghiệt, cái chết ấy được nhìn thấy dưới góc cạnh của một thái độ hiên ngang chấp nhận, tránh cho người đời nhìn thấy ta bất khiển dụng, còm cõi ngày tháng trên giường bệnh hay ngặt nghèo trên xe lăn, trong khi mình đã và đang là một hình ảnh kính nể thương mến của đồng đội của cộng đồng, là một khuôn mặt với tài năng đa dạng có quá nhiều ảnh hưởng lên sinh hoạt của nhiều hội đoàn.

Thôi thì giờ đây, tôi xin xử dụng vài lời trong bản nhạc Thu Hát Cho Người gởi đến hương linh BS Phạm Gia Cổn, một người bác sĩ tận tâm, một y sĩ tiền tuyến thứ thiệt, một đồng đội can cường trong cuộc chiến, một giảng sư y khoa có tiếng, một nghệ nhân tình cảm, võ sư có lòng từ tâm, một chưởng môn sáng tạo, và trên hết, một người con đất Việt đầy nhiệt huyết luôn hướng về quê Mẹ:

“Mùa Thu nào đưa người về thăm bến xưa
  Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
  Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ…”
         
Anh Cổn ơi, phải chăng Anh giờ đây đang giong ruổi trên chuyến xe lửa về bến xưa, đến thăm Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị và dừng chân viếng các chiến địa và các đồi sim, nơi từng ghi dấu giày của Anh, như Anh từng mơ ước trong bài viết năm 2015?
         
Hay phải chăng Anh “Giờ đây chìm trong cơn bão lầy – Có hay chăng đôi cánh khép đọa đày – Chờ mai khi giông gió lên khơi – Niềm tin đến cho đời đại bàng vỗ cánh về?”
         
Có chăng Anh đã từng như “dáng chim trời một ngày tung cánh bay – góp phong ba như gọi cuồng phong dấy lên – Một ngày gió lớn đã qua rồi – Giờ chỉ còn yên nín ngại ngần – Rồi từng tháng năm âm thầm nhen nhén tương lai”?
                                     
Và có chăng Anh từng âm thầm tránh “Trách chi người ai lỗi ai – Trách chi người mi ướt cay… khi đã xa nhau kiếp này”. Và nhớ chăng Anh “mùi thơm khăn áo ngây ngất đi vào cổ tích tôi”?

 
Đi vào cổ tích tôi, là hình ảnh của một quân nhân dày dạn phong sương, một Thiên Thần Mũ Đỏ oai hùng, một y sĩ Nhảy Dù từng được tuyên dương trước Quân Đội với huy chương Anh Dũng Bội Tinh kèm theo Nhành Dương Liễu, là một chiến sĩ đầy khí khái chiến đấu cho tự do từ trong nước ra đến hải ngoại, là một con người với tài năng đa dạng đáng kính, đáng nể, đáng ngưỡng mộ, là một kỳ tài ưu ái của cộng đồng người Việt Hải Ngoại. Đó chính là Anh. Là Bác Sĩ Phạm Gia Cổn.

Kính thưa quý vị, trước đây trong bài viết “Xin Cho Linh Hồn Này Được An Nghỉ Ngàn Thu”, tôi diễn tả tâm tư của bác sĩ Mũ Đỏ Trần Đức Tường, người mà về sau trở thành Y sĩ Trưởng của Sư Đoàn Nhảy Dù, qua bài thơ “Tiễn Anh” của BS Tường, khi ông nhận một thương binh của tiểu đoàn mình vừa đền nợ nước. Về sau, bài thơ “Tiễn Anh” đó đã được BS. Phạm Gia Cổn phổ nhạc và trở thành một trong những bản nhạc mà BS. Cổn rất tâm đắc. Với lý do này, tôi xin lấy “Tiễn Anh” làm đề tựa cho bài điếu văn hôm nay. Nay xin mời quý vị nghe bài “Tiễn Anh”

 
Anh Cổn ơi, hôm nay đệ đến đây, nghiêng mình chào vĩnh biệt Huynh, với lòng thương mến và nuối tiếc Huynh vô cùng. Đệ xin chung góp lời cầu nguyện cho hương hồn Huynh sớm siêu sinh tịnh độ.
Cuối cùng, tôi cầu mong Phu Nhân BS. Phạm Gia Cổn giữ vững tinh thần và xin Phu Nhân bảo trọng.
 
Ngày 8, tháng 12, 2022
Bác Sĩ Vĩnh Chánh,
Y Sĩ Trưởng TĐ 1 Nhảy Dù và TĐ 15 Nhảy Dù Tân Lập

Gần 100 năm về trước, nhà thơ người Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều ra thơ Pháp nhan đề KIM – VAN – KIÉOU[1] in năm 1926 tại Hà Nội. Trong phần Gởi Bạn Đọc (Au Lecteur) dài đến 86 trang, tác giả hết sức ca ngợi Truyện Kiều[2]. René Crayssac đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong Truyện Kiều, và có nêu lên vấn đề Truyện Kiều không phải là bản dịch từ truyện Trung Quốc.[3]
Bài thơ như một tự truyện kể về mối tình của người con gái trong tuổi chớm yêu khi nàng tình cờ gặp chàng mà nàng nghĩ rằng nàng và chàng như đã có nhau từ trăm năm trước hay trong nhiều thế kỷ trước. Nàng như thấy rõ hình ảnh xa xưa trong tiềm thức của nàng là nàng đã từng nhận và cũng đã từng trả hết mối chân tình của chàng nơi đất xưa khi nàng còn là một cành hoa Nguyệt Quế.
Trong thời gian qua, các vụ tấn công người Mỹ gốc Á tại Hoa Kỳ vì sự thù ghét và kỳ thị chủng tộc đã gia tăng đến mức báo động.Làn sóng kỳ thị người Mỹ gốc Á bùng phát mạnh mẽ từ khi có đại dịch vi khuẩn corona vào đầu năm 2020 qua cách sử dụng từ ngữ của chính phủ Trump khi nói tới đại dịch vi khuẩn corona, chẳng hạn như gọi đó là “Chinese Virus” hay “Kung Flu,” đã kích động lòng thù hận đối với người Mỹ gốc Á.
Thiền sư Seigan Shōtetsu (1381-1459) là một trong vài người làm thơ nhiều nhất trong thi giới Nhật Bản. Chính xác, chúng ta không biết nhà sư đã sáng tác bao nhiêu bài thơ. Nhưng nhà sư kể lại trong một lá thư rằng vào tháng 4 của năm 1432, ngôi lều của nhà sư bốc cháy trong đêm, thiêu rụi mọi thứ trong lều và toàn bộ những bài thơ nhà sư đã sáng tác từ năm 20 tuổi, tất cả là 27,000 bài thơ trong 30 tập. Lúc đó Thiền sư 51 tuổi. Bây giờ, bộ sưu tập thơ Shōkonshū của Shotetsu còn khoảng 20,000 bài thơ. Thơ của Shotetsu không làm theo thể haiku như đời sau. Thể thơ haiku hình thành vào thế ký thứ 17, dưới chiếc dù ảnh hưởng của các nhà thơ Matsuo Bashō (1644–1694) và Uejima Onitsura (1661–1738), định hình từ thể thơ hokku, chuyển từ thể thơ haikai hay renku. Thơ của nhà sư Seigan Shōtetsu (tên ngài có thể phiên âm là: Thanh Nham Chính Triệt) sáng tác vài thế kỷ trước đó, thường cũng là ngắn, nhưng không chính xác ở khổ 3 dòng và 17 âm như haiku.
Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng như một nén nhang tưởng nhớ vào ngày ra đi của Chị và gửi tới nhà văn Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng như một lời phân ưu, khi anh đã bước vào tuổi 85 gần như một phép lạ.
Lawrence Ferlinghetti, nhà thơ, nhà xuất bản, họa sĩ và nhà hoạt động chính trị là người đồng sáng lập tiệm sách nổi tiếng City Lights tại thành phố San Francisco và trở thành biểu tượng của thành phố này, đã qua đời ở tuổi 101, theo bản tin của báo The Guardian tường thuật hôm 23 tháng 2 năm 2021. Theo The Guardian, nhà thơ Ferlinghetti đã qua đời tại tư gia vào tối Thứ Hai, 22 tháng 2 do bệnh liên quan tới phổi. Ông là nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats (Beat Generation) vào giữa thập niên 1950 ở Mỹ. Đây là thế hệ chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền và tư tưởng Phật Giáo. Qua nhiều năm ông đã xuất bản nhiều tác phẩm của các nhà văn và nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats như Allen Ginsberg, Jack Kerouac, Gregory Corso, William S. Burroughs, Diane diPrima, Michael McClure, Philip Lamantia, Bob Kaufman, và Gary Snyder. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông “A Coney Island of the Mind,” do New Directions xuất bản vào năm 1958, là một tuyển tập thơ đã được dịch sang 9 thứ tiếng và bán ra hơn một triệu bản.
Vậy là tác giả “Mật Đắng” của chúng ta đã trở thành góa bụa. Tôi không nghĩ trong đầu ông, trong tim ông, trong cõi lòng già nua héo úa của ông, có giây phút nào nghĩ đến rồi đây mình có thể thành “góa bụa”.
Sử truyện kể rằng ở nước Đại Việt vào thời Nhà Trần, có vị minh quân đã hai lần đánh bại đoàn quân viễn chinh hung hãn của Hốt Tất Liệt, người Mông Cổ sáng lập và cai trị nhà Nguyên ở Trung Hoa. Nhưng vị minh quân này đã không ở ngôi cửu trùng để tế thế an bang bằng con đường chính trị của bậc đế vương mà khoác áo nâu sòng xuất gia đầu Phật và sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm để đem giáo pháp giác ngộ của Phật Đà giải khổ cho muôn vạn chúng sinh. Vị minh quân và tổ sư ấy chính là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài cũng là nhà thơ kiệt xuất để lại nhiều áng thơ văn trác tuyệt đóng góp cho nền văn học nước nhà. Hơn bảy thế kỷ sau khi Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch, có một nhà thơ Việt ở gần tuổi ‘xưa nay hiếm’ (thất thập cổ lai hy) sống tha hương nơi xứ người mà tất dạ lúc nào cũng không rời cái nôi văn hóa và văn học của dòng giống Lạc Việt nên đã ngày đêm chuyên cần dịch thơ chữ Hán của Tổ Sư ra tiếng Việt để cho con cháu đời sau nhớ lấy di sản của tiền nhân.
Câu thơ cuối đối với tôi là câu thơ hay nhất "Rất hồn nhiên đụng cái mịt mù…" . Bỗng dưng làm tôi nhớ câu thơ hóm hỉnh của Mai Thảo "Đặt tay vào chỗ không thể đặt... Cười tủm còn thương chỗ đặt nào".
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.