Hôm nay,  

Sĩ diện người Hà Nội

11/08/202300:00:00(Xem: 3552)

 

Khanh-Truong
Khánh Trường

 
Tuổi già thường sống với dĩ vãng.
Nhiều chuyện tưởng đã vĩnh viễn ra khỏi trí nhớ, thế mà bất chợt bỗng hiện về, có khi mồn một từng chi tiết nhỏ, tựa mới xảy ra hôm qua, hôm kia, có khi nhập nhòa hư thực bất phân.
Chuyện này không lâu, chỉ 23 mươi năm, trước một năm ngày tôi bị tai biến. Nhớ, vì có một chi tiết, lạc đề, nhưng vui.

 
***

Điện thoại reo, tôi nhấc máy, đầu dây bên kia tiếng đàn ông, “Cháu là chồng của Hoàng Tố Mai, sẽ đến đón chú thiếm, khoảng mười lăm phút nữa cháu sẽ có mặt.”
   
Tôi bảo vợ chuẩn bị. Oanh nói, “Có gì đâu mà chuẩn bị, cậu ấy đến mình đi thôi.”
   
Nguyễn Bình Phương, chồng Hoàng Tố Mai, con gái nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến cũng viết văn, tuy chưa gặp lần nào, nhưng qua giọng nói, tôi đoán có lẽ còn trẻ.
   
Đây là lần về Việt Nam thứ hai sau ngày vượt biển. Tôi ra Hà Nội thăm một số người đã từng gặp khi họ sang Mỹ, một số khác chỉ biết nhau qua trao đổi thư từ, email.
   
Tôi gặp Hoàng Ngọc Hiến ở Mỹ khi ông sang dự một hội thảo gì đó lâu quá tôi quên. Ra Hà Nội lần này tôi được HNH mời đến nhà ăn cơm.
   
Hà Nội, lần đầu tôi đến thành phố này. Trong dĩ vãng, từ những ngày còn thiếu niên, qua sách vở và truyền khẩu, Hà Nội trong suy nghĩ tôi là một địa danh lắm truyền kỳ, giai thoại hấp dẫn. Xóm Khâm Thiên, nơi hội tụ của các VNS, nhịp phách, ả đào, bàn đèn, khói thuốc… Sông Hồng vỡ đê, nước dâng cao hung tợn, cuốn trôi, nhận chìm tất cả, người, vật… trong Vỡ Đê (Vũ Trọng Phụng). Cái rét buốt xương của những cảnh đời khốn khổ trong Tôi Kéo Xe (Tam Lang). Và Tản Đà, Nguyễn Tuân… những “tay chơi” một thời. Tiểu thuyết, giai thoại, sự thật hòa trộn khiến vùng đất này, với tôi, như một người con gái kín cổng cao tường tôi luôn mong được có dịp chinh phục. Tôi mang tâm trạng này từ lúc lên phi cơ ở Tân Sơn Nhất đến bấy giờ, trên lầu hai một khách sạn giữa lòng thủ đô. Tôi phóng tầm nhìn ra xa, thành phố này về đêm không xô bồ như trong Nam (tôi đang viết về thời điểm những năm 90 thế kỷ trước. Nghe nói bây giờ HN không kém gì SG, nhất là ở những khu đô thị mới), có lẽ do những con đường không rộng, lượng xe, nhất là xe hơi, ít. Tôi ngước nhìn tán lá rậm đẫm ướt, vừa rồi một trận mưa vừa xối xuống, đã tạnh, khí hậu dễ chịu. Có tiếng Oanh, “Anh ơi, tiếp tân gọi, cậu Phương chắc đã đến.”
   
Hai người đang chờ chúng tôi. Một trẻ, người kia tóc bạc, mặt tròn phúc hậu. Thấy chúng tôi, người trẻ bước đến, “Thưa chú.”
   
“Anh là Nguyễn Bình Phương?”
   
“Vâng ạ.”
   
Phương quay sang ông già, “Bác Tô Hoài. Ba cháu mời cả bác ấy, tiện đường, cháu đón luôn.”

Tôi bắt tay hai người rồi nói với Tô Hoài, “Không ngờ được gặp anh, hân hạnh quá, như hầu hết bọn nhô con, ngày xưa tôi rất mê Dế Mèn Phiêu Lưu Ký.”
   
Tô Hoài cười không nói gì. Ra đến lề đường Phương gọi taxi cho tôi và Oanh. Phương đi xe gắn máy chở Tô Hoài.
   
Phương cho anh tài xế địa chỉ nơi đến và hỏi giá tiền rồi móc ví trả. Tôi vội nói, “Đến nơi, xem đồng hồ, tôi trả, vội gì.”
   
“Để cháu lo, ba cháu mời cô chú mà.”
   
Tô Hoài nói, “Phương nó nói đúng đấy, anh Hiến mời, Phương nó lo là chuyện đương nhiên.”
   
Bữa cơm thân mật, chuyện văn chương, chuyện nhân vật. Chị Hoàng Ngọc Hiến vui vẻ, cởi mở, không quên… kể xấu ông chồng với giọng âu yếm.
   
Sáng hôm sau nhạc sĩ Dương Thụ cùng một cô phóng viên báo Tuổi Trẻ phân bộ phía Bắc đến đưa chúng tôi đi tham quan các thắng tích của Hà Nội và một số nhân vật đang hoạt động văn học nghệ thuật. Suốt hai ngày, mọi chi phí Dương Thụ đều dành trả, với lý do thực hữu lý, chúng tôi là khách. Ngày thứ ba tôi nói muốn gặp Dương Thu Hương, Dương Thụ gọi, DTH tới, chúng tôi cùng đi ăn bún chả chợ Đồng Xuân. Tính nhà văn nữ này không khác con trai, phóng khoáng, mạnh mẽ, gọi tôi bằng mày, xưng tao rất… giang hồ, “Tao trả tiền, mày đừng ỷ mác Việt kiều, lên mặt, không được đâu.”
   
Những ngày ở Hà Nội, tôi gặp không ít anh em văn nghệ, Lê Đạt, Dương Tường, Bảo Ninh, Phạm Xuân Nguyên, Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Đình Chính (con trai Nguyễn Đình Thi). Trong buổi họp mặt tại nhà Chính tôi đàm đạo với một nhà văn trẻ, anh ấy rất mê tín Phạm Công Thiện, thở ra toàn ngôn ngữ của ông thần này.
   
Còn nhiều, khá nhiều VNS khác tôi không nhớ tên. Tất cả đều có chung mẫu số: sĩ diện.
Nguyễn Huy Thiệp đến đón tôi ở khách sạn, anh mang tặng vợ chồng tôi một hộp trà sâm Đại Hàn, sau đó suốt hai ngày anh đưa chúng tôi thăm viếng nhiều nơi: di tích thành Cổ Loa, lăng mộ Đinh Tiên Hoàng, nơi thờ Lê Long Đĩnh, Thái Hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn… và nhiều chùa chiền, kể cả chùa có Thập Bát La Hán bằng gỗ sơn son thép vàng, lớn như người thật, đặt trên 18 bệ thấp dọc hành lang dẫn vào chánh điện. Hôm ấy mưa lâm râm, se lạnh, sân chùa ẩm ướt, cây sứ già nở hoa trắng rợp, những đài lá trĩu nước dưới ánh sáng âm u, chả hiểu sao lại gợi nhớ chùa Long Giáng trong Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng. Điều đặc biệt, NHT đưa chúng tôi về nhà khoe tượng Quan Âm do chính tay anh thực hiện, tượng lớn, tọa lạc giữa sân. Tôi ngắm, không dám có ý kiến.
   
Trần Ngọc Tuấn (nhà thơ), cho tôi mượn xe hơi, cả tài xế. Vợ anh, đẹp, hình như diễn viên điện ảnh (?) đưa Oanh đi sắm áo dài lụa nổi tiếng của miền Bắc.
   
Lê Đạt vui vẻ, tính xởi lởi. Đúng là Lão Ngoan Đồng. Anh nghèo, chỉ đãi tôi uống cà phê.
Một chuyện lạc đề, nhưng vui.
   
Trong buổi ăn nhậu gồm nhiều VNS, bạn nào đó hỏi, “Nghe đồn anh ăn chơi khét tiếng phải không?”
   
“Trời! Làm gì có chuyện đó!”
   
“Đừng giấu, còn nghe nói anh có phương pháp bế tinh thần sầu. Dạy bọn này đi.”
   
Đã uống khá nhiều, hơi men biến tôi thành tên ăn tục nói phét, “Dễ thôi, khi xả nước đừng tồ tồ một lần mà hãy ngắt khoảng. Luyện tập một thời gian sẽ kéo dài hoặc xuất như ý muốn”.
   
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cười ha hả, “Hahaha… phải đặt tên phương pháp này là Đoạn thủy bí kíp.”
   
Những năm chín mươi Hà Nội còn khá vất vả, thế nhưng người Hà Nội, qua giới VNS, vẫn giữ được truyền thống tôi từng nghe: Sĩ diện.
 
Khánh Trường
 

Ngày nhỏ chúng tôi căng miệng hát một cách thích thú bài nhạc chế từ bài La Marseillaise, bài quốc ca của Pháp. Tôi thuộc cho tới bây giờ, sau nhiều chục năm tôi vẫn còn hát được. “Thầy đồ ngày xưa quen thói nuôi móng tay dài / quần trễ tai hồng đỏ đen mực son. Đầu lúc la lúc lắc đảo như lên đồng / được dăm trẻ ghẻ lở quá hủi phong. / Quát lấy điếu, đem bình phóng , bưng cơi trầu. / Nhân chi sơ, người đi trước / ta bảo phải để vào tai dốt đặc. Ở trên đầu thầy có cái chi lúc lắc? Búi tó, nó to bằng niêu / tính ghét móng tay hằng cân / thọc luôn trong nách, bật tanh tách hoài / Ngâm thơ thích chí rung đùi”. Nhớ nhưng không chắc có đúng không, có thể có chỗ không nhớ tôi đã chế ra. Nhạc chế cũng như ca dao không bao giờ có tên tác giả. Không biết đây là một bài nhạc chế để chọc quê chính quốc lúc đó đang cai trị Việt Nam hay đùa chơi với các thầy đồ của một anh học trò không thích tới trường.
Tình cờ trong một gian hàng của nghệ nhân làm Bonsai, cây kiểng, tôi thấy trưng bày một chậu kiểng nhỏ, có nhiều nhánh cong queo, lá hình bầu dục, phía dưới có nhiều lông trắng óng ánh như nhung, trĩu nặng từng chùm quả nhỏ tròn trông giống như trái mồng tơi nhưng nhiều màu sắc: xanh, vàng, đỏ, tím đen... trông rất quen, nhưng không thể gọi ngay ra tên của loài cây này được...
Tôi quen biết một cô Tây, gọi là một cô đầm thì đúng hơn, tên gọi đầy đủ là Florence Cavalier, vợ của ông tây Jean Paul Cavalier. Florence còn trẻ, lối 30 tuổi. Ngày từ khi còn nhỏ, 9 tuổi, Florence đã là một hướng đạo sinh, scout, lớn lên em học và hành nghề y tá. Cái gốc scout và nghề nghiệp y tá bổ túc lẫn cho nhau, thêm Flor có ngoại hình xinh xắn tươi vui, thành ra trông lúc nào cô ấy cũng tràn đầy nghị lực, sức sống và yêu đời...
Muốn biết một đất nước có văn minh hay không, người ta thường quan sát nhiều khía cạnh khác nhau với một tinh thần phóng khoáng, một tâm trạng cởi mở, không thiên vị, về xã hội, cách điều hành đất nước (governance), việc bảo tồn và thăng tiến văn hóa, về mức sống người dân như việc chăm sóc sức khỏe, môi trường, giáo dục, và trên hết là sự hạnh phúc (well-being) của người dân...
Cuối tháng ba, đầu tháng tư và kéo dài đến tháng sáu, tháng bảy, du khách đến với Đà Lạt, từ những con đường Hai Bà Trưng, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, đến Hồ Xuân Hương, Chợ Đà Lạt, hay Thung Lũng Tình Yêu, Thiền Viện Trúc Lâm... sẽ thấy lòng mình chùng xuống, trước sắc tím lãng mạn, êm đềm và thơ mộng của những cây “ phượng vĩ tím” hay gọi tắt là “phượng tím”. Những cây phượng có nguồn gốc từ Châu Âu, du nhập vào Đà Lạt từ những năm 1962 của thế kỷ trước.
Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “tâm linh” trở nên rất thời thượng, tràn ngập khắp trên mặt báo chí, truyền thông, mạng xã hội, người người nói, nhà nhà nói. Nó trở thành từ cửa miệng của rất nhiều người trong đạo lẫn ngoài đời. Những tà sư, thầy cúng, các nhóm lợi ích kết hợp với những thế lực chính trị và thế lực ngầm ra sức phá rừng, xẻ núi, lấp ruộng… để làm những ngôi chùa, đền, miếu khổng lồ phục vụ cho cái gọi là du lịch tâm linh, hành hương tâm linh… Ngoài những ngôi chùa khổng lồ ấy ra còn có vô số chùa tư, đền, miếu, am, dinh, miễu...mọc lên như nấm sau mưa. Có một điểm chung là các cơ sở này thờ hằm bà lằng từ Phật, thánh thần, thiên, ông đồng bà cốt, cậu hoàng… và cả những nhân vật chính trị thế tục.
Người đọc nhìn thấy môt hình ảnh rất nhỏ, khiêm tốn, ngay trong ngày đầu 30-4-1975, hình ảnh người chiến binh giải phóng Sàigòn đang quì gối cầu nguyện bên ngoài ngưỡng cửa Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn. ..
Tôi đã xem phim “Oppenheimer” chiếu ngoài rạp, một phần vì tiểu sử của nhà khoa học vật lý đã chế ra bom nguyên tử, từng giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học U.C. Berkeley và vì cũng muốn biết ngôi trường thân yêu của mình đã được lên phim như thế nào.
Chùa Linh Sơn ở Joinville Le Pont của chúng tôi, bên dưới chánh điện là một phòng sinh hoạt Phật sự khá khang trang và rộng rãi dành cho các em oanh vũ gia đình Phật tử Quảng Đức. Các em tới học Phật pháp, tập hát, học giáo lý và cùng làm văn nghệ. Trên tường chính diện có treo một tấm tranh lớn như bằng hai cái chiếu, chiếm gần hết một phần tường. Trong tranh là cảnh biển trời bao la xanh xanh vây quanh, tọa lạc ở gần giữa là hình tổ Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc giầy trên tích trượng vắt vẻo trên vai. Ngài đang thong dong du hành vô ngại đầy an bình.
Mấy nay giang hồ đồn đại vậy mà trúng y chóc luôn, linh như bà phán. Hồi nào giờ hễ giang hồ khịa chuyện gì là có chuyện đó. Thiệt tình mà nói thì cũng từ nội bộ lộ ra người ta mới biết, hũ mắm có xì khẳm thiên hạ mới nghe mùi. Cuối cùng rồi thì chủ tiệm nước cũng bị đuổi cổ khi mà ghế ngồi chưa nóng đít. Trong cái rủi có cái may, cu Thẹo về vườn trong danh dự tự từ chức, từ chức là cái chuyện tào lao chưa bao giờ có ở xứ quỡn quê mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.