Hôm nay,  

Cái mới trong văn

14/01/202316:43:00(Xem: 3939)

Tạp bút
imagessach
 

1.

 

Có người bạn văn, chủ biên một trang mạng văn chương, một hôm kêu gọi tôi đóng góp vào số chủ đề anh đang thực hiện. Chủ đề tình yêu. Anh nói tôi có toàn quyền làm chủ ngòi bút mình, viết gì cũng được – “bạo liệt” càng tốt – miễn sao có nghệ thuật và tương đối mới mẻ một chút. Tôi ậm ừ trả lời anh, chẳng nhận lời mà cũng không từ chối. Tôi hiểu ý anh nhưng đột nhiên tôi cắc cớ tự đặt ra câu hỏi trong đầu với chính mình: Có gì mới lạ nơi tình yêu không?


Thật ra, làm gì có cái mới lạ dưới ánh mặt trời này. Thánh Kinh phán vậy. Và, quả tình, tôi chẳng biết có cách nào dùng văn chương để “làm mới” tình yêu. Đừng bảo tôi cực đoan nếu – nhìn từ góc độ nào đó – tôi bảo tất cả những bài thơ tình đông tây kim cổ chẳng qua chỉ là biến tấu từ mẫu đề "Quan quan thư cưu/ Tại hà chi châu/ Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu" do một thi nhân nào đó sống cách đây hai ba nghìn năm ở lưu vực sông Hoàng Hà, trong giây phút ngẩn ngơ nhìn người con gái đẹp giặt lụa ven sông, lòng bỗng tràn ngập nỗi cảm xúc yêu thương, viết xuống. Tình yêu, chính nó, chắc không có gì mới lạ. Cảm xúc con người hai ba nghìn năm qua chẳng đổi khác bao nhiêu. Hai ba nghìn năm còn phù du, ngắn ngủi hơn một sát na trong biến trình tiến hóa của con người; bởi thế, chắc chắn hai ba nghìn năm sau con người vẫn thế, vẫn chừng đấy thương yêu, thù ghét, chừng đấy những quan hệ giữa người và người.


Mười sáu từ trong bài thơ mở đầu Kinh Thi Quốc Phong trên còn gây rung động và cảm hứng cho một người phương Tây và ông dịch sang tiếng Anh như sau:

 

Guan, guan cries the osprey

On the river’s isle.

Delicate is the young girl:

A fine match for the lord.

 

“Young girl” trong bài thơ trên là cô gái họ Tự dung nhan u nhàn trinh tĩnh được tiến cung làm vợ vua Văn Vương. Người sáng tác cũng như người dịch, dù sống cách nhau cả ba nghìn năm, mỗi người một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt, nhưng cả hai đều xem yếu tố tình yêu là cái gì định đoạt mối lương duyên, và bởi thế chuyện xảy ra tại đất Phong bên Trung quốc năm 1134 TCN (tôi bịa ra không gian và thời gian vua Văn Vương lấy vợ, bạn đừng thắc mắc nhé) rất có thể xảy ra y như thế tại bất cứ miền đất nào khác trên mặt hành tinh này với một con người thế kỷ XXI.

 

 

2.

 

Có lẽ bởi thế văn hào Isaac Bashevis Singer khuyên người viết đừng nên “sáng tạo” những điều mới lạ trong quan hệ nam nữ. Nhân vật trong truyện của ông, hầu như tất cả đều là người Do Thái, những người Do Thái lưu vong từ hai nghìn năm qua, sống vất vưởng trong những ghét-tô ở Đông Âu thời tiền chiến hoặc New York thời hậu chiến. Họ sống, ăn, ngủ, làm tình, mỗi thứ bảy cung kính dâng lễ Sa-Bát, đọc kinh Torah. Thi thoảng, họ loạng quạng bước chệch ra ngoài lề những gì cuốn kinh cho phép (dù là người Do Thái, họ cũng như tôi và bạn thôi), hoặc những khi chịu đựng không nổi nỗi thống khổ của đời sống họ thắc mắc bao giờ Đấng Messiah mới tái hiện để cứu chuộc họ, nhưng rồi họ tiếp tục sống, như thể chẳng hề có chuyện gì kinh khiếp xảy ra. (Lò Thiêu là tai họa từ trên trời giáng xuống, giống như căn nhà sống lâu năm một hôm sơ sẩy để cháy rụi.) Singer chẳng “sáng tạo” gì trong tình yêu, nhưng ngòi bút ông lột tả được tâm lý và cảnh huống sống của con người và nó cực hay, hay đến độ một hôm người ta phải trao giải Nobel Văn chương cho ông.


Đoạn tôi nghĩ đến Leonard Bernstein. Ông là nhà soạn nhạc lừng danh của nước Mỹ thế kỷ XX vừa qua. Suốt thời gian tại thế ông đã để lại cho chúng ta nhiều tuyệt tác âm nhạc, trong đó vở đại nhạc kịch West Side Story là một. Vở kịch cố nhiên là hoành tráng, âm nhạc phong phú đến độ bất tử, và đã đưa tên tuổi Bernstein lên thành một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất của thế kỷ XX. Nhưng cốt truyện của vở nhạc kịch đó chỉ là sự mô phỏng theo chuyện tình trong vở Romeo and Juliet do Shakespeare viết trước đó ngót nghét bốn thế kỷ – Bernstein không hề “làm mới” tình yêu.


Hai nhân vật lẫy lừng của văn học nghệ thuật nhân loại thế kỷ XX, hai bậc thầy của nghệ thuật và tình yêu, đã không chủ trương “làm mới” tình yêu thì tôi có thể ngủ yên, không sợ mình tụt hậu, không sợ ông hay bà Kim Thánh [Ta] Thán nào đó phê là giẵm vào gót chân Hồ Biểu Chánh khi cầm bút (hoặc gõ máy vi tính) thuật một chuyện tình.


 

3.

 

Nhưng tôi có nên nghe lời khuyên của người bạn văn viết cho thật “bạo liệt” – bất chấp tính vô luân của câu chuyện, bất chấp những gì người đời và Hội Thánh lên án – hầu theo kịp trào lưu mới, như thể hễ cứ viết cho thật “bạo liệt” là văn chương tôi sẽ “mới”? Tôi đồ muốn viết cho “bạo liệt” có lẽ chỉ còn cách khai thác cái phần tâm lý đen tối, sâu thẳm của con người, cái phần người đời hay gọi là sa-đích, và thú thật, tôi muốn lắm, nhưng mỗi lần định viết cho thật “bạo”, thật “liệt” thì những chi tiết khiếp hãi miêu tả chuyện hai (hoặc nhiều hơn) thân xác con người nhập vào nhau trong hoan lạc trong văn chương của ông tổ sư sa-đích Marquis de Sade sống cách đây trên hai thế kỷ lại quay về lởn vởn tâm trí tôi. Và tôi tịt ngòi. Tôi hiểu sa-đích theo ý nghĩa nó là một phần tâm lý con người, dù là phần đen tối, và tôi thấy nó không gớm ghiếc, xấu xa chút nào. Con người có gì là tốt lành tuyệt đối đâu và đừng biến văn chương thành bài học giáo lý. Nhưng giữa sa-đích trong văn chương và một cuốn truyện khiêu dâm hạng tồi, lằn ranh biên cương có lẽ không rõ ràng lắm và ngòi bút rất dễ sa đà, rất dễ bị hiểu sai, trừ phi tôi là William Faulkner hoặc Mary Gaitskill.


Thuật một câu chuyện vô luân nhưng tác phẩm được đánh giá là tuyệt tác, ngoài Vladimir Nabokov ra tôi nghĩ ít ai làm nổi. Chính cái phong cách văn học trong tác phẩm tiểu thuyết Lolita, hiển thị bởi tài năng tuyệt luân sử dụng ngôn ngữ – phải nói là linh diệu – đã đưa cuốn sách của Nabokov lên đỉnh cao của nghệ thuật tiểu thuyết. Đi vào văn chương sa-đích có lẽ giống như lái xe đua, chẳng mấy ai có khả năng bình tĩnh điều khiển nổi chiếc xe phóng với tốc độ bốn trăm kilô-mét một giờ. Còn tôi, kim tốc độ mới nhích lên con số một trăm tôi đã run bắn lên rồi.

 

 

4.

 

Đã cầm bút chẳng ai không muốn làm mới ngòi bút mình. Thật ra, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, truyền thống và cách tân bao giờ cũng là hai phạm trù tương hợp. Cái mới của ngày hôm qua là cái cũ của ngày nay, và cứ thế, cái mới của ngày nay sẽ là cái cũ của ngày mai. Mỗi thế hệ sáng tạo là những kẻ kế thừa di sản văn hóa và nghệ thuật của những thế hệ đi trước, họ khổ công tìm tòi, chắt lọc muôn vàn vốn liếng cũ cũng như chất liệu mới nhằm đáp ứng yêu cầu nghệ thuật của thời đại họ đang sống. Nắm bắt được nhịp đập trong văn chương nghệ thuật của thời đại mình – chưa kể đến những phong cách tân kỳ; những ý niệm mới mẻ; những phê phán gay gắt quyết tâm bác bỏ các quan niệm cũ; dung nạp những giá trị hoàn toàn mới, chưa từng có bao giờ – đã là một hành động cách tân tích cực rồi. Bởi thế, sự tiếp nối truyền thống, sự tiếp nối sao sát giữa thời quá khứ với thời hiện tại, là ý thức cách tân hiển lộ, rõ ràng nhất.


Bởi thế, làm mới ngòi bút luôn luôn là nỗi ám ảnh lớn cho người chọn nghiệp văn. Nhưng có lẽ nỗi ám ảnh này đè nặng lên vai người làm thơ nhiều hơn người viết văn xuôi. Nói vậy bởi tôi nhớ đến câu nói của thi hào Joseph Brodsky trong tập văn luận Less Than One của ông, như sau:

 

"Không ai thẩm thấu quá khứ kỹ càng bằng nhà thơ. Nguyên do chỉ vì nỗi sợ hãi điều mình cho là sáng tạo thực ra đã được sáng tạo trước đó lâu lắm rồi. Đây chính là lý do vì sao thi sĩ thường đi trước thời đại."

 

Nỗi ám ảnh thường xuyên của người làm thơ là ngôi nhà thi ca hoành tráng của những người đi trước. Nó được xây dựng từ nhiều nghìn năm bởi không biết bao nhiêu tâm hồn thơ trác tuyệt. Làm sao tôi tìm ra kẽ hở, thấy được khiếm khuyết của tiền nhân, làm sao tôi tìm ra khoảng đất chưa ai khai phá hòng len vào “làm mới” thi ca? Đến thi tiên Lý Bạch mà còn bị Kim Thánh Thán phê là giẵm vào bước chân Thôi Hiệu!

Nhưng sự thật là thế hệ nào cũng có người đòi làm mới thi ca và chỉ riêng công trình của họ – chưa nói đến chuyện họ thành công hay thất bại – đã là điều đáng cho chúng ta khâm phục. Họ luôn luôn can đảm lên tiếng đòi thổi vào thi ca luồng gió mới. Họ cảm thấy vô cùng bức bối khi phải sống trong cùng một căn phòng chật hẹp, tù túng, với những món đồ cũ kỹ, mốc meo. Họ cất Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du và thơ của nhiều cụ ông cụ bà khác lên án thờ, lâu lâu đem ra khấn vái, nhưng họ nghẹt thở với cái cũ bên dưới xung quanh họ. Họ thường to miệng, quá trớn trong thái độ, ngôn ngữ, hành vi, và chúng ta hiểu tại sao. Họ là những tâm hồn nổi loạn. Họ thách đố các thế lực bảo thủ, cho dù các thế lực này là một nhà nước độc đảng, độc quyền hay một tập thể người đọc đầu óc trĩu nặng quán tính, khư khư bám giữ các giá trị hủ lậu, cũ mèm. Cuộc tranh luận gay gắt giữa họ và các thế lực bảo thủ hay xảy ra, và thường dẫn đến những diễn ngôn phi-thơ, chẳng dính dáng gì đến thơ mà chỉ là những luận điệu hết sức vớ vẩn, cãi lấy được, từ cả hai phía. Tuy vậy, con đường họ đi chông gai lắm, và cái giá họ phải trả thường là rất đắt. (Nguyễn Vỹ dưới trận mưa gậy tàn độc tới tấp của Hoài Thanh. Còn Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng và nhiều người khác thì bị giam hãm trong bóng tối oan khiên cả gần đời người.) Chúng ta chịu ơn họ, bởi nhờ họ chúng ta không bị chết ngạt giữa một vườn hoa toàn cúc vạn thọ. (Xin cám ơn cụ Phan Khôi).


Nếu cuộc tranh luận ấy diễn ra giữa hai nhà thơ (một mới một cũ) thì kết quả thường chẳng đi đến đâu. Sau khi choảng nhau đến bươu đầu sứt trán, ai nấy về nhà tiếp tục làm thơ như cũ, sự việc chẳng mảy may thay đổi hòa bình thế giới, và thiên hạ cũng chẳng ai buồn quan tâm, mọi sự chìm ngay vào quên lãng. Nhưng nếu một bên là nhà thơ và bên kia là tập đoàn thống trị với quyền lực và súng đạn trong tay thì nhà thơ bắt buộc phải cởi giáp quy hàng thôi. Đó là cái gì xảy ra tại cuộc “Tranh luận văn nghệ Việt Bắc” năm 1949, mà nhà thơ Nguyễn Đình Thi là người bị đem ra “nấu.” Tại cuộc tranh luận, chẳng những các quan to như Tố Hữu, Hà Xuân Trường (nhìn từ con mắt Mác-xít) phê phán thơ Nguyễn Đình Thi là “còn nặng mùi tiểu tư sản, cá nhân chủ nghĩa, xa lạ quần chúng, v.v…” mà các nhà thơ, nhà văn to đầu khác như Thanh Tịnh, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu (nhìn từ con mắt nghệ thuật) cũng gay gắt chỉ trích bảo đấy không phải là thơ. Thơ gì mà hũ nút, khó hiểu, lan man, chẳng vần điệu gì sất. Thơ thì phải có vần chứ (Nguyễn Đình Thi lúc đó trình làng những bài thơ không vần), thơ không vần thì không thể gọi là thơ! Các cụ này lập luận như thế. Ngày nay chúng ta có thể cả cười nhún vai xem đó là chuyện tào lao, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ nó là bản án tử hình cho người làm thơ chứ chẳng phải chuyện đùa.


Kết quả, từ đó Nguyễn Đình Thi phải bỏ hẳn lối thơ không vần, thậm chí ông còn trở ngược lại chữa những bài thơ cũ không vần thành có vần!

Nghệ thuật không có đường tắt và không có giá khuyến mãi on-sale. Đi vào nghệ thuật có nghĩa là tự mình chấp nhận cái giá chịu khổ đau. “Phong vận kỳ oan ngã tự cư.” Chính cụ Nguyễn Du cũng đã phải chua xót thốt lên như thế.

 

 

5.

 

Đến đây tôi xin mở dấu ngoặc, đó là, một thế kỷ thi ca của nhân loại vừa qua là một thế kỷ của cách tân không ngừng. Từ trường thơ Tượng trưng cuối thế kỷ XIX, trường thơ Vị lai, Siêu thực đầu thế kỷ XX cho đến thơ Hậu Hiện đại thời bây giờ, thơ chẳng bao giờ biết mệt mỏi trên con đường khai phá. Không phải trào lưu nào cũng thành công. Có những trường thơ xuất hiện ồn ào như thơ Cụ thể, xâm lĩnh đất đai thơ suốt hai thập kỷ 50 và 60, nhưng rồi đột ngột rút lui vào bóng tối và ngày nay tồn tại như một cước chú trong các giáo trình văn học sử. Nếu phải làm một danh mục liệt kê các trường phái thơ suốt thời gian ấy (với những biệt danh ngồ ngộ như Thơ Nằm Ngang, Thơ Thẳng Đứng), tôi đồ một trang giấy chắc là chưa đủ. Rất nhiều trường thơ chịu chung số phận thơ Cụ thể, nhưng điều đó không quan hệ đối với thơ.


Sự làm mới nói chung có lẽ bắt đầu có nhịp điệu Allegro dồn dập ở những năm đầu thế kỷ XX. Vào thời điểm này, có sự dịch chuyển hệ hình trong tư duy con người (dĩ nhiên người Tây phương) về thực tại. Trước đó người ta quan niệm thực tại là thế giới khách quan, độc lập với ý thức con người. Do đó, con người chỉ nên phản ánh thực tại một cách trung thực, miêu tả y như thật, càng thật càng tốt. Nhưng càng ngày người ta càng thấy thực tại là bất định, nhất là sau khi hai ông Einstein và Bohr trình làng thuyết Tương đối và thuyết Lượng tử làm đảo lộn mọi tư duy về thực tại. Bỗng nhiên người ta thấy thực tại trở nên hỗn độn, không còn dễ dàng nắm bắt bản chất của nó nữa, văn nghệ lâm vào cuộc khủng hoảng thực tại và từ đó dẫn đến tình trạng khủng hoảng biểu đạt. Nhưng trong cái rủi có cái may. Chính nhờ sự khủng hoảng biểu đạt này mà thế giới có được không biết bao nhiêu trường phái văn nghệ mới ra đời, trong đó có thơ, và dòng chảy đó vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay, không hề ngưng trệ.


Thời gian sắp tới, sẽ có nhiều trường thơ mới, sẽ có nhiều thi sĩ tiếp tục làm mới thi ca. Tôi có cảm tưởng trong lúc không còn ai quan tâm đến thơ nữa thì nó vẫn lầm lũi đi. Con đường của nó là con đường xuyên vũ trụ, chẳng bao giờ đến đích, và nó cũng chẳng cần đến đích làm gì. Thơ không cần mục đích, lại càng không nói đến sứ mệnh cao cả (kẻ rao giảng sứ mệnh của thi ca là kẻ mắc hội chứng hoang tưởng hết thuốc chữa), càng không quan tâm đến sự thành công hay thất bại của chính mình.


Tuy thế, ở mặt khác, tôi nghĩ tất cả những thi sĩ chân chính của nhân loại đều là những người cách tân nghệ thuật.


Thi sĩ Đỗ Quý Toàn bảo làm thơ tức là làm mới tiếng nói. Theo ông, khi được chiếc đũa thần của nhà thơ gõ vào, tạo vật, cảm xúc bình nhật đột nhiên bừng lên như có linh hồn mới. Tôi thích định nghĩa này của nhà thơ họ Đỗ, cổ điển nhưng chính xác qua mọi thời đại. Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền thì bảo, “Tôi đi tìm tiếng nói / cho cổ họng của tôi.” Chính vua Trần Thánh Tông cách đây gần nghìn năm cũng đã có ý niệm tương tự khi ngài bảo “Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân.”


Khai triển thêm, tôi có thể nói, giữa những con chữ, ở tầng thứ nhất, tầng của chữ nghĩa, thơ phả luồng ánh sáng diệu kỳ vào sự vật khiến linh hồn chúng như trỗi dậy từ cái tầm thường, vô vị. Sang tầng thứ hai, tầng của cảm xúc, thơ đi vào lòng chúng ta. Nhưng phải bước lên tầng thứ ba, tầng của cái bất khả tư nghị, của sự phối ngẫu tuyệt mỹ giữa cảm xúc và nghệ thuật, thơ mới thật sự là con phượng hoàng bay lên từ cõi hoang tàn, đổ nát.


Nếu thế thì mỗi bài thơ là một sự cách tân, mỗi thi sĩ là một người làm mới sự vật. Có những điều chỉ ngôn ngữ thi ca mới nói được, chỉ thi ca mới có cái “thần” giúp chúng ta thấu thị tận đáy sâu của bản ngã. Người làm thơ là người nắm trong tay quyền năng “soi sáng” sự vật, quyền năng cho sự vật một đời sống mới, quyền năng “đi vào linh hồn của sự vật[1],” và không ai có thể tước đoạt quyền năng đó từ tay hắn.

-- Trịnh Y Thư 

 

[1] Trong một thư gửi nữ sĩ George Sand, nhà văn Gustave Flaubert bảo, “Tôi viết, bởi tôi muốn đi vào linh hồn của sự vật.”

Chỉ cần lão bước thêm một bước nữa, hay nói chính xác hơn là lão đụng vào mẹ hắn, một cú bàn long cước sẽ tung thẳng vào cuống họng của lão, và tiếp đó là một cú cắm thiết chõ vào ngay giữa trán lão. Cú đòn này hắn đã luyện suốt hơn hai mươi năm nay, từ thời ngăn sông cấm chợ, cái thời mà các lò võ phải lén lút tập luyện lúc ba giờ sáng, các võ đài do nhà nước mở ra chỉ để đánh cuội mang tính trình diễn và những võ sĩ thực thụ không bao giờ bước lên võ đài ấy. Hắn luôn sống trong hối hận và ăn năn.
Nhớ lại năm 1407, quân Minh xâm lược Đại Việt ta, cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải sang Kim Lăng, nước Tàu. Nguyễn Trãi khóc tiễn cha đến tận ải Nam Quan thì Nguyễn Phi Khanh khuyên ông trở về mưu đồ phục thù và rửa hận cho cha bằng con đường cứu nước. Nói tới Nguyễn Trãi mà tiếc cho nước mắt của ông. Ngày xưa, khi tiễn cha bị đày qua Tàu nước mắt Nguyễn Trãi đã thấm ướt cửa ải nước Việt. Ngày nay Ải Nam Quan đã thuộc phần đất của Tàu, thế thì nước mắt ngày xưa của Nguyễn Trãi nay đã trở thành giọt lệ khô trên đất Tàu vậy.
Bây giờ, mỗi lần đi coi hát, nhìn thấy những diễn viên thủ những vai phụ, tôi lại chợt nhớ đến Liêm. Tôi nhìn lên những diễn viên đó (những diễn viên mà suốt một vở tuồng chỉ xuất hiện vào khoảng độ mười phút trở lại) lòng se sắt một nỗi buồn. Hình ảnh của họ là hình ảnh của Liêm mười năm về trước. Cũng những vai trò tầm thường ấy, cũng những câu nói ngắn ngủi ấy, có khi là một vai lính hầu suốt buổi hát chỉ chờ để “Dạ” một tiếng thật lớn, có khi là một vai tướng cướp, một tên côn đồ hung dữ mà vở tuồng chưa qua khỏi màn đầu đã bị giết chết. Tôi nhìn họ, nghĩ đến những chiếc tàu nằm ở những ga hẻo lánh, suốt đời chỉ giữ có mỗi một nhiệm vụ là đẩy giúp những con tàu chính lên khỏi một đoạn đèo dốc. Ngày xưa, đã có lần tôi ví Liêm là chiếc đầu tàu xe lửa đó.Liêm với tôi quen nhau hết sức tình cờ. Ngày ấy tôi đi theo một đoàn hát cải lương lưu diễn quanh năm tại các tỉnh miền Bắc. Tôi giữ vai trò cũng không lấy gì làm quan trọng lắm trong đoàn hát này. Suốt ngày, tôi chỉ có một nhiệm vụ
Một buổi sáng nọ giữa tháng ba như mọi ngày người đàn ông gốc Việt cư ngụ nơi một thành phố miền Nam California ra khỏi nhà để đi bộ. Ông nhìn thấy một thế giới khác. Con đường không một bóng người qua lại. Xe cộ chỉ vài ba chiếc vụt qua rồi để lại một khoảng không trống rỗng. Thường ngày vào lúc đó con đường này đầy xe cộ và người đi bộ đưa trẻ em đến trường đi học. Hôm đó, ngay sau ngày, 19 tháng 3 năm 2020, Thống Đốc California ra lệnh người dân ở trong nhà và đóng cửa tất cả cơ sở kinh doanh không quan trọng, con đường này vắng hoe, im lặng, trống trải dị thường! Rồi những ngày sau đó, nhiều thành phố, nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ tuyên bố đóng cửa các cơ sở kinh doanh không quan trọng và những ai không có việc cần đi thì ở trong nhà. Nhiều nước trên thế giới cũng thực hiện cùng những biện pháp để chận đứng đà lây lan nhanh chóng không thể tả của đại dịch COVID-19, vốn phát xuất từ thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc từ tháng 11 năm 2019. Cả thế giới chìm sâu vào kho
Chết tuy xa mà gần. Xa, vì chúng ta nghĩ rằng nó chỉ đến sau nầy mà thôi; gần vì nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chết là điều cầm chắc, nhưng lúc nào là điều không ai có thể tiên liệu trước được. Khi giờ ra đi đã đến rồi thì không một lời lẽ nào có thể thuyết phục bắt nó phải chờ được, không một quyền lực nào đẩy lùi được nó, không có tiền của nào mua chuộc được, cũng như không có một sắc đẹp nào có thể rù quến nó được hết.
Bước vào năm con chuột, tìm đề tài liên quan đến con giáp nầy trong văn chương cho Giai Phẩm Xuân Canh Tý 2020 báo Saigon Nhỏ, mỗi năm tìm đề tài con giáp thích ứng cho giai phẩm hơi khó vì cứ 12 năm lại xoay vần, có nhiều bài viết trong quá khứ nên khó nhất là tránh sự trùng hợp.
Đại dịch COVID-19 phát xuất từ thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc từ cuối năm 2019 đang hoành hành khắp thế giới gây khủng hoảng và lo sợ cho toàn thể nhân loại, với số lượng người bị lây và thiệt mạng vì vi khuẩn corona mỗi ngày mỗi gia tăng. Nhưng trong lịch sử của loài người đây không phải là cơn đại dịch đầu tiên mà đã nhiều lần xảy ra. Đặc biệt dấu vết và ấn tượng của những trận đại dịch kinh hoàng này vẫn còn nằm trong những tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới từ thi hào Hy Lạp Homer thời cổ đại cho đến nhà văn Stephen King thời hiện đại. Trong nền văn học Tây Phương, từ sử thi Iliad của thi hào Homer trong thời cổ đại Hy Lạp và tuyển tập truyện Decameron của văn hào người Ý Giovanni Boccaccio trong thế kỷ 14 đến cuốn tiểu thuyết The Stand được xuất bản năm 1978 của nhà văn người Mỹ Stephen King và tiểu thuyết khoa học giả tưởng Severance được xuất bản năm 2018 của nữ văn sĩ người Mỹ gốc Tàu Ling Ma, tất cả đều có nói đến các trận đại dịch toàn cầu,
Chiếc áo đầu tiên quý giá nhất trong gia đình tôi là một chiếc “áo Vua ban.” Hồi ấy, ba tôi làm nghề cạo giấy và mẹ tôi buôn bán theo lối tài tử. Bà làm nghề mách mối mua bán đồ cổ. Ngoài ra, bà còn vác máy ảnh đi chụp cho các bà Hoàng, bà Chúa, bà Phi, bà Tần trong cung cấm. Nghề mách mối đồ cổ là một nghề rất nhàn. Bà chỉ việc diện bảnh, rẽ đường ngôi cho thẳng, bôi dầu dừa bóng loáng và thơm nức lên; chiếc quần cũng được là thẳng và xếp thành nếp, gọi là “xếp con”, năm con, bảy con gì đấy cho ra vẻ quý phái. Ăn mặc tề chỉnh như thế, bà chỉ việc đến nhà các mệnh phụ, công nương, ngồi lê đôi mách một vài buổi. Thế là “mệ” nào muốn bán cái gì, cụ nào muốn mua cái gì, mẹ tôi biết rõ cả. Bà chỉ việc vắt vẻo ngồi lên chiếc xe tay nhà, chạy đi chạy lại một vài lần, là kẻ mua người bán đều vui vẻ. Nghề chụp ảnh mấy chục năm về trước còn là một nghề rất mới mẻ, nhất là đối với các mệ, các bà Phi, Tần không thể ra ngoài phố tự do như người thường. Mẹ tôi: được các bà hoan nghênh vô cùng.
Giống như biến cố sụp đổ Bức Tường Bá Linh hay sự sụp đổ của công ty tài chánh toàn cầu Lehman Brothers, đại dịch vi khuẩn corona là sự kiện làm tan nát thế giới mà các hậu quả lâu dài của nó chúng ta chỉ có thể bắt đầu hình dung hôm nay, theo bài bình luận của nhiều nhân vật được đăng trên trang mạng www.foreignpolicy.com vào ngày 20 tháng 3 năm 2020 cho thấy. Điều rất chắc chắn rằng là cơn đại dịch này ngoài việc làm đổ vỡ cuộc sống, làm gián đoạn các thị trường và phô lộ ra năng lực của các chính phủ, nó còn dẫn tới nhiều thay đổi vĩnh viễn trong quyền lực chính trị và kinh tế theo những cách sẽ hiển nhiên về sau này. Sau đây là một số nhận định và tiên đoán từ những nhà chiến lược hàng đầu trên thế giới đối với trật tự toàn cầu sau đại dịch corona. Một thế giới ít cởi mở, ít thịnh vượng và ít tự do hơn. Theo Stephen M. Walt, giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại Học Harvard, cho rằng đại dịch corona sẽ củng cố chủ nghiã quốc gia và chủ nghĩa dân tộc.
Cách đây hai hôm (Chủ Nhật 28/9/2020), trang mạng Diễn Đàn Thế Kỷ có đăng hai bài viết đặc biệt liên quan đến Đại Dịch, bài Nguyễn Du – Homère và Bệnh Dịch của Phạm Trọng Chánh, và Đại Dịch COVID – 19 của Trịnh Y Thư. Trong bài của Phạm Trọng Chánh, phần sau có nhắc đến trận dịch tể xẩy ra từ thời cổ đại qua sử thi của thi hào Homère trong trường ca Iliad. Cả 1100 chiến thuyền và 100,000 quân sĩ vây quanh thành Troie bị thiệt mạng vì trận dịch kinh hồn. Phần trước chỉ ngắn ngủi mấy câu lại gây xúc động nơi tôi hơn khi nói đến trận dịch gây nên cái chết của thi hào Nguyễn Du của chúng ta.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.