Hôm nay,  

Ngọn lửa thiêng

22/09/202610:38:00(Xem: 119)
VHC 2(Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.)
 
*
 
Kính thưa quý vị và các bạn,

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say lửa cháy, của đam mêcô độc, của cõi thếtâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật.

Năm mươi năm sau ngày ông rời cõi thế, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một thi sĩ. Chúng ta tưởng nhớ một nhân cách nghệ sĩ, một người đã sống trọn vẹn với thơ, với nghệ thuật, với nỗi đau và niềm kiêu hãnh của dân tộc. Di sản của ông không nằm trong những trang sách cũ, mà trong cách chúng ta tiếp tục đọc, tiếp tục lắng nghe, tiếp tục để thơ ông soi sáng những vùng sâu thẳm của tâm hồn.
 
Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Vũ Hoàng Chương không phải là một dấu chấm hết. Nó là dịp để chúng ta cùng nhìn lại trang sử bi thương của dân tộc, và qua đó, biết đâu chúng ta học được bài học lịch sử một cách thấu đáo, trọn vẹn hơn.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đại diện cho một dòng chảy văn hóa độc lập, ông thuộc thế hệ thi sĩ tiền chiến – thế hệ đã đưa thơ Việt bước vào thời hiện đại bằng tinh thần tự do khai phóng đầy cá tính, và sự kết hợp hài hòa tuyệt hảo giữa truyền thống thâm thúy Đông phương và cảm thức lãng mạn Tây phương. Trong văn hóa Việt Nam, thế hệ này được xem như những người gìn giữ phẩm giá tinh thần, đặt nghệ thuật lên trên mọi mục tiêu chính trị.

Sau 1975, chính quyền mới muốn thiết lập một hệ chuẩn văn hóa duy nhất: văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ tuyên truyền chính trị. Trong bối cảnh ấy, một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương – người chủ trương “thơ là tiếng nói của tự do nội tâm” – trở thành biểu tượng của một truyền thống văn hóa không nằm trong hệ thống cai trị độc tài toàn trị.
 
Những nhà văn, nhà thơ như Vũ Hoàng Chương thường bị nhà nước nhìn bằng con mắt nghi kỵ. Ông không hoạt động chính trị, nhưng trong lịch sử Cộng sản Việt Nam, trí thức độc lập thường bị xem là nguy hiểm hơn những người chống đối công khai, vì họ có ảnh hưởng tinh thần sâu rộng.

Lịch sử Việt Nam cho thấy: mỗi khi xã hội biến động, văn chương trở thành nơi lưu giữ ký ức và lương tri. Thời Lê-Nguyễn, nhiều nhà Nho bị lưu đày vì dám viết những điều trái ý triều đình phong kiến. Thời Pháp thuộc, văn chương trở thành nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Sau 1975, văn chương lại đứng trước yêu cầu phải phục vụ một hệ tư tưởng mới. Trong dòng cuồng lưu ấy, Vũ Hoàng Chương là kẻ đứng ngoài nắng, không phải trong bóng mát: một thi sĩ trung thành với tự do tinh thần, và vì thế ông bị cuốn vào vòng xoáy của lịch sử, bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

 
Trong văn hóa Việt Nam, nhà văn-nhà thơ không chỉ là người sáng tác, mà còn là người giữ gìn lịch sử tinh thần và ký ức dân tộc, luôn coi trọng “tự do trong tâm tưởng”. Một chế độ muốn kiểm soát xã hội phải kiểm soát ký ức, và vì thế phải kiểm soát nội tâm người viết. Đối với họ, tự do nội tâm dẫn đến tự do tư tưởng, mà họ quy chụp là phản động.

Đó là lý do vì sao, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà nước Cộng sản đã bắt bớ, giam cầm, tù đày, hành hạ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo thuộc chế độ cũ. Nhiều người chết trong tù. Có người chỉ được thả về trong cơn hấp hối, về đến nhà thì tắt thở.

Nhà văn Nhã Ca, trong một chương trình phỏng vấn, đã cho chúng ta biết như sau về số phận của cả một tập thể trí thức văn nghệ sĩ Miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó như sau. Bà nói:

Trong chiến dịch tiêu diệt văn hóa, văn nghệ sĩ miền Nam tháng Tư năm 1976, Vũ Hoàng Chương, vị thi hào Việt Nam thế kỷ thứ 20, là người đầu tiên bị giết. Chiến dịch tàn khốc này đã kéo dài cả chục năm.  Hàng trăm văn nghệ sĩ bị bắt đi tù đầy, nhiều người không bao giờ trở về […] như học giả Hồ Hữu Tường, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường...”

Xem thế, số phận của Vũ Hoàng Chương không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ, mà là bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang. Ông bị bắt vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam lâu đời: tôn trọng tự do tinh thần, giữ gìn đạo lý, và dùng ngôn ngữ để soi sáng nhân tâm.

Trong lịch sử Việt Nam, những giá trị ấy luôn tồn tại – dù có lúc bị chèn ép, có lúc bị lãng quên. Nhắc đến Vũ Hoàng Chương hôm nay là nhắc lại một phần của bản sắc văn hóa dân tộc: văn chương Việt Nam không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước bạo lực.

Tại sao chúng ta không nên lãng quên cái chết của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và những người cầm bút Việt Nam khác, những người có cái chết tương tự như ông?

Nhớ đến cái chết của ông, trước hết, là nhớ đến một thời kỳ mà văn chương bị buộc phải im tiếng, và những giá trị tinh thần bị đẩy vào bóng tối.

Thứ hai, số phận của ông phản ánh bi kịch của trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX. Thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và những biến động chính trị tác động mạnh lên dòng sinh mệnh dân tộc. Trong những biến động ấy, giới trí thức – đặc biệt là những người giữ tinh thần độc lập – thường trở thành nạn nhân của lịch sử. Cái chết của Vũ Hoàng Chương nhắc nhở chúng ta rằng trí thức Việt Nam đã phải trả giá rất đắt cho việc giữ gìn phẩm giá tinh thần, và rằng tự do tư tưởng chưa bao giờ là điều hiển nhiên có sẵn cho chúng ta hưởng thụ.
 
Thứ ba, ông đại diện cho truyền thống “văn dĩ tải đạo” – tiếng nói lương tri của người Việt. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, văn chương Việt Nam luôn gắn với đạo lý, với tiếng nói của lương tri. Vũ Hoàng Chương tiếp nối truyền thống ấy: thơ ông không chỉ đẹp mà còn chất chứa nỗi đau, sự khắc khoải và những suy tư về thân phận con người. Cái chết của ông là lời nhắc nhở rằng khi tiếng nói đạo lý bị bóp nghẹt, văn hóa dân tộc cũng bị tổn thương.
 
Thứ tư, cái chết của ông là minh chứng cho việc văn chương có thể bị bức hại, nhưng không thể bị tiêu diệt. Dù nhà thơ bị giam giữ, dù bị xem là “phản động”, thơ Vũ Hoàng Chương vẫn sống. Nó sống trong trí nhớ của người đọc, trong những câu thơ truyền miệng, trong sự kính trọng của giới văn nghệ sĩ và mọi người dân khác. Nhắc đến cái chết của ông là khẳng định rằng bạo quyền có thể cầm tù, bức tử một thi sĩ, nhưng không thể xóa bỏ linh hồn của thơ. Câu thơ “Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu” có thể xem là lời tiên tri của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
 
Nhắc đến Vũ Hoàng Chương là nhắc nhở rằng văn chương, khi chân thật và đẹp đẽ, có thể vượt qua thời gian. Và hôm nay, khi chúng ta nhắc lại tên ông, đọc lại những câu thơ ông để lại, chúng ta đang tiếp tục hành trình mà ông đã khởi đầu, hành trình đi tìm cái đẹp trong một thế giới tàn bạo vô nhân tính.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Xin tri ân những gì ông đã để lại cho văn học Việt Nam. Và xin giữ cho ngọn lửa thơ ông tiếp tục cháy trong lòng mỗi chúng ta. Xin trân trọng cảm ơn quý vị.
 

– Trịnh Y Thư

Vậy là tác giả “Mật Đắng” của chúng ta đã trở thành góa bụa. Tôi không nghĩ trong đầu ông, trong tim ông, trong cõi lòng già nua héo úa của ông, có giây phút nào nghĩ đến rồi đây mình có thể thành “góa bụa”.
Sử truyện kể rằng ở nước Đại Việt vào thời Nhà Trần, có vị minh quân đã hai lần đánh bại đoàn quân viễn chinh hung hãn của Hốt Tất Liệt, người Mông Cổ sáng lập và cai trị nhà Nguyên ở Trung Hoa. Nhưng vị minh quân này đã không ở ngôi cửu trùng để tế thế an bang bằng con đường chính trị của bậc đế vương mà khoác áo nâu sòng xuất gia đầu Phật và sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm để đem giáo pháp giác ngộ của Phật Đà giải khổ cho muôn vạn chúng sinh. Vị minh quân và tổ sư ấy chính là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài cũng là nhà thơ kiệt xuất để lại nhiều áng thơ văn trác tuyệt đóng góp cho nền văn học nước nhà. Hơn bảy thế kỷ sau khi Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch, có một nhà thơ Việt ở gần tuổi ‘xưa nay hiếm’ (thất thập cổ lai hy) sống tha hương nơi xứ người mà tất dạ lúc nào cũng không rời cái nôi văn hóa và văn học của dòng giống Lạc Việt nên đã ngày đêm chuyên cần dịch thơ chữ Hán của Tổ Sư ra tiếng Việt để cho con cháu đời sau nhớ lấy di sản của tiền nhân.
Câu thơ cuối đối với tôi là câu thơ hay nhất "Rất hồn nhiên đụng cái mịt mù…" . Bỗng dưng làm tôi nhớ câu thơ hóm hỉnh của Mai Thảo "Đặt tay vào chỗ không thể đặt... Cười tủm còn thương chỗ đặt nào".
Hình ảnh chiếc thuyền không, ghếch mình lên cát chính là ẩn dụ “qua sông bỏ bè” được nói trong kinh Phật (2). Nhìn chiếc thuyền mà man mác hoài niệm cổ nhân một thời. Hoài niệm ở đây không phải là nỗi buồn thông thường của thế nhân. Chỉ là cảm khái về một hành trạng, một tâm thức xả ly siêu tuyệt tương ứng với sở hành sở đắc của tự thân.
Những ngày rộn ràng của Tết Tân Sửu đã qua. Nhưng dư hương của ngày Tết vẫn còn đâu đây, bởi vì theo truyền thống người Việt Nam ngày Rằm Tháng Giêng là Lễ Thượng Ngươn đi liền theo sau ngày Tết Nguyên Đán để cầu an cho mọi người và mọi nhà. Nói đến tục lệ ngày Tết của người dân Việt có liên quan đến ước nguyện cho một năm mới nhiều an lành và phúc lợi thì không thể không nói đến tục xin xăm, xin keo, bấm quẻ, xem số tử vi, v.v...Ngày đầu năm ở các chùa, các đình thờ hay tại những nơi có đông người tụ tập như các lễ hội Tết, chúng ta thường gặp hình ảnh những ông/bà thầy bói đội khăn đóng, đeo kính râm ngồi đâu đó để gieo quẻ coi bói cho thân chủ đầu năm, hoặc hình ảnh của những người thành tâm hai tay bưng ống đựng thẻ xăm lắt đều cho đến khi một thẻ xăm văng ra. Có người còn xem chữ ký, lật lá bài, hay xem tướng mặt và bàn tay để tiên đoán vận mệnh cát hung cho thân chủ hay cho người quen vào dịp đầu năm.Cũng trong dịp đầu năm, với tính cách quy củ và hàn lâm hơn, đâu đó không thiếu
Số là tôi có cái may từ nhỏ đã được nghe rất nhiều câu ca dao trong lời hát ru từ những người xung quanh từ dưới quê cho tới thị thành. Nghe riết rồi thuộc, rồi thấm hồi nào không hay, rồi lâu lâu lôi ra nghiền ngẫm: ‘sao ông bà mình hồi xưa hay vậy ta? Nói câu nào trúng câu đó!’
Có lẽ vì vậy mà một năm con chuột vừa qua có quá nhiều biến động và khủng hoảng, từ đại dịch vi khuẩn corona làm chết hơn 2 triệu người trên toàn thế giới đến vụ bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tạo ra một thời kỳ ảo vọng và phân hóa trầm trọng trong lịch sử của Xứ Cờ Hoa. Đại dịch đã thay đổi tận gốc các phong tục tập quán và lối sống của con người. Ngày nay đi đâu cũng thấy mọi người đeo khẩu trang, đứng cách nhau hơn một mét rưỡi, ngần ngại khi đi gần người khác, tránh xa khi thấy người nào đó ho, nhảy mũi. Sinh hoạt kinh tế cũng đã có nhiều thay đổi. Các cơ sở thương mại đóng cửa quá lâu đã phải dẹp tiệm luôn. Đa phần con người chuộng mua hàng qua mạng, ít có người muốn đi mua sắm ở các thương xá như lúc trước, bằng chứng là ngày Thứ Sáu Đen (Black Friday) trong cuối tháng 11 năm 2020 số người đi mua sắm đã sút giảm đáng kể trong khi số người mua qua mạng đã tăng vọt. Sự sa sút của kinh tế đã làm cho ngày càng có nhiều người nghèo hơn, đói khổ hơn và do dó nhu cầu trợ giúp thực phẩm
Thấm thoát đã 45 mùa xuân lướt qua đời mình, từ ngày tôi bắt đầu chập chững những bước tị nạn trên xứ người. Ký ức mùa xuân của tôi như dòng sông chảy ngược về nguồn, lúc vun vút, khi chậm rãi luân lưu giữa chập chùng biển hồ dĩ vãng. Theo chân gia đình ra khỏi trại Pendleton thuộc Quận San Diego, tiểu bang California, tôi về định cư ở thành phố của Những Thiên Thần (Los Angeles)vào những ngày tháng cuối năm 1975. Mùa xuân Bính Thìn 1976 đầu tiên trên miền đất hứa Hoa Kỳ, bố tôi dẫn gia đình đến thăm ngôi chùa Việt Nam toạ lạc ở đường Berendo của thành phố này. Mẹ tôi là người hái những chiếc lá lộc non đầu năm để cầu nguyện cho gia đình và cuộc sống tương lai không biết sẽ ra sao trên vùng đất mới. Ngày ấy tôi chưa đủ trưởng thành để xao xác với niềm nhớ quê hay trằn trọc với những hoài vọng luyến thương canh cánh như bố mẹ tôi. Tôi chỉ biết dõi theo những khuôn mặt ưu tư trĩu nặng của khách dâng hương đang thành kính khấn vái trên chiếc chiếu cói trải trước Phật Đường. Từ đó Chùa Việ
Tôi không cần phải tìm kiếm một câu chuyện tình yêu hay nhất cho ngày Valentine ở nơi xa xôi nào cả. Câu chuyện ấy ở thật gần bên tôi và tôi đã được nhìn thấy mỗi ngày: ngay cả cái chết đã không bao giờ có thể chia cách mối thâm tình giữa Ông Nội và Bà Nội tôi. Kể từ sau khi ông mất, Bà vẫn thương nhớ Ông và đến bên bàn thờ tâm sự với Ông mỗi ngày.
Khi còn trẻ, ông đi về hướng tây để tới tiểu bang tự do Illinois. Vào ngày 27 tháng 1 năm 1838, bài diễn văn Lyceum của Abraham Lincoln đã đọc cho các học sinh trung học đệ nhất cấp của Springfield tại Illinois, và trong bài diễn văn ông đã nói đến chế độ nô lệ. Trước đó 7 tuần lễ, một đám đông người tại Illinois đã giết chết Ikijah Lovejoy, một mục sư giáo phái Presbyterian và là chủ bút của một tờ báo có quan điểm chống chế độ nô lệ mạnh mẽ. “Tâm trạng của người dân Illinois khi đám đông giận dữ giết chết Lovejoy là ủng hộ chế độ nô lệ, nhưng không phải chỉ có tại Illinois. Các nhà lập pháp tiểu bang của Connecticut và New York vào thập niên 1830s đã thông qua nhiều nghị quyết bắt đầu rằng chế độ nô lệ được chấp nhận trong Hiến Pháp Hoa Kỳ và rằng không có tiểu bang nào có quyền để can thiệp.” Chính Lincoln đã là một trong 6 Dân Biểu của Hạ Viện tại Illinois đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết nói rằng “quyền sở hữu nô lệ là thiêng thiêng … (rằng) chúng tôi không đồng ý về việc
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.