Hôm nay,  

Quán Thế Âm

15/08/200900:00:00(Xem: 8796)

QUÁN THẾ ÂM
GS Phạm Công Thiện
(Bài giảng của Phạm Công Thiện tại Thiền tu viện Viên Thông ở Bellflower, California, Mỹ quốc vào ngày vía Quán Thế Âm, Chủ Nhật 09/08/2009.)
Dường như do sự tình cờ ngẫu nhiên mà tất cả chúng ta đều đang có mặt ngay giây phút này ngày hôm nay tại chùa Viên Thông vào ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Quán Thế Âm Bồ Tát còn được gọi là Viên Thông Đại Sĩ.
Thực sự trong Đạo Phật không có gì gọi là "tình cờ ngẫu nhiên", vì tất cả đều xảy ra đúng "thời tiết nhân duyên" thích ứng: cái gì đang xảy ra trước mắt ta mà ta có thể cảm thấy được như thế này hay như thế kia đều do nghiệp tốt hay nghiệp xấu của mình, nhưng thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp của mình đều có thể thay đổi và chuyển hóa một cách thanh lương, thanh tịnh, sạch sẽ, sáng sủa, sáng suốt và sáng rực ngay tại đây và ngay giây phút hiện tại hay bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.
Làm thế nào" Quy y Tam Bảo, sám hối nghiệp chướng, tôn thờ những bậc Thầy của mình, phát Bồ Đề Tâm, niệm Phật, nhất tâm niệm Phật, nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thực hành lục Ba La Mật, tu hành Tứ Vô Lượng Tâm và hồi hướng tất cả công đức cho Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nói thì dễ và làm mới khó.
Đó là nói theo người đời thế tục.
Trong Đạo Phật, làm thì rất dễ, vì lúc nào chúng ta cũng làm, được làm hay bị làm; lúc nào chúng ta cũng đang tạo nghiệp, quá nhiều nghiệp đến nỗi phải bị trôi lăn chìm nổi, và cả đời chúng ta chỉ là ba chìm bảy nổi chín lênh đênh.
Muốn thoát khỏi cái ba chìm thì có ba cái "bảo bối gia truyền", đó là Phật, Pháp, Tăng. Bảy cái nổi ấy chính là "thất giác chi hay thất Bồ Đề Phần" (niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi). Cả cuộc đời chúng ta và cả cái chết của chúng ta, bao nhiêu kiếp sống và chết, và chết rồi sống lại; tất cả, tất cả đều là chín lênh đênh. Trong Đạo Phật có cách tu hành để cho hết chín cái lênh đênh, đó là chín cái thiền định rất có trật tự, theo thứ tự rất nghiêm mật, và liên tục nhất tâm, liên tục chuyên nhất và vô cùng sắc bén sáng sạch, đó là cửu thứ đệ định (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không xứ định, thức xứ định, vô hữu xứ định, phi tưởng phi phi tưởng xứ định, và diệt thọ tưởng định).
Làm thì rất dễ và quá dễ, nhưng nói thì vô cùng khó khăn, làm sao nói mà mỗi một lời nói làm sáng sạch thơm tho không khí, mỗi một lời nói là sấm chớp chẻ tan sự hận thù, ghen ghét, đố kỵ, tham lam, ngu si, kiêu ngạo, tà kiến, sợ hãi, sợ sệt, sợ người, sợ đời, sợ ma, sợ quỷ, sợ thua, sợ mất, sợ chết, sợ sống, sợ khổ, sợ già, sợ bệnh, sợ tiếng xấu, sợ bị chửi mắng, sợ bóng sợ gió, sợ mất đất đứng, sợ què chân, sợ đui, sợ té, sợ ba chìm bảy nổi chín lênh đênh.
Nói rất khó, vì làm sao nói mà không tự nói xấu hay nói xấu người khác; làm sao nói mà không kín đáo tự khen mình và gián tiếp chê người khác; làm sao nói mà không tự trách mình hay trách cứ người khác; làm sao nói mà không tự biện minh hay tự bảo vệ tự đề phòng; làm sao nói mà mỗi một lời nói làm người khác cảm thấy vui vẻ, vui sướng và vui lòng; làm sao nói mà không vọng ngữ, không ác ngữ, không ỷ ngữ và không lưỡng thiệt ngữ"
Làm sao nói mà ban cho sự không sợ hãi (vô úy thí)"
Làm sao nói mà tất cả ai nghe đều thoát khỏi tất cả sự khổ, và tất cả đều được giải thoát, được dứt hết tất cả lênh đênh, được Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, và Đại Xả.
Làm sao nói mà mỗi một âm thanh đều là chân ngôn, mật ngôn, minh chú, thần chú"
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã dạy Lục Tự Đại Thần Chú cho toàn thể chúng sinh tự bao giờ cho đến bây giờ, hiện tại ở đây. Đây cũng gọi là Lục Tự Đại Minh Thần Chú, Lục Tự Đà La Ni:
OM MANI PADMÉ HUM
Hay ÁN MA NI BÁT DI HỒNG
Chúng ta đều bị ba chìm bảy nổi chín lênh đênh trong bao nhiêu cõi trời, cõi a tu la, cõi người, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi địa ngục. Chỉ có Lục Tự Đại Minh Chú của Đức Quán Thế Âm mới đóng hết tất cả sáu đường sanh tử:
OM (ÁN) đóng cửa thiên đạo;
MA (MA) đóng cửa tu la đạo;
NI (NI) đóng cửa nhân đạo;
PAD (BÁT) đóng cửa súc sanh đạo;
MÉ (DI) đóng cửa ngạ quỷ đạo;
HUM (HỒNG) đóng cửa địa ngục đạo.
Làm sao nói mà lúc nào cũng nói OM MANI PADMÉ HUM, dù nói thầm trong đầu, nói thầm trong lòng, nói nhỏ tiếng hay nói lớn tiếng, nói chậm rãi, nói thoải mái, nói nhẹ nhàng, nói thong dong, nói thong thả, nói dịu hiền, dịu dàng, dịu ngọt, dìu dặt và đùm bọc ...
Làm sao thức và ngủ, chiêm bao và không chiêm bao, lúc nào cũng là OM MANI PADMÉ HUM. Làm sao đi và đứng, ngồi và nằm đều là OM MANI PADMÉ HUM, là sao ăn uống hay nhịn đói, nóng, lạnh, mưa gió, bão táp, dông tố, động đất, vợ bỏ, chồng bỏ, phá sản sạt nghiệp, tất cả đều là tha ma, tận thế, sụp đổ, tàn phế, tàn tạ, tan rã, tan vỡ, tang tóc, thê lương mà miệng và lòng vẫn nói OM MANI PADMÉ HUM"
Làm sao thở ra và thở vô, mỗi hơi thở đều là OM MANI PADMÉ HUM. Đây là thở ra Đại Bi và thở vào Đại Bi, sống Đại Bi và chết Đại Bi, nói Đại Bi và im lặng cũng Đại Bi.
Đại Bi là gì" Mỗi tế bào, mỗi lỗ chân lông đều phập phồng Đại Bi, nhất cử nhất động đều phập phồng phất phới Quán Thế Âm Bồ Tát, thênh thang phe phẩy ÁN MA NI BÁT DI HỒNG.
Muốn vãng sanh Cực Lạc chỉ cần nói OM MANI PADMÉ HUM với Liên Hoa Thủ Bồ Tát (Padmapàni). Trong tạng Ma ni già bộ bà (Mani bkah hbum) đã dạy rằng ai xướng lên chỉ một lần OM MANI PADMÉ HUM thì đoạn dứt đường lưu chuyển trong sáu cõi luân hồi.
Sáu mươi bốn sự trong sạch lặng lẽ trong sáng của âm thanh chư Phật đều được thu nhiếp trọn vẹn trong lục tự OM MANI PADMÉ HUM. Có cần nhắc lại lục thập tứ chủng Phạm âm:
1. Lưu trạch thanh (tràn thấm lưu loát, mượt mà, nhuần hết tất cả chúng sanh)
2. Nhu nhuyễn thanh (dịu dàng, mềm mại, nhu nhuyễn)
3. Duyệt ý thanh (làm vui sướng, vừa ý, thư thái lòng dạ)
4. Khả lạc thanh (đáng thích thú, vui sướng, mầu nhiệm)
5. Thanh tịnh thanh (sạch sáng, lóng sạch, không nhiễm tạp)
6. Ly cấu thanh (không còn dơ, không cấu, không nhiễm)
7. Minh lượng thanh (rõ ràng, minh bạch, sáng trong, trong trẻo)
8. Cam mỹ thanh (lắng nghe được pháp hỷ ngọt dịu)
9. Nhạc văn thanh (làm cho thích nghe không chán)
10. Vô liệt thanh (không liệt kém, không thều thào, thoi thóp)
11. Viên cụ thanh (một âm là tất cả âm, một thanh là tất cả thanh, mỗi âm thanh đều nói lên sự im lặng thanh thoát kỳ diệu)
12. Điều thuận thanh (điều phục tùy thuận chúng sanh)
13. Vô sáp thanh (điều hòa, thuận tai, không thô)
14. Vô ác thanh (không xấu, ác)
15. Thiện nhu thanh (không thô bạo, nhu hòa, hiền lành)
16. Duyệt nhĩ thanh (làm vui lòng, nghe không chán)
17. Thích thân thanh (cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái)
18. Tâm sanh dũng nhuệ thanh (phát dũng chí tinh tiến tu hành)
19. Tâm hỷ thanh (sanh tâm vui mừng, vui sướng, vui vẻ, vui tươi)
20. Duyệt lạc thanh (sanh lòng vui vẻ, an lạc)
21. Vô nhiệt não thanh (không bị nóng đầu, nóng mặt, nóng người, nóng lòng, nóng giận, được thanh thoát, mát mẻ)
22. Như giáo lệnh thanh (như mệnh lệnh giáo giới của Phật Pháp, khiến tín tâm thanh tịnh)


23. Thiện liễu tri thanh (thông đạt diệu pháp)
24. Phân minh thanh (sáng rõ như thực, như lý)
25. Thuận ái thanh (làm cho thương quý, yêu thích thiện pháp)
26. Linh sanh hoan hỷ thanh (khiến lòng người hoan hỷ)
27. Sử tha như giáo lệnh thanh (khiến cho người nghe xong lại khai mở cho người khác)
28. Linh tha thiện liễu tri thanh (khiến cho người nghe hiểu thông tất cả pháp)
29. Như lý thanh (khế hợp chân như, chân lý)
30. Lợi ích thanh (lợi ích cho tất cả chúng sanh)
31. Ly trùng phục (phức) quá thất thanh (khế hợp lý thú, không có trùng lặp từ đầu đến cuối)
32. Như sư tử thanh (như tiếng rống sư tử, làm cho loài ác thú khác đều sợ hãi ác nghiệp, tỉnh ngộ để quy y Tam Bảo)
33. Như long âm thanh (như tiếng rồng)
34. Như vân lôi hống thanh (xa gần đều nghe, như tiếng sấm nổ)
35. Như long vương thanh (như tiếng vua rồng, trong trẻo vọng vang xa xôi)
36. Như Khẩn Na La diệu ca thanh (tuyệt vời như âm thanh của ca thần, làm cho chúng sinh đều thích nghe vui sướng)
37. Như Ca Lăng Tần Già thanh (tuyệt vời như tiếng chim Ca Lăng Tần Già)
38. Như Phạm Vương thanh (thanh tịnh như âm Phạm Vương)
39. Như Cộng Mạng điểu thanh (an lành như tiếng hót chim Cộng Mạng)
40. Như Đế Thích mỹ diệu thanh (tuyệt mỹ diệu huyền như âm trời Đế Thích)
41. Như chấn cổ thanh (vang dội xa gần như tiếng trống Bát Nhã)
42. Bất cao thanh (tròn đầy khế hợp trung đạo)
43. Bất hạ thanh (viên âm trung đạo bát bất)
44. Tùy nhập nhất thiết âm thanh (bao hàm dung thông tất cả âm thanh)
45. Vô khuyết giảm thanh (viên mãn, không khuyết)
46. Vô phá hoại thanh (không thể phá hoại)
47. Vô nhiễm ô thanh (xa lìa phiền não, không trước nhiễm)
48. Vô hy thủ thanh (lợi lạc cho chúng sanh, không hề mong cầu)
49. Cụ túc thanh (diệu lý xứng tánh trọn vẹn đầy đủ)
50. Trang nghiêm thanh (đoan trang nghiêm túc, đủ công việc diệu hạnh)
51. Hiển thị thanh (khai thị hiển hiện diệu pháp)
52. Viên mãn nhất thiết âm thanh (hoàn bị đầy đủ tất cả âm thanh)
53. Chư căn thích duyệt thanh (các căn đều vui sướng, vui thích)
54. Vô cơ hủy thanh (không chê bai hủy báng chúng sanh)
55. Vô khinh chuyển thanh (bao trùm, chắc thật, không dời đổi)
56. Vô động dao thanh (không sợ sệt, không có thiên ma ngoại đạo nào lay động)
57. Tùy nhập nhất thiết chúng hội thanh (trùm khắp chúng hội, tùy căn cơ đều hiểu được)
58. Chư tướng cụ túc thanh (đầy đủ các tướng)
59. Linh chúng sanh tâm ý hoan hỷ thanh (khiến cho chúng sinh được lòng hoan hỷ)
60. Thuyết chúng sanh tâm hành thanh (84,000 loại tâm hành của vô lượng chúng sanh căn tánh hạ liệt đều ngộ nhập)
61. Nhập chúng sanh tâm hỷ thanh (khế nhập tâm ý chúng sanh)
62. Tùy chúng sanh tín giải thanh (làm cho sự tin hiểu của chúng sanh đều được lợi ích thanh tịnh)
63. Văn giả vô phân lượng thanh (trời, người, ma vương, Phạm thiên, sa môn, bà la môn ở khắp nơi, tuy nghe được mà không thể biết hết trọn vẹn)
64. Chúng sanh bất năng tư duy xứng lượng thanh (không thể tư duy lường tính được)
Tất cả lục thập tứ chủng Phạm âm có thể được đúc kết lại trong mấy câu kệ bất hủ trong Phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:
Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm Hải Triều Ân
Thắng bỉ thế gian âm
Thị cố tu thường niệm
*
Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm Hải Triều Âm
Thắng hết thế gian âm
Vậy nên thường phải niệm
(Hòa Thượng Thích Trí Thủ dịch,
Toàn tập Tâm Như Trí Thủ, tr. 299)

Nhĩ căn và âm thanh có liên hệ mật thiết bí mật toàn diện với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta chỉ cần tụng mười sáu câu kệ bất diệt trong kinh Thủ Lăng Nghiêm (từ sơ ư văn trung đến thập phương viên minh...)
Sáu âm thanh bí ẩn huyền diệu OM MANI PADMÉ HUM đã được bao nhiêu triệu tỷ người xung tụng thường niệm bao nhiêu tỷ lần từ đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn cho đến tất cả đồng bằng thung lũng khắp trái đất.
Chẳng những thường niệm, nhất tâm xưng hô Lục Tự Đại Minh Chú, hành giả còn có thể quán tưởng, quán tượng và quán sắc của Lục Tự Đại Minh Chú:
OM là màu trắng; thiên
MA là màu xanh lá cây; a tu la
NI là màu vàng; nhân loại
PAD là màu xanh da trời, xanh nhạt nhẹ; súc sinh
MÉ là màu đỏ; ngạ quỷ
HUM là màu đen; địa ngục

Chủng tự của Phật A Di Đà và Đức Quán Thế Âm là HRI thì màu trắng trong OM MANI PADMÉ HUM HRI và ngay trong chủng tự (bìja, seed-syllable) HRI theo chữ Tây Tạng gồm có 6 thành phần thì hành giả Tây Tạng có thể quán năm màu từ trên xướng dưới: xanh dương, trắng, vàng, đỏ, xanh lá cây và lại xanh lá cây; từ Pháp Giới Trí (Tỳ Lô Giá Na) đến Đại Viên Cảnh Trí (Phật A Súc), Bình Đẳng Tánh Trí (Bảo Sanh Phật), Diệu Quan Sát Trí (A Di Đà Phật) và Thành Sở Tác Trí (Bất Không Thành Tựu Như Lai).
Xanh - Dharmadhatu (Vairocana)
Trắng - Akasobhya
Vàng - Ratnasambhava
Đỏ - Amitabha
Xanh lá cây - Amoghasiddhi
Xanh lá cây - Amoghasiddhi
Chúng ta cũng có thể hiểu:
OM là Pháp thân của tất cả chư Phật, mọi thần chú đều bắt đầu bằng OM
MANI là Ngọc Mani Như Ý
PADMÉ là bông sen
HUM là Tâm của tất cả chư Phật và chấm dứt mọi chân ngôn
*
OM làm sạch chướng cái của Thân
MA lọc sạch Khẩu
NI làm sạch Ý
PAD làm sạch phiền não chướng
MÉ làm sạch tập khí huân tập
HUM làm sạch sở tri chướng
*
OM là cầu nguyện xưng tán Thân chư Phật
MA là cầu nguyện lễ kính xưng tán Khẩu chư Phật
NI là cầu nguyện xưng tán lễ kính Tâm chư Phật
PAD là cầu nguyện xưng tán lễ kính Hạnh chư Phật
MÉ là xưng tán sở hành Diệu Phương Tiện của chư Phật
HUM thu nhiếp tất cả uy thần gia trì của Thân, Khẩu, Ý, Hạnh, Hành của tất cả chư Phật.
*
OM là bố thí ba la mật
MA là trì giới ba la mật
NI là nhẫn nhục ba la mật
PAD là tinh tiến ba la mật
MÉ là thiền định ba la mật
HUM là Bát Nhã ba la mật
*
OM là Bảo Sinh Như Lai (Ratnasambhava Tathagata)
MA là Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiddhi Tathagata)
NI là Kim Cương Trì Như Lai
Kim Cương Thủ Như Lai - Vajradhara
Kim Cương Chấp Như Lai - (Phạ nhật la đà la)
Thủ Trì Kim Cương Như Lai
PAD là Tỳ Lô Giá Na (Vairocana)
MÉ là Phật A Di Đà (Amitabha)
HUM là A Súc Bệ Phật (Akshobya)
*
OM là bình đẳng tánh trí
MA là thành sở tác trí
NI là tự nhiên trí
PAD là pháp giới trí
MÉ là diệu quan sát trí
HUM là đại viên cảnh trí
Bồ Tát Thánh Tăng Tây Tạng Patrul Rimpoché đã từng dạy cho tất cả bao nhiêu thế hệ sư phụ ở Hy Mã Lạp Sơn:
"Quán Thế Âm là hiện thân của tất cả chư Phật;
Một thần chú (mantra), Lục Tự Đại Minh Chú, OM MANI PADMÉ HUM là thể hiện tất cả chân ngôn thần chú;
Một Pháp, Bồ Đề Tâm, Lòng Bồ Đề (Bodhicitta) là thực hiện tất cả sự thực hành tu chứng của giai đoạn khởi phát và thành tựu của giáo pháp Kim Cang Thừa;
Biết được một cái thì giải thoát tất cả, thế thì hãy trì tụng OM MANI PADMÉ HUM."
Tất cả Phật Pháp đều bắt đầu bằng Quy Y Tam Bảo và Phát Bồ Đề Tâm và kết thúc bằng Hồi Hướng Công Đức cho Nhất Thiết Chủng Trí.
Xin kính cẩn cảm tạ Thượng Tọa Thông Niệm, Viện chủ Chùa Viên Thông đã có lòng mở rộng ra để cho chúng ta được nghe Lục Tự Đại Minh Chú của Quán Thế Âm ngày hôm nay.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
NAM MÔ ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT
OM MANI PADMÉ HUM
OM MANI PADMÉ HUM
OM MANI PADMÉ HUM
Phạm Công Thiện

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.