Hôm nay,  

Chuyện cái đòn gánh

8/16/202400:00:00(View: 2358)

Bán Cho Biển_photo Thận Nhiên
Photo Thận Nhiên
 
Thời buổi nay ra đường đi chợ, đi du lịch, nếu cần mang sách hành lý nặng, người ta kéo đồ bằng cái caddie đi chợ, đi chơi xa kéo valises à roulettes. Khi cần mang theo đồ dùng nhiều hay ít, người ta đều kéo, kéo caddie… kéo tất cả bằng tay và bằng những bánh xe, thấy tiện lợi hơn khi xưa, mang, sách, đội, gánh… tất cả đã đổi thay với thời gian.
 
Còn khi xưa, thật xa xưa, người ta bê, đeo hay gánh. Gánh là tiện lợi khi đó, vì gánh được nhiều đồ, gánh được lợi hơn vì đồ gánh xếp cả hai bên, hai đầu đòn gánh.
 
Cái đòn gánh một thời lâu dài là vật dụng thân thương của người dân Việt Nam ở các thôn quê, ở cả nhiều thành thị với những người buôn bán.
 
Khoảng những năm 1970-1973, có ông hàng phở, luôn bán phở về đêm ở khu phố Hòa Hưng, lối khuya tối 9, 10 giờ, nghe tiếng rao “phơ phớ“ của ông là chúng tôi vác cái tô bự ra mua tô phở 5 đồng, xin thêm nhiều nước phở, về nhà, chia nhau ăn với cơm nguội, ngon ơi là ngon!
 
Ông bán phở gánh rất nhiều năm, và có lẽ phở rong, phở gánh đó ngon hơn phở ăn ở tiệm ngày nay. Vì lúc đó đồ ăn hiếm, xương thịt còn ít, mình ăn cũng ít nên rất ngon, nay ăn nhiều có lẽ hóa nhàm chán.
 
Bao năm lăn lộn với gánh phở đêm, mà ông chung thủy với một cái đòn gánh đã mòn, đã nhẵn thín, nhờ vai ông gánh, gánh phở đi rong các khu phố. Sau này, có người tò mò hỏi ông gánh nặng mãi vậy có đau vai không? Ông có vẻ thoải mái bầy tỏ với bà cụ đã lớn tuổi đã hỏi câu đó rằng:
 
Thưa bác là, nếu biết cách để đúng cái đòn gánh này áp vô các huyệt đạo kiên ngưng và kiên tĩnh trên vai thì không hề đau, mà còn  như được tẩm quất nữa đó!
 
Tẩm quất là gì?
Là như xoa bóp cho khỏi đau ạ.
 
Ồ, hay nhỉ, để thủng thẳng tôi phải hỏi bác về các huyệt đạo này. Mà ai chỉ bác vậy?
 
Một ông thầy hoa ở đường Hải Thượng Lãng Ông trong chợ lớn, bác cứ xoa xoa lần lần, giữa vai có một chỗ hơi trũng xuống là trúng, nó đó nó đó!
 
Không hiểu rồi bà bác đó có tìm ra huyệt đạo kiên ngoại du đó không. Nhưng người Việt Nam lúc xưa kia là gánh đồ, gánh nước, gánh hàng… luôn luôn phải gánh.
 
Ở nông thôn miền Bắc, cái đòn gánh là ai cũng cần phải có, gánh lúa, gánh mạ, gánh phân, gánh rau…
 
Gánh gánh gánh! Gánh thóc về!
Gánh về, gánh về, gánh về!
                             Phạm Duy
 
Nó đơn giản chỉ là cây tre xẻ đôi, chắc chắn, bào cho nhẵn láng, hai đầu uốn hơi cong lên, và cũng ở hai đầu tận cùng đó, có cái chốt, để móc và giữ cho quang gánh đồ nặng nằm yên ở vị trí cân bằng. Phần giữa đòn gánh được bào, vuốt láng cho êm, không là đau vai.
 
Khi người gánh đồ đi nhịp nhàng, hơi nhún nhảy theo nhịp lên xuống ở hai đầu đòn, thì người gánh cảm thấy sức nặng như bớt đè lên vai:
 
Khi xưa bên lối cỏ mòn,
Ni sư gánh nước lên non tưới vườn.
Ê a câu kệ vô thường,
Rớt theo giọt nước bên đường cỏ khô.
Ngày nay lối cũ tình cờ,
Thấy Như Lai trụ bên bờ nở hoa!
 
Cái đòn gánh là vật rất gần gũi với nhà nông, để làm nông, để vận chuyển lúc yên bình. Còn lúc giặc giã tới, phải đi tản cư, nhiều bà mẹ vội gánh con bằng đòn gánh, đi cho mau, một bên quang thúng để con ngồi vô, một bên kia là gạo, nồi niêu, lương thực. Với cái đòn gánh thân thương, màu nhiệm, các bà mẹ chạy giặc mang theo được cả gia tài và con cái bên mình,
Còn người còn của còn con
Mất người mất cả giang san khỏi phiền!
Có những người mẹ chạy loạn từ tỉnh thành nọ sang vùng quê kia xa hút với đòn gánh với quang thúng bán buôn lặt vặt để nuôi con tới ngày hồi cư:
 
“Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Mươi miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài sấp giấy đẫm hoen sương buổi sớm“
                                       Thơ Hoàng Cầm
 
Nói chi nhiều tới người thôn quê hay người thành thị, mà ngay nhân vật anh hùng Từ Hải của nàng Kiều:
 
Đường đường một đấng anh hào
Cũng còn mang hình ảnh cây đòn gánh vào văn chương:
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
 
Thế đủ thấy đòn gánh gánh sâu đậm tình cảm dân gian xưa kia cả công dụng và tình cảm gắn bó nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.
 
Trong một bảo tàng viện văn hóa về nông nghiệp ở miền Nam người ta có treo một cây đòn gánh, được trạm trổ khắc nhiều hình vẽ rất đẹp như ngày mùa, múa lân… nó rất đẹp nhưng khác xa với những cây đòn gánh thực dụng, đã dùng… bạn hãy tưởng tượng trong một đoạn văn xuôi tả cảnh chạy loạn ở Nam Kỳ lục tỉnh, mà nhà văn Kiệt Tấn đã nói “người mẹ giầu lòng bác ái, thả cái đòn gánh xuống nước cho một đứa bé trôi sông bám vào đó, rồi bà kéo đứa bé đó lên thuyền bà!"
 
Miền quê Nam bộ, có nơi họ vót nhọn một đầu của đòn gánh, kiểu như thế đó, miền Bắc gọi là đòn càn, đòn càn ở Bắc nhọn cả hai đầu, để đâm sóc vào những bó lúa đã bó chặt mà mang về nhà, kiểu này chỉ những bác nông phu lực lưỡng mới làm nổi.
 
Còn cái đòn gánh có một đầu nhọn trong Nam, thì rất đa năng đa hiệu, đầu nhọn khi cần, được cắm chặt xuống đất, đầu kia chổng lên trời nắng, đặng phơi hay máng áo quần lỡ bị trời mưa hay rớt xuống ao, sông mà lỡ ướt… được kịp mặc cho khô ráo mà về nhà cuối ngày.
 
Vì thân cận và lợi ích như thế đó, chủ nhân không bao giờ lấy đòn gánh làm vũ khí, ngay cả khi cần tự vệ. Thảng hoặc chỉ để ngồi nghỉ hay gối kê đầu trên những quãng đường xa..
 
Khi cái đòn gánh quá cũ, người ta tháp lại, là chữa để dùng, nếu lỡ gẫy hẳn, không thể chữa, thì chủ nhân gác nó lên ránh bếp như một vật kỷ niệm, gác cất lâu quá, bề bộn, người ta cũng không mang dục bỏ mà mang đi đốt nó đi, coi như đòn gánh được hỏa thiêu, được hóa kiếp… với hy vọng mong manh nó trở thành một khúc đoạn trường ca văn chương:
 
“Hương ơi, sao tiếng hát em, nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào. Dù em ca những lơi yêu đương hay chuyện tình gẫy gánh giữa đường…“
                                                                             Phạm Duy
 
Ở quê miền Trung Việt Nam, người ta vẫn có thể đi chân đất, mặc áo dài và mang đòn gánh lên vai đi bán rong các loại chè, các loại bánh nậm, bánh bột lọc… khi hạ gánh để bán, họ dựa đòn gánh vào đâu đó và không để xuống đất.
 
Người Hoa khi mới sang Việt Nam, họ thường nương nhờ ở cái đòn gánh mà sống, sau làm giầu:
“Cái nị là cái nị bên Tàu
Nị sang Nam Việt bán buôn làm giàu
Nị sang có cái gì đâu
Có cái đòn gánh bán buôn chè
… Chí mả phù (chè mè đen, táo tàu)
… Lục tàu xá (chè đậu xanh, bột báng)
 
Thời buổi cơ khí văn minh tiên tiến ào đến, chúng ta có hệ thống dẫn nước về từng nhà, tiện lợi sung sướng vô cùng nhớ đời ông cố bà cố thuở xưa, ở quê cũng như ở tỉnh, ai ai mà không dung đòn gánh, gánh nước từ giếng, ao, sông, hồ về đổ vô bể, vại, thùng, phi… để ăn, uống, tắm, rửa. Nên chúng ta tới bao giờ cũng không phủ nhận công lao của cây đòn gánh trong nhiều thập kỷ thập niên dài.
 
Cứ tưởng tượng mà hình dung ra hình ảnh một bà mẹ già quẩy quang gánh trên một nẻo đường mòn, bà vẫn bước đều, tự tại, kiên nhẫn, dẻo dai trong mỗi bước chân… hình ảnh đó long lanh đều đặn như những con dã tràng xe cát biển đông?
 
Bảo rằng nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì? Không, ý nghĩ đó có lúc không đúng chút nào, vì mẹ già tôi đang dẻo dai trong mỗi bước chân với cây đòn gánh, với hai thúng nặng kẻo kẹt trên vai, bà đang vê tròn quả phúc cho cả một dân tộc, biết đâu trong một kiếp lai sinh nào đó, chúng ta thoát khỏi đại họa cộng sản đói nghèo lúng túng!
 
Paris mùa hạ nóng 2024
Chúc Thanh 
 

Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.