Hôm nay,  

Tự Thắng

03/05/202617:15:00(Xem: 392)

Đức Phật xuất hiện trên đời là để khai mở khả tính giác ngộ của chúng sanh, dẫn đạo chúng sanh thâm nhập tuệ giác của Phật (1), nhờ đó mà hết vô minh, dứt tham ái, giải thoát thống khổ.

Đó là đứng trên mặt bản thể, triết lý. Còn trên mặt hiện tượng, đời sống thực của chúng sanh, không đơn giản để đạt được tuệ giác như Phật.

Thống khổ cuộc đời bắt đầu từ vô minh, tham ái của chính chúng ta. Hoàn cảnh xã hội là thứ yếu. Do vô minh, tham ái, và các phiền não căn bản đều thuộc tự tâm, tự ngã, con đường chinh phục chế ngự chúng là con đường thiền định, nội quán. Đức Phật đã kinh qua con đường này từ thiếu thời cho đến những năm tháng học đạo, khổ tu, và cuối cùng là sự chứng ngộ tuệ giác tối thượng sau 49 ngày đêm thiền quán dưới cội bồ-đề, bên bờ sông Ni-liên-thiền (2).

Thành tựu vẻ vang này không phải là chiến thắng, chinh phục ai, mà chính là tự thắng. Một mình cô liêu bên bờ sông, Đức Phật đã tự thắng, và hoan hỷ tự thán: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta gặp được ngươi rồi. Ngươi không thể làm nhà nữa. Cột và đòn tay của ngươi đều gãy cả, nóc và xà nhà của ngươi đã tan vụn rồi. Ta đã chứng đắc Niết bàn, bao nhiêu dục ái đều dứt sạch” (3). Sự chứng đạo của Đức Phật là vô tiền khoáng hậu. Hơn 25 thế kỷ qua, tất nhiên đã có những người nối gót Ngài, đạt được tuệ giác vô thượng; nhưng người khai đường, dẫn lối vẫn chỉ duy nhất là Ngài, bậc Đạo Sư Tối Thắng. Không có sự chứng ngộ của Ngài, sẽ không có đạo Phật, sẽ không có Tứ Thánh Đế, không có Bát Chánh Đạo, không có trí Bát-nhã thậm thâm xa lìa mọi thống khổ.

Chúng ta khó lòng tự thắng như Đức Phật, nhưng có thể tùy theo hoàn cảnh và căn cơ của mình để học theo phương thức nội quán hàng ngày, may ra có thể ngăn chận bớt các phiền não, không làm điều xấu, tích cực làm việc lành, tự tịnh hóa tâm ý (4). Làm được vậy đã là một kỳ công trong cuộc đời.

Nội quán như thế nào? – Khi khởi ý làm một điều gì, hãy tự hỏi ta làm điều này vì mục đích gì, và ý chí thúc đẩy làm việc này là từ đâu? Cụ thể hơn: tại sao ta muốn đạt ngôi vị/tài sản đó? Tự xét một cách trung thực, nếu vì lợi ích cho số đông, phục vụ số đông thì nên; còn như vì danh, vì quyền lợi cho ta, cho thân nhân, bằng hữu, phe phái của ta, thì không nên. Từ người thuộc cấp cho đến lãnh đạo, trong các tổ chức xã hội dân sự, tôn giáo, quốc gia, quốc tế, nếu ai cũng biết tự xét, tự tri, tự chế trước mọi khởi điểm, nguyên nhân, tất nhiên kết quả thiện lành sẽ đến với thế giới. Đạo Phật thường nói “tâm bình, thế giới bình” là vậy.

Quan sát, kiểm soát và chế ngự tự tâm, điều hướng tất cả ý nghĩ, lời nói và hành động theo lẽ chân thiện, đó là tự thắng. Tự thắng là chiến công hiển hách nhất của con người, mọi thời đại (5).


_________________


(1) Yếu chỉ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, minh định rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức khả năng tiềm tàng để đạt đến giải thoát giác ngộ tối hậu như Đức Phật.


(2) Theo Wikipedia: Niranjana, nay là sông Lilājan (còn được biết đến với tên tiếng Phạn là: Nirañjanā) là một dòng sông chảy qua các huyện Chatra và Gaya, thuộc hai bang Jharkhand và Bihar của Ấn Độ. Đức Phật ngồi dưới gốc cây pippala gần đó, nơi cuối cùng Ngài đã đạt được sự Giác ngộ. Cây này về sau được biết đến là cây Bồ Đề (Bodhi tree), và địa điểm này được gọi là Bodh Gayā.
(3) Kinh Pháp Cú, câu 153 – 154, bản dịch của HT Thích Thiện Siêu. Theo chú thích của Hòa thượng, “Kẻ làm nhà chỉ nguyên nhân luân hồi, lòng tình dục, nhà là chỉ thân thể, rui mè là chỉ các thứ dục khác, kèo cột là chỉ vô minh.”
(4) “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” (Đừng làm việc ác, nên làm việc lành, giữ ý trong sạch, đó lời Phật dạy).
(5) Kinh Pháp Cú, kệ 103: “Thắng ngàn quân giặc ở chiến trường chẳng bằng tự thắng. Người tự thắng là chiến sĩ oanh liệt nhất.” (HT Thích Thiện Siêu dịch từ bản Hán). HT Thích Minh Châu dịch từ Pàli: “Dầu tại bãi chiến trường / Thắng ngàn ngàn quân địch / Tự thắng mình tốt hơn / Thật chiến thắng tối thượng.”

biachanhphap174
Hình bìa: EsseGraphic (Pixabay.com)



CHÁNH PHÁP Số 174, tháng 05.2026

NỘI DUNG SỐ NÀY:

· THƯ TÒA SOẠN, trang 2

· KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN – MỘT HỆ LUẬN ARTEMIS II LÊN CUNG TRĂNG (Nguyên Siêu), trang 3

· TRƯỜNG CA PHẬT ĐẢN (thơ Vũ Hoàng Chương), trang 5

· THÔNG ĐIỆP PHẬT ĐẢN PL 2570 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 6

· THƯ MỜI ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2570 – DL 2026 (GHPGVNTNHK), trang 7

· VĂN TƯỞNG NIỆM ĐẤNG ĐẠI GIÁC THẾ TÔN (Thích Chúc Hiền), trang 8

· TAM PHÁP ẤN (HT. Thích Nhất Hạnh giảng), trang 10

· NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 15

· NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG VĨ ĐẠI, HOA KHAI ÁNH ĐẠO VÀNG (thơ Đồng Thiện), trang 19

· CHÁNH KIẾN TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CON PHẬT (HT. Thái Hòa), trang 20

· THẮP LÊN NGỌN ĐUỐC (thơ Diệu Viên), trang 23

· SƠ QUÁT VỀ CHỮ TÁNH VÀ CHỮ TƯỚNG TRONG ĐẠO PHẬT QUA DUY THỨC HỌC (Khánh Hoàng), trang 24

· TỨ CÚ LỤC BÁT “TÂM” (thơ Vĩnh Hữu Tâm Không), trang 27

· ĐỨC PHẬT DẠY: HÃY TỰ ĐỘ VÀ ĐỘ THA (Nguyên Giác), trang 28

· RẰM THÁNG TƯ (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 30

· PHẬT ĐẢN TRONG LÒNG TÔI (Phật Pháp Thứ Năm – Nhóm Áo Lam), trang 31

· “VÔ NGÔ TRONG TAM PHÁP ẤN (TN Hằng Như), trang 33

· CHÁNH NIỆM (thơ Minh Đạo), trang 36

· LỜI MẸ KHUYÊN (thơ TM Ngô Tằng Giao), trang 39

· THÔNG BÁO SỐ 1 - Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ lần 12, trang 40

· THÔNG BÁO AN CƯ KIẾT HẠ & ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN LẦN THỨ II, NHIỆM KỲ V, trang 41

· VĂN HỌC THIỀN (Huỳnh Kim Quang), trang 42

· VÀO CHÙA (thơ Trần Hoàng Vy), trang 46

· BẢN SANH: TRUYỆN 8 – JATAKA TALES: STORY 8 (Nguyên Giác), trang 47

· TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N), trang 49

· TÂM BÌNH, THẾ GIỚI BÌNH (Tâm Thường Định), trang 51

· BÌNH AN TRONG TỪNG SUY NGHĨ THIỆN LÀNH (Tuệ Uyển Nhi), trang 53

· ÁNH ĐUỐC KIỀU ĐÀM: NGUỒN CỘI VÀ SỰ TIẾP NỐI (TN Giới Hương), trang 54

· HOA VÔ ƯU, GIỮA CHỐN THỊ PHI (thơ Tuệ Đan), trang 56

· KHÔNG CHỖ DÍNH MẮC (Lãng Thanh), trang 57

· MỘT NGÀY MỚI, BÌNH YÊN (thơ Hoàng Thục Uyên), trang 58

· NẮNG RÁT, VẪN NỞ HOA SEN TRẮNG (Sen Trắng) trang 59

· CỞI TRÓI tập 2 – chương 22 (truyện dài Vĩnh Hảo), tr. 61

· TAI HẠI CỦA LÒNG THAM (Truyện Cổ Phật Giáo), trang 67


https://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202026/CP%20so%20174%20(05.26).htm 


Ngày nay đạo Phật truyền bá rộng rãi và phổ biến ở nước Nga. Tôi có kết bạn với một cô Phật tử người Nga, ban đầu cô ấy là một tín đồ chính thống giáo, nhưng sau khi đọc một ít tài liệu khái quát về Phật giáo và cô ấy đã thay đổi, theo lời cô ấy thì” Một sự hoan hỷ và truyền cảm như trỗi dậy từ trong tiềm thức”.
Tổ Tiên, Cha Mẹ là những người đã tạo nên “thân mạng” cho chúng ta; với công lao to tát hy sinh khổ cực trăm bề để nuôi dưỡng chúng ta lớn khôn nên người. Chúng ta phải lo đáp đền ân sâu nặng nầy mới trọn đạo làm người, lúc cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời. Chính Đức Phật cũng dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp, dù các con có báo hiếu bằng cách cắt thịt da dâng cho cha mẹ lúc cha mẹ đói khát cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
Nước Việt Nam đã bị người Pháp đô hộ khoảng một trăm năm. Gần trăm năm đô hộ tại Việt Nam người Pháp phải đương đầu với nhiều lực lượng kháng chiến chống thực dân không ngừng nghỉ. Truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt đã giục giả nhiều thanh niên thiếu nữ yêu nước đã lên đường. Một trong những nhà tranh đấu là ông Trần Hửu Duyên người may mắn được thân cận với Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Hân hạnh giới thiệu ông Trần Hửu Duyên với cuộc đời kháng chiến chống ngoại xâm, chống bạo lực và tranh đấu cho tự do dân chủ.
Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng, chính là cầu kiến Phật tánh, tánh giác của mình, cầu kiến bản tâm thanh tịnh của mình, cầu kiến để tiêu trừ vô minh phát sinh trí huệ, tăng trưởng từ bi, kiên cố bồ đề tâm. Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng không chỉ mỗi mặt lý hay đơn thuần mặt sự mà lý sự phải đi đôi thì mới không bị nghiêng lệch, phải lý sự viên dung thì mới thật sự là cầu kiến.
Đạo Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay. Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp môn: Bắc tông, Nam tông, nguyên thủy, mật tông. Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độ, kim cang thừa…
Pháp môn Tịnh độ còn được gọi là pháp môn niệm Phật do bản nguyện của Đức Phật A Di Đà mà thành. Chữ A Di Đà dịch âm từ chữ Phạn Amitābha, chữ Hán dịch là Vô lượng thọ và Vô lượng quang; nghĩa là tuổi sống lâu không số lượng kể, Ngài có hào quang tỏa sáng không lường...
Với lòng thành, với tu theo Quán thế Âm từ lâu khi còn ở Huế, cầu xin được hai ngày thì có báo ứng. Tự nhiên có 3 con cá voi, một con đi đầu dẫn đường còn hai con còn lại cập kẹp vô thuyền hai bên hông mạn thuyền mà bơi về hướng mà sau này biết là Hong kong. Ba con cá ông nầy bơi như vậy suốt 2 ngày 2 đêm thì sáng ra, thấy bờ đất liền là Hong kong thì đàn cá chia tay. Cả nhà sống được và đi Mỹ ở California đến ngày nay.
Chư Phật, chư Bồ Tát trong quá trình tu tập thường phát nguyện lớn. Những lời nguyện ấy giống như kim chỉ nam cho sự hành hoạt. Lời nguyện phát ra làm cho tín tâm tăng trưởng và kiên cố chí tu học. Những đaị nguyện ấy thể hiện cái năng lực, trí huệ và lòng đaị bi của chư Phật, chư Bồ Tát.
Rừng điêu tàn thì đất nước suy vong; đây mới chính là cội rễ của vấn đề.bChúng ta cứu giúp đồng bào bị nạn nhưng chính chúng ta có ai nghĩ đến cội nguồn của vấn đề là nạn phá rừng cưa gỗ tàn phá đất nước. Tác động tới môi trường, phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậu và địa lý.
Tôi sinh ra trong một gia đình Phật Giáo. Bà tôi, mẹ tôi hay đi chùa lễ Phật. Bố tôi là một giáo sư dạy ở Đại Học Vạn Hạnh, có viết một số sách về Thiền nổi tiếng. Khi còn trẻ ông thiền tập đều đặn, hầu như mỗi tối, ngay cả khoảng thời gian ông đi tù cộng sản. Anh chị em trong nhà tôi đa số đều qui y Tam Bảo. Có lẽ vì ảnh hưởng bố nhiều hơn mẹ, nên bọn tôi có khuynh hướng học, nghiên cứu về thiền nhiều hơn, chứ không hay đi chùa niệm Phật. Bản thân tôi cũng có thực hành thiền từ tuổi mới lớn. Như vậy coi như là tôi đã “tu thiền”?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.