Hôm nay,  

Chủng Ngừa Hay Không: Người Lớn Tranh Cãi, Trẻ Con Lãnh Đủ

04/09/202600:00:00(Xem: 106)
chung ngua
Sởi có thể gây viêm tai, tiêu chảy, viêm phổi và viêm não. Trong mỗi một ngàn trẻ mắc bệnh, khoảng một đến ba em có thể chết vì biến chứng hô hấp hoặc thần kinh. Minh họa: OpenAI.
 
Hôm Michael Horrocks đến đón ba đứa con cho kỳ nghỉ xuân, ông biết ngay có chuyện không ổn.

Keith, tám tuổi, một mắt sưng húp. Donnie, năm tuổi, cũng bắt đầu chảy nước mắt. Chỉ có Star, bốn tuổi, còn chạy nhảy bình thường.

Vài ngày sau, cả ba nằm bẹp.

Chúng sốt, bỏ ăn, mệt lả. Trên mặt và mình Donnie xuất hiện những mảng đỏ. Michael đưa hai con trai đến trung tâm cấp cứu. Một nữ y tá nhìn các vết ban rồi nhắc đến một căn bệnh mà nhiều cha mẹ Mỹ ngày nay chỉ còn biết qua sách vở:

Sởi.

Đến tối, một bác sĩ khám Donnie và cho rằng các triệu chứng rất giống sởi. Mẫu bệnh phẩm được lấy để thử. Trong lúc chờ kết quả, các em được theo dõi như những bệnh nhân có thể mắc bệnh này.

Với Donnie, nguy cơ đặc biệt đáng ngại. Em mắc bệnh teo cơ tủy sống, một bệnh di truyền làm các bắp thịt suy yếu. Khi bị nhiễm trùng đường hô hấp, Donnie không đủ sức ho mạnh để đẩy đàm ra khỏi phổi.

Rồi Star trở nặng.

Lượng dưỡng khí trong máu của cô bé tụt xuống dưới 90 phần trăm. Xe cứu thương đưa em vào nhà thương. Bác sĩ chẩn đoán Star bị viêm phổi và đồng thời nhiễm RSV, một siêu vi trùng đường hô hấp nguy hiểm đối với trẻ nhỏ.

Trong lúc Star còn nằm nhà thương, Donnie sốt tới 105 độ F. Lượng dưỡng khí trong máu chỉ còn 81 phần trăm.

Michael ôm con chạy thẳng vào nhà thương.

Donnie cũng bị viêm phổi. Phổi đầy đàm, nhưng vì các bắp thịt quá yếu, em không đủ sức ho để tống đàm ra ngoài.

Chỉ trong vài ngày, cuộc tranh cãi của hai người lớn về chuyện chủng ngừa đã biến thành chuyện xe cứu thương, mặt nạ dưỡng khí và những đứa trẻ nằm trên giường bệnh.

Michael và mẹ các em, Leah Stelly, đã ly dị. Hai người bất đồng gay gắt về việc chủng ngừa cho con.

Michael muốn ba đứa trẻ được chích những thuốc chủng ngừa thông thường mà chính ông từng được chích khi còn nhỏ. Leah ngày càng tin rằng thuốc chủng ngừa nguy hiểm và muốn nuôi con theo lối “tự nhiên.”

Keith, vì đi học công lập, đã được chích một số thuốc cần thiết, trong đó có MMR, thuốc phối hợp ngừa sởi, quai bị và ban Đức.

Donnie và Star chưa được chủng ngừa.

Nhưng có một chi tiết rất quan trọng: xét nghiệm PCR của ba đứa trẻ sau đó đều âm tính với sởi.

Nói cách khác, không thể khẳng định các em đã mắc bệnh sởi.

PCR tìm siêu vi trùng sởi có độ tin cậy cao, tuy đôi khi vẫn có thể cho kết quả âm tính giả. Nhiều bệnh khác cũng có thể gây sốt và nổi ban tương tự.

Dù vậy, các bác sĩ lúc đầu vẫn có lý do để đề phòng sởi. Khi một đứa trẻ chưa được chủng ngừa có sốt cao, ho, mắt đỏ và nổi ban toàn thân, bác sĩ không thể chờ đến khi có kết quả thử nghiệm mới bắt đầu cách ly.

Bởi sởi không đơn giản là một thứ “ban đỏ của trẻ con.”

Đó là một trong những bệnh truyền nhiễm dễ lây nhất. Một người mắc sởi có thể truyền bệnh cho khoảng chín trong mười người chưa có miễn dịch nếu họ ở gần nhau. Siêu vi trùng còn có thể lưu lại trong không khí một thời gian sau khi người bệnh đã rời khỏi phòng.

Phần đông trẻ mắc sởi sẽ bình phục. Nhưng điều đó không có nghĩa bệnh vô hại.

Sởi có thể gây viêm tai, tiêu chảy, viêm phổi và viêm não. Trong mỗi một ngàn trẻ mắc bệnh, khoảng một đến ba em có thể chết vì biến chứng hô hấp hoặc thần kinh.

Một biến chứng rất hiếm có thể xuất hiện nhiều năm sau khi đứa trẻ tưởng đã khỏi bệnh: não bộ từ từ suy thoái và bệnh gần như luôn đưa đến tử vong.
Có một lý do khiến nhiều người ngày nay xem nhẹ những căn bệnh như sởi, ho gà hay bại liệt: thuốc chủng ngừa đã thành công quá lâu.

Nhiều cha mẹ chưa từng thấy một đứa trẻ chết vì ho gà. Nhiều bác sĩ trẻ chưa từng gặp một ca bại liệt. Sởi từng rất quen thuộc trong tuổi thơ, nhưng đã được tuyên bố loại trừ khỏi Hoa Kỳ vào năm 2000.

Khi căn bệnh biến mất khỏi đời sống hằng ngày, người ta dễ bắt đầu sợ thuốc ngừa hơn sợ chính căn bệnh.

Nỗi sợ ấy được tiếp sức mạnh từ cuối thập niên 1990, khi một công trình đăng trên tạp chí y khoa The Lancet cho rằng thuốc MMR có liên hệ với bệnh tự kỷ.

Công trình ấy sau đó bị phát giác gian lận và bị rút lại. Nhiều cuộc nghiên cứu lớn về sau cũng không tìm thấy bằng chứng rằng thuốc MMR gây tự kỷ.
Nhưng một lời báo động đã gieo vào lòng cha mẹ thì không dễ xóa đi.

Ngày nay, chỉ cần lên mạng tìm “phản ứng phụ thuốc chủng ngừa,” người ta có thể gặp hàng ngàn video, lời chứng và những người quả quyết rằng họ đã tìm ra điều giới y khoa muốn che giấu.

Một câu chuyện cá nhân thường có sức lay động mạnh hơn một bảng thống kê về hàng triệu trẻ được chủng ngừa an toàn.

Nhưng về mặt y khoa, hai thứ ấy không có giá trị ngang nhau.

Một người mẹ có thể thành thật khi nói con mình thay đổi sau một mũi chích. Nhưng chuyện xảy ra sau một việc không có nghĩa việc trước đó đã gây ra chuyện sau.

Thuốc chủng ngừa cũng không hoàn toàn không có phản ứng phụ. Không có thuốc nào như vậy. Dị ứng nặng và một số biến chứng hiếm vẫn có thể xảy ra.

Vì thế, câu hỏi đúng không phải là:

“Thuốc chủng ngừa có nguy hiểm hay không?”

Mà là:

“Nguy cơ nào lớn hơn?”

Một phản ứng nghiêm trọng nhưng rất hiếm phải được cân với nguy cơ viêm phổi, tổn thương não hay tử vong nếu đứa trẻ mắc căn bệnh mà thuốc chủng ngừa có thể phòng được.

Y khoa không hứa sự an toàn tuyệt đối. Y khoa cân rủi ro và chọn con đường ít nguy hiểm hơn.

Cha mẹ có đầy đủ lý do để hỏi bác sĩ thuốc gì đang được chích vào con mình, có lợi gì, phản ứng phụ ra sao và khi nào cần đưa trẻ vào nhà thương.
Hoài nghi không phải điều xấu.

Nhưng hoài nghi không có nghĩa mọi nguồn tin đều đáng tin như nhau.

Một cuộc nghiên cứu trên hàng trăm ngàn trẻ không thể đặt ngang hàng với một video trên TikTok. Một bác sĩ nhi khoa không thể bị xem như ngang hàng với một người bán thuốc “thải độc” trên mạng.

“Tự nghiên cứu” chỉ có ích khi người nghiên cứu biết phân biệt giữa chứng cớ và lời truyền miệng.

Ba đứa trẻ của Michael cuối cùng đều bình phục. Cho đến nay vẫn không biết chắc căn bệnh nào đã khiến chúng sốt cao, nổi ban và làm hai em bị viêm phổi.

Chính sự không chắc chắn ấy lại nói lên một điều quan trọng.

Y khoa không thể bảo đảm một đứa trẻ đã chủng ngừa sẽ không bao giờ mắc bệnh. Cũng không thể bảo đảm một mũi thuốc hoàn toàn không có phản ứng phụ.

Điều thuốc chủng ngừa có thể làm là giảm nguy cơ trước khi căn bệnh tìm đến.

Cha mẹ nào cũng muốn bảo vệ con.

Nhưng đến khi một đứa trẻ sốt 105 độ, dưỡng khí trong máu tụt xuống 81 phần trăm và không còn đủ sức ho cho sạch phổi, cuộc tranh luận trên mạng không còn mấy ý nghĩa.

Người lớn có thể tiếp tục tranh cãi. Trẻ con mới là người lãnh đủ.

Hoa Trang tóm dịch
Nguồn: dựa theo bài The Maha Custody Battle, Ruby Cramer, đăng trên tờ The New Yorker số 31 tháng 8.

Hai nghiên cứu mới đăng trên JAMA Pediatrics cho thấy việc hoãn mũi chích ngừa viêm gan B cho trẻ sơ sinh có thể làm tăng số trẻ bị nhiễm bệnh, kéo theo thêm bệnh gan, ung thư gan, tử vong và chi phí y tế cao hơn. Từ năm 1991, Hoa Kỳ khuyến cáo tất cả trẻ sơ sinh nên được chích mũi viêm gan B đầu tiên trong vòng 24 giờ sau khi sanh. Chính sách này được xem là một lớp bảo vệ quan trọng cho trẻ, vì viêm gan B có thể lây từ mẹ sang con lúc sanh, qua máu, dịch cơ thể, hoặc qua người chăm sóc trong gia đình.
Biến thể BA.3.2 của COVID-19, được đặt biệt danh là “Cicada,” đang lưu hành tại California, làm dấy lên lo ngại rằng số ca bệnh có thể tăng trở lại khi mùa hè đến gần. Biến thể này mang nhiều đột biến, né miễn dịch khá giỏi trong các nghiên cứu phòng thí nghiệm, trong khi tỷ lệ chích ngừa nơi người cao niên vẫn còn thấp. Sự xuất hiện của “Cicada” cũng cho thấy một đổi thay đáng chú ý: COVID tại California nay không còn bùng mạnh nhất vào mùa đông như những năm đầu đại dịch. Theo dữ kiện của Sở Y Tế Công Cộng California, các đợt tăng bệnh trong mùa hè năm 2024 và 2025 còn cao hơn cả các đỉnh mùa đông cùng năm. Hai mùa đông vừa qua, cúm mới là siêu vi hô hấp chiếm ưu thế.
Theo một nghiên cứu mới của Thụy Điển, tình trạng thiếu máu vừa được phát hiện ở người lớn có thể là dấu hiệu báo trước nguy cơ ung thư, đồng thời cũng đi kèm nguy cơ tử vong cao hơn. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu của hơn 380,000 người trưởng thành. Một nửa là những người mới được xác định bị thiếu máu; nửa còn lại là những người cùng tuổi, cùng giới tính nhưng không bị thiếu máu. Tất cả đều trên 18 tuổi và chưa bị ung thư vào lúc bắt đầu được theo dõi.
Một báo cáo mới của Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ (CDC) đăng trên Morbidity and Mortality Weekly Report ngày 9 tháng 4 cảnh báo các chủng Shigella kháng thuốc rất mạnh đang gia tăng tại Hoa Kỳ. Đây là loại vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy rất dễ lây, và sự gia tăng của các chủng kháng gần hết những thuốc thường dùng đang khiến giới y tế đặc biệt lo ngại.
Hàng triệu người cao niên ở Hoa Kỳ đang bất ngờ bị mất bảo hiểm chăm sóc sức khỏe. Theo phóng sự của Christopher Rowland đăng trên Washington Post ngày 28 tháng 3 năm 2026, nguyên do nằm ở chỗ chương trình Medicare Advantage — tức bản tư nhân hóa của Medicare — đang co rút tại nhiều nơi vì chi phí y tế gia tăng, lợi nhuận giảm sút, và các hãng bảo hiểm không còn muốn gánh những quận hạt sinh lời kém. Ông Anthony J. Petchkis, 70 tuổi, một họa sĩ phong cảnh sống ở vùng núi New Hampshire, là một trong những người bị hất ra ngoài guồng máy ấy. Ông có tiền sử đau tim, tiểu đường, gout, viêm khớp dạng thấp, và phải uống tám thứ thuốc mỗi ngày. Trước đây, ông tin chương trình Medicare Advantage sẽ giúp đỡ phần lớn chi phí chữa trị. Nhưng sang năm nay, chương trình ấy cắt ông ra; với thu nhập khoảng 24.000 Mỹ kim một năm từ tiền An Sinh Xã Hội và bán tranh, nỗi lo lớn nhất của ông rất giản dị: lỡ bệnh nặng thì lấy gì mà trả.
Một biến thể COVID-19 mang tên BA.3.2 đang lan nhanh tại Hoa Kỳ, sau một thời gian âm thầm lưu hành từ cuối năm 2024. Giới y khoa hiện theo dõi sát biến thể này vì nó khác khá xa các chủng đang phổ biến, dù cho tới nay chưa có dấu hiệu nào cho thấy nó gây bệnh nặng hơn. BA.3.2, còn được gọi là Cicada, là hậu duệ của Omicron, biến thể từng xuất hiện vào cuối năm 2021. So với các chủng SARS-CoV-2 hiện đang chiếm ưu thế, BA.3.2 mang từ 70 đến 75 thay đổi di truyền trong gai protein, tức phần giúp vi-rút xâm nhập tế bào người. Đây cũng là phần mà vaccine dựa vào để giúp hệ miễn nhiễm nhận diện vi-rút.
Theo Peter Sullivan, viết trên Axios ngày 30 tháng 3 năm 2026, giới lãnh đạo Cộng Hòa tại Hạ Viện đang thảo luận việc cắt giảm một phần chi tiêu y tế liên bang để bù vào một dự luật ngân sách có thể dành tới 200 tỷ Mỹ kim cho chiến tranh Iran và việc bố ráp di trú. Đây là một chọn lựa chính trị nhạy cảm. Trong một năm bầu cử, việc rút tiền từ các chương trình chăm sóc sức khỏe để chi cho chiến tranh và tăng ngân khoản cho ICE gần như chắc chắn sẽ trở thành một mũi tấn công của phía Dân Chủ.
Mấy năm nay, thị trường thuốc bổ, vitamin, thực phẩm “hỗ trợ sức khoẻ” mọc lên như nấm. Đi ngang một tiệm thuốc tây hay siêu thị là thấy đủ thứ lọ, hộp, hũ, chai… hứa hẹn nào là đẹp da, ngủ ngon, bớt mập, khoẻ tim, sáng mắt, minh mẫn tới già. Hỏi cho ra lẽ: đàn bà trung niên có cần phải uống những thứ đó không, và nếu uống thì nên chọn cái gì? Các bà chuyên viên dinh dưỡng cho biết: bước qua tuổi trung niên, cơ thể mình không còn làm việc “ngon lành” như hồi ba mươi. Một số chất như sinh tố B12, chất vôi (canxi) cơ thể hấp thụ kém hơn. Lại thêm chuyện mãn kinh: oestrogen tụt xuống, xương mỏng dần, tim mạch dễ trục trặc, bắp thịt teo đi, mỡ bụng dễ tích. Nói vậy không có nghĩa là cứ tới tuổi là ai cũng thiếu đủ thứ; mỗi người một kiểu, không có toa chung cho tất cả.
Câu trả lời ngắn là: tin được để ước lượng, nhưng đừng xem đó là con số tuyệt đối. Bài viết của Kaitlin Sullivan đăng trên NBC News ngày 22 tháng 3 năm 2026 nêu lại một điều giới dinh dưỡng đã biết từ lâu: con số calorie trên nhãn là một chuẩn ước tính cần thiết, nhưng cơ thể mỗi người hấp thu năng lượng khác nhau, và chính cách chế biến thực phẩm cũng làm con số ấy dao động. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan Kiểm Soát Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) buộc phần lớn thực phẩm đóng gói phải ghi nhãn dinh dưỡng; đến năm 2016, quy định này được sửa đổi để phần “Calories” hiện rõ hơn, dễ thấy hơn trên bao bì. Mục đích là giúp người tiêu thụ dễ đọc và dễ so sánh hơn khi chọn món ăn hằng ngày.
Bản hướng dẫn mới nhất của giới y học Hoa Kỳ vừa được công bố hôm 13 tháng 3, 2026, đánh dấu một thay đổi quan trọng trong quan niệm phòng ngừa bệnh tim mạch. Mười một hội y khoa hàng đầu, gồm Hiệp hội Tim mạch Mỹ và Trường Đại học Tim mạch Hoa Kỳ, đồng ký tên khuyến cáo rằng con người nên bắt đầu để ý đến mức cholesterol từ khi còn trẻ, khoảng tuổi 30, và cần duy trì ở mức thấp suốt đời để giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Theo bác sĩ Roger Blumenthal, giáo sư tim mạch tại Đại học Johns Hopkins và chủ tịch ủy ban soạn thảo tài liệu, tám mươi phần trăm trở lên các trường hợp bệnh tim mạch đều có thể phòng ngừa được nếu con người bắt đầu sớm và kiểm soát tốt mỡ máu ngay từ những năm đầu trưởng thành.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.