Hôm nay,  

Văn chương và thực tế

22/09/202300:00:00(Xem: 3387)

Logo cho fb
 
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó.
 
Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn.
Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
 
Thế rồi tháng năm qua đi, tuổi đời chồng chất, cái viết vì nhu cầu nội tâm đã cạn, cũng có nghĩa cái viết dần trở thành nghề, viết vì thói quen, viết vì phải viết.
 
Cho đến hôm nay bệnh tật, già, viết để chống trầm cảm và chống bệnh mất trí nhớ, viết để qua ngày đoạn tháng, chờ lên đường. Không còn đam mê, không còn ham muốn bất cứ điều gì, từ tiếng tăm đến nhu cầu thân xác. Nói cách khác, mọi chuyện đều nguội lạnh.
 
Thời trẻ, như hầu hết những bạn cùng trang lứa, nghĩ văn chương phải cao siêu, phải mang vác những sứ mệnh to lớn, phải góp phần cải tạo xã hội, phải hướng thiện tâm hồn, phải thanh tẩy mọi vẩn đục do vật chất và ham muốn thấp hèn quyến rũ… Hàng trăm thứ “phải” khiến bọn trẻ chúng tôi tự huyễn hoặc khi tìm đến văn chương, dù thực thà thú nhận, những tiểu luận, biên khảo, truyện ngắn, truyện dài có chủ đề nặng ký thường khô khan, thiếu hấp lực làm chúng tôi ngán ngẩm, phải “gồng mình” nuốt trôi những trang chữ, để ra điều ta đây thuộc thành phần… có học (!!!). Tuy nhiên cũng công tâm, trong giới hạn nào đó, những cuốn sách trên phần nào định hướng nhân cách bọn trẻ chúng tôi. Đến khi tuổi đời mỗi ngày một cao, thê nhi, áo cơm cùng hàng trăm hàng nghìn lo toan đã dần dà nhận chìm mọi chuyện có tính xa lìa cuộc sống đời thường như những cuốn sách, những tiểu luận, biên khảo vào lãng quên.
 
Cá nhân tôi đã hệ lụy với chữ nghĩa gần trọn một đời, tôi dần nhận ra cái còn đọng lại bền vững trong tâm hồn, trí óc tôi là những tư tưởng, những nhận xét quí báu thường không đến từ các tiểu luận, biên khảo, truyện ngắn, truyện dài luận đề nặng ký mà là những trang văn nhẹ nhàng, trong sáng, giản dị, ngoài các cuốn sách nhảm nhí do những tác giả thiếu kiến thức, thiếu tài năng sản sinh, chúng ta sẽ tìm bắt gặp không ít điều sâu sắc giữa những con chữ tưởng chừng nhẹ ký kia.
 
Từ trải nghiệm này tôi loại bỏ dần cách viết “làm dáng thông tuệ”, kiểu cố tìm những từ thật kêu, thật cao xa. Ngược lại, tôi vận dụng tối đa ngôn ngữ bình thường mà bất cứ người đọc nào, từ thất phu ít học đến giới trí thức thông kim bát cổ đều dễ dàng tiếp cận.
 
Có nghĩa dù đề cập bất cứ vấn đề gì, tôi luôn cảnh giác, tránh dùng những từ đao to búa lớn mang tính “học thuật”, cho nên thể loại tôi thường dùng là tạp ghi, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài.
 
Xưa nay đề tài muôn thuở không bao giờ cạn và nhàm chán là tình yêu và tình dục, dù đã trọng tuổi, tình yêu, nhất là tình dục, không còn là trọng tâm trong sinh hoạt hàng ngày của tôi, thỉnh thoảng nếu có nghĩ đến cũng chỉ như những kỷ niệm của một thời, lòng không xao động. Khổ nỗi, khi viết vẫn muốn có nhiều người đọc, mà muốn được thế thì phải viết làm sao cho hấp dẫn, cuốn hút. Đó là lý do tôi luôn viết chuyện tình ái, và dù không có nhu cầu tôi vẫn cố nhét chuyện sex thật nhiều vào truyện, bởi tôi biết nhờ vậy sẽ có hấp lực cuốn hút người đọc.
 
Văn xuôi đã thế, còn thơ thì sao?
Qua nhiều thi sĩ, tôi biết không khác.
 
Cũng giống mọi nhà văn, khi còn trẻ chưa có gia đình, còn yêu đương lãng mạn, thơ của họ ở thời điểm này là tiếng lòng phái xuất từ trái tim bồi hồi những nhịp đập đắm say. Dần dà theo tháng năm trở thành nghề, họ làm thơ không phải vì rung động. Để có cảm hứng, họ phải du mình vào những tình huống như thực, tạo ra những cuộc tình ảo, để nhờ đó hầu có chất liệu xây dựng thành phẩm. Cho nên chúng ta đừng ngạc nhiên nếu bắt gặp đâu đó những bài thơ sướt mướt, đắm say, thề non hẹn biển của những thi sĩ đã ở vào lứa tuổi lục, thất thập. Lòng họ đã lạnh, trái tim đã cằn, nam lẫn nữ đã trở thành ông bà nội ngoại, con cháu, nhà cửa, xe pháo, cơm áo đã đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp họ không chết chìm trong biển đời sóng to gió lớn.
 
Tôi có nhiều con cháu, mỗi đứa một đam mê, có đứa thích hội họa, có đứa mê văn chương, có đứa muốn trở thành kỹ sư vi tính, có đứa đang theo học quản trị kinh doanh, có đứa dành dụm tiền mở thẩm mỹ viện… Tùy sở thích, mỗi đứa chọn mỗi nghề. Trong phạm vi hẹp đã thế, nhìn rộng ra cuộc đời, càng sinh động, đa dạng, đa sắc, với hàng trăm nghành nghề. Nói cách khác, không có nghành nghề nào cao quí hơn nghành nghề nào. Anh thợ làm ống nước hay sửa xe quan trọng không kém vị học giả hay nhà văn.
 
Tóm lại văn chương không còn là cái gì ghê gớm, không còn là thánh kinh, và người làm văn chương cũng không phải là giáo chủ.
 
Khánh Trường

Hãy thử nhớ lại lần gần đây nhất quý vị viết ghi chú, một ghi chú ngắn hoặc danh sách mua sắm chẳng hạn. Có thể quý vị đã không dùng tới giấy và viết. Hơn mười năm qua, bàn phím và màn hình đã lặng lẽ thay thế chữ viết tay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, từ trường, lớp cho đến các cuộc họp hành. Thậm chí, một số trường học trên thế giới đã ngừng hoàn toàn việc rèn chữ viết (cursive).
Tôi là dân Huế chính gốc 100% tức là dân Huế “chay”, Huế rất chi là Huế, Huế từ đầu đến chân, Huế từ trong ra ngoài nên phát âm các chữ có dấu HỎI-NGÃ rất tùy tiện, phóng túng, hoàn toàn không giống người dân ở miền Bắc của Cố Đô Thăng Long, mặc dù Huế của chúng tôi cũng là Cố Đô Ngàn Năm Văn Vật. Do đó dân Huế chúng tôi sợ nhất là những chữ có dấu HỎI-NGÃ lúc viết bài thi chính tả, dù đã học thật kỹ cuốn sách viết về luật HỎI, NGÃ của Thầy Lê Hiếu Kính.
“Cò” đây chẳng phải “Con Cò mày đi ăn đêm” mà cũng chẳng phải “Cái Cò súng của các ông”, không phải, giời ạ. Cò-cảnh-sát hay Cò-mồi lại càng không phải nốt. Cò đây là Thầy Cò. Đúng ra phải gọi là Cô Cò hoặc Bà Cò thì chính xác hơn, nhưng trong ngôn ngữ tiếng Việt tôi chưa thấy ai gọi như thế bao giờ, nghe nó tréo ngoe, nó chỏi tai thế nào ấy. Có lẽ tại cái “nghề Cò” từ hồi nảo hồi nào chỉ toàn do các ông đảm nhiệm. Nhưng thời buổi bây giờ, thời buổi mà các bà các cô có thừa bản lĩnh để xâm chiếm hầu hết các lãnh vực trong nhà (thì đã đành) cũng như ngoài phố thì chắc chắn đã có nhiều Cò phái nữ, mà tôi là một thí dụ điển hình.
Từ khi sinh ra và biết nhận thức thì nhớ/quên gắn liền với cuộc sống hằng ngày cho đến khi lìa trần. Phân Tâm Học ((Psychoanalysis) đã giải thích về nhớ/quên theo trình tự thời gian từ tuổi thơ đến tuổi già nhưng thực tế nó không hoàn toàn như vậy mà tùy theo hoàn cảnh, môi trường sống, giáo dục, xã hội… biến động tâm lý ảnh hưởng đến từng cá nhân với não bộ.
Hồi đó chúng tôi học triết lớp 12C, chúng tôi học với cô Chu Kim Long và có tuần với thầy Vĩnh Để. Cả hai giáo sư của chúng tôi chia giờ ra giảng dậy về tâm lý học rồi phân tâm học về vô thức của triết gia Simon Freud. Phần lý luận học và đạo đức học thì dễ dàng hơn. Riêng phần tâm lý học, nhất là tâm lý học ngôi thứ ba khúc mắc, ở phần dằng co giữa ý thức và vô thức… thành ra bài học bài giảng làm chúng tôi điên đầu và cô, thầy chúng tôi cũng khô cổ họng.
Thông thường, nhà xưa có nền hơi cao nên phải bước lên tam cấp để vào nhà! Ngôi nhà có ba gian hai chái với hàng ba rộng. Trong bếp có ông Táo là ba cục đất, hoặc ba viên gạch... Theo truyền thuyết, đó là “một Bà và hai Ông”. Họ như vậy mà vẫn chịu nổi sức nóng của lửa củi! Hay quá! Đàn bà đi chợ, cho dù món hàng chỉ có đôi ba đồng, họ vẫn trả giá đôi ba lần. Để khỏi bị hố! Cuộc sống của họ dính liền với “ba cọc ba đồng” đó mà! À! Nhân nói về đàn bà mới nhớ ra theo truyền thống, họ phải chịu nép mình vào “Tam tòng tứ đức”! Kẹt lắm chớ không phải chơi đâu! Trong lúc đàn ông thời xưa có “năm thê bảy thiếp” thì đàn bà thời nào cũng chỉ “Chính chuyên một chồng”!
"Nếu cô hôn con cóc này, hôm nay ngày 14 tháng 2, và đúng 7h tối nay, thì sẽ có người đến gõ cửa nhà cô. Đó là Hoàng Tử Trong Mơ của cô đấy". Ban nãy, lúc 5 giờ chiều, khi nàng mở gói quà nhỏ và thấy con cóc, ban đầu nàng đã tỏ thái độ kinh tởm, nhưng rồi, khi đã hết ngạc nhiên và sững sờ, thì nàng đã hoài nghi và lo sợ. Cô nàng này ư, cô ta luôn tin vào Hoàng Tử Trong Mơ. Và tin vào nụ hôn của tình yêu đích thực. Nếu không thì cô đã nhanh chóng thả con vật bé nhỏ kia ra cho rồi. Nhưng vào ngày lễ Thánh Valentine, ngày lễ Tình Yêu, một khi đã nhận kiểu thư như thế này, cô nàng đã trở nên mơ mộng. Cô đặt cái loài ếch nhái này trong một cái gọi là hủ ẩm ướt rất tầm thường làm như không có chuyện gì xảy ra, và chạy vào trong phòng tắm ngắm lại cái dung nhan của mình xem sao. Ôi, ai mà biết được nhỉ.
Đài CBS đưa tin vào ngày thứ bảy 27/7 vừa qua, tại bãi biển Miaquamicut ở Westerley, tiểu bang Rhode Island, chuồn chuồn đã tập kích những người tắm biển. Video ghi lại cho thấy nhiều người đã phải lấy khăn tắm trùm người lại để tránh nạn chuồn chuồn. Một người phát biểu: “Tôi hơi sợ. Tận thế chăng?”. Ông Mark Stickney nói với đài truyền hình WBZ: khi ông tới bãi biển vào lúc 11 giờ sáng thì chuồn chuồn đã bay khắp bốn phía. Tới 1 giờ trưa thì chuồn chuồn tụ lại đông như hội. Ông nói: “Có lẽ có cả hàng trăm ngàn con chuồn chuồn. Rất kỳ lạ!”. Mọi người ngồi chịu trận. Chuồn chuồn không làm phiền ai. Một chuyên viên nghiên cứu về chuồn chuồn, bà Ginger Brown ở Rhode Island, khuyên mọi người đừng sợ hãi vì chuồn chuồn nhìn rất rõ, không bay trúng vào người đâu.
Bài viết này chỉ giải thích đôi nét văn hoá Hoa Hạ về Nho tự, dù vậy vẫn bao hàm được nghĩa nôm na lẫn nghĩa bác học. Đôi khi còn mang nghĩa ẩn dụ, liên quan đến phạm trù nhân văn, xã hội, tự nhiên, tư tưởng triết học tôn giáo. Nói cách khác, đơn giản là tìm hiểu chữ QUÁN và một số chữ QUÁN Hán Việt..
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.