Hôm nay,  

Châu Á Phục Hồi Nhanh

04/11/200900:00:00(Xem: 7585)

Châu Á Phục Hồi Nhanh

Nguyễn Xuân Nghĩa & Mai Vân RFI

Nhưng chỉ bền vững nếu cải cách và chuyển hướng...
Ngày 29/10/2009, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố dự báo về kinh tế Châu Á Thái Bình Dương với một số nhận định tương đối lạc quan. Tăng trưởng kinh tế khu vực sẽ là 5,75% trong năm 2010, so với 2,75% dự kiến năm nay. Trong lúc đó thì tăng trưởng các quốc gia nhóm G7 chỉ là 1,25% cho năm tới.
Nếu trước đây, các nền kinh tế Châu Á bị tác hại nặng nề, có khi nặng nề hơn những nước ở ngay trung tâm khủng hoảng, thì giờ đây Châu Á dẫn đầu thế giới ra khỏi khủng hoảng. Năm nay, Trung Quốc tăng trưởng khoảng 8,5%, còn năm tới đây, theo dự báo của IMF sẽ lên 9%. Nhật Bản cũng sẽ tăng trưởng trở lại vào năm 2010, tuy ở mực khiêm tốn, 1,75%, trong khi năm nay kinh tế thụt lùi xuống mức - 5,5%.
Các nước ASEAN, như Thái Lan, Malaysia, Philippines, mà kinh tế cũng thụt lùi trong năm 2009, cũng sẽ tăng trưởng trở lại, 2,5% đối với Malaysia, 3,5% cho Phillipines và Thái Lan 3,7%. Riêng Indonesia và Việt Nam có tăng trưởng cao hơn : từ 4,6 % năm 2009, Việt Nam sẽ đạt 5,3% vào năm 2010. Indonesia, từ 4% năm nay, sẽ nhích lên 4,8%.
Trong bản cập nhật về kinh tế Đông Á, công bố ngày 04/11, Ngân hàng thế giới cũng nêu bật đà phục hồi của Á Châu.
Về nguyên nhân giúp các nước Châu Á phục hồi nhanh như thế, IMF nêu lên bối cảnh thương mại và tài chính toàn cầu hoạt động bình thường trở lại, nhưng định chế này cũng khen ngợi các quốc gia Châu Á đã biết nhanh chóng đưa ra các đối sách hữu hiệu trên mặt tiền tệ, tài chính, kích thích kinh tế. Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chưa sáng sủa, trường hợp kinh tế Châu Á khả quan hơn là một hiện tượng đáng khích lệ.
Tuy nhiên bên cạnh những đánh giá tích cực trên, Quỹ tiền tệ Quốc tế cũng đưa ra những lời khuyến cáo rất đáng quan tâm. Đó là khu vực này vẫn phải cảnh giác về chính sách kích thích kinh tế, cần triệt để cải cách về cơ chế, chuyển hướng kinh tế, thích nghi với tình hình mới của thế giới, với nhu cầu của các thị trường xuất khẩu truyền thống của họ (Hoa Kỳ, Châu Âu…) sụt giảm. Nói cách khác, châu Á phải chú trọng hơn đến thị trường nội điạ.
Có làm như thế thì mới hy vọng duy trì được một mức tăng trưởng cao trong lâu dài trong khung cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều thay đổi. Theo IMF, đà tăng trưởng tương đối khả quan hiện nay vẫn còn bấp bênh.
Trong phần trả lời RFI, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghiã phân tích cụ thể hơn về bài toán nói trên : về những nguyên nhân giúp các quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam, vươn lên, cũng như những khó khăn phải vượt qua để duy trì được đà tăng trưởng, như khuyến cáo của IMF. Ngoài ra, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghiã, cũng đánh giá là nếu không kể đến Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, tình hình kinh tế những nước còn lại của Châu Á không khả quan như người ta nghĩ..
Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn (03/11/2009):
RFI: Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố dự báo về kinh tế châu Á Thái Bình Dương với nhiều thẩm định lạc quan hơn về triển vọng cho năm tới, cụ thể là sẽ đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5,75% vào năm tới so với vỏn vẹn có 2,75% trong năm nay. Cảm tưởng chung là dường như trong các khu vực kinh tế toàn cầu, Á châu đang bật dậy sớm hơn cả. Xin đề nghị anh phân tích cho những yếu tố nào đã khiến Á châu hồi phục mạnh hơn nơi khác "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói về bối cảnh trước rồi mình lần lượt xoáy vào từng khía cạnh đặc thù. Á châu là khu vực rộng lớn và đa diện với rất nhiều khác biệt. Nó gồm có cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới là Nhật, ở trong nhóm thất hùng đã công nghiệp hóa là khối G-7 nhưng hiện chưa ra khỏi suy trầm.
Khi các định chế quốc tế nói tới kinh tế Á châu, ta nên hiểu là họ thường không kể Nhật Bản. Á châu cũng có Ấn Độ với hơn một tỷ dân và kinh tế tương đối ít bị chấn động, nhưng không thuộc Đông Á. Khu vực Đông Á thì có các nền kinh tế "tân hưng" mới nổi, như Nam Hàn, Đài Loan, có thể kể cả đại gia Trung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.
- Sau cùng, Á châu cũng có các nền kinh tế gọi là "có lợi tức thấp", như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Bangladesh, Mông Cổ, v.v... Vì vậy, khi nói về Á châu, ta có khá nhiều trường hợp cá biệt nhưng trong chương trình này, có lẽ mình tập trung vào các nước tân hưng vì có sức mạnh kinh tế đáng kể, và sẽ chú ý riêng vào trường hợp Việt Nam.
- Thứ hai, trước khi Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chính năm ngoái và gây ra trận suy thoái toàn cầu, trước tiên là trong nhóm G-7 đó thì kinh tế Mỹ đã bị suy trầm từ cuối năm 2008 sau bảy năm tăng trưởng liên tục. Khi cơn chấn động manh nha từ đầu năm 2008, người ta đã tưởng là kinh tế Á châu, đặc biệt là các nước tân hưng Đông Á, đã tách khỏi ba đầu máy tăng trưởng gọi là nhóm G-3 - là Mỹ, Âu Châu và Nhật Bản - vì đã có nội lực riêng sau mấy thập niên phát triển. Chuyện ấy không xảy ra, Á châu vẫn bị kéo vào suy thoái và chìm xuống đáy, nhưng lại bật lên sớm nhất. Các định chế quốc tế như Quỹ Tiền tệ hay Ngân hàng Thế giới đang nói về sức bật đó.
RFI: Thưa anh, những động lực nào đã tạo ra sức bật đó" Nhờ chính sách cấp cứu kinh tế hay nhờ họ buôn bán với nhau nhiều hơn là với các nước đã công nghiệp hoá, như ba đầu máy G-3 hay nhóm G-7 của Tây phương "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một trong những động lực chính là bài học của vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998 khiến các nước trong khu vực đều biết sợ nên cố xây dựng nền móng vĩ mô lành mạnh hơn, cụ thể là quân bình công chi thu trong ngân sách quốc gia và một khối dự trữ ngoại tệ tương đối khả quan. Nhờ nền móng ấy, khi nạn suy thoái bùng nổ, họ có thể tung ra nhiều biện pháp cấp cứu mạnh bạo về ngân sách như tăng chi để kích thích sản xuất, và về tiền tệ như hạ lãi suất và bơm thêm tín dụng vào kinh tế. Những biện pháp ấy đã phần nào bù đắp mức thất thâu khi các thị trường xuất khẩu vào khối G-3 đều co cụm.
- Khi khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ rồi lan qua Âu Châu thì tư bản bị đông lạnh, tín dụng bị ách tắc nên các nước có tiền này bèn triệt thoái tư bản về để cấp cứu ở nhà khiến đầu tư vào các nước Đông Á cũng giảm mạnh. Nhưng nhờ các nước Đông Á đã gom sẵn một lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào hơn sau vụ khủng hoảng 10 năm trước nên họ vẫn còn ngoại tệ để tung vào thị trường hầu tránh một vụ khủng hoảng ngoại hối vì xuất cảng với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đều giảm. Đó là tình hình chung, nhưng hoàn cảnh mỗi nước lại có những dị biệt.


RFI: Khi xuất cảng vào các nước công nghiệp hoá đều giảm thì các nước Đông Á đã có thể bán hàng cho nhau mà bù đắp vào sự thiếu hụt ấy hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hiện tượng ấy có nhưng không đồng bộ vì hoàn cảnh khác biệt của từng nước. Trước hết, cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế lẫn Ngân hàng Thế giới đều nhận định là Trung Quốc đã ráo riết kích cầu và tìm lại mức tăng trưởng cao hơn cả nên trở thành một đầu máy cho các nền kinh tế kia. Thật ra hai định chế này đều có thói quen đánh giá kinh tế Trung Quốc một cách lạc quan - mà tôi thiển nghĩ là thái quá, nhất là trường hợp của Ngân hàng Thế giới.
- Các nước xuất cảng khoáng sản hay sản phẩm đệ nhất đẳng như nguyên nhiên liệu, thì quả là có bán được hàng cho Trung Quốc. Nhưng đa số các nước này đều thuộc thành phần có lợi tức thấp nên không phải là nhờ vậy mà kinh tế Đông Á nói chung đã đụng đáy và phục hồi sớm hơn cả. Các nước bán hàng chế biến thì chưa thể trông cậy vào việc bán hàng cho Trung Quốc mà ra khỏi suy thoái. Họ tìm sức bật ở nơi khác.
- Nói chung thì ngoài Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Hàn, tình hình kinh tế Á châu chưa khả quan như người ta nghĩ. Chẳng hạn như nếu không kể đà tăng trưởng hơn 8% của Trung Quốc thì bình quân còn lại của các nước Đông Á khó có thể đạt 5,7 hay 5,8% như Quỹ Tiền tệ dự báo, mà chỉ ở khoảng 2-3% thôi và còn thấp hơn các nước Trung Đông hay Nam Á, trong đó có Ấn Độ. Một số nước nghèo, trong đó có Việt Nam với tốc độ tăng trưởng 5%, thật ra chưa ra khỏi cảnh ngộ ngặt nghèo. Vì vậy tôi mới phải dài dòng nói về những khác biệt trong khố kinh tế Á Châu.
RFI: Thưa anh, báo cáo của Quỹ Tiền tệ có nhấn mạnh là đà tăng trưởng tương đối khả quan này thật ra vẫn còn bấp bênh, nghĩa là không đều, và nhất là thiếu bền vững, tức là không kéo dài. Nguyên nhân là vì sao" Và muốn có đà tăng trưởng bền vững thì các nước này phải làm gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nguyên nhân về thời cơ hay chu kỳ -là trong thời gian ngắn hạn một hai năm - đầu máy kinh tế của nhóm G-7 vẫn còn yếu với tăng trưởng bình quân chỉ ở khoảng 1,25% một năm vào năm tới. Lý do là sau nạn suy thoái vừa qua, giới tiêu thụ Âu Mỹ bị cháy túi nên tiêu xài ít đi và kinh tế cũng nhập cảng ít đi. Vì vậy sẽ không giúp gì nhiều cho các nước xuất cảng tại châu Á, ít ra trong một hai năm.
- Nguyên nhân thứ hai thuộc về hoàn cảnh nội tại của các nền kinh tế Á châu. Đó là chưa có trớn tăng trưởng đủ mạnh để khỏi cần tới lực đẩy của chính quyền, tức là nếu các biện pháp kích cầu mà chấm dứt là kinh tế sẽ lại bị suy trầm, đình trệ. Cũng vì vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế mới khuyến cáo các chính quyền là phải cảnh giác để nếu cần và nếu có thể thì tiếp tục duy trì biện pháp kích thích kinh tế, nghĩa là vẫn phải tống ga, nếu không, cỗ xe sẽ dừng.
- Nguyên nhân thứ ba thuộc về cơ chế và có ý nghĩa trường kỳ, là các nền kinh tế Á châu phải tìm ra lực đẩy nội tại từ khu vực tư doanh và khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa thay vì mong chờ bán hàng cho Mỹ cho Âu hoặc nhờ cậy vào chính sách kích cầu của nhà nước. Đây là thử thách lớn nhất cho châu Á vì phải quan niệm lại toàn bộ chiến lược phát triển và cơ chế sản xuất. Không riêng gì các định chế quốc tế như Quỹ Tiền tệ hay Ngân hàng Thế giới, mà nhiều quốc gia trong nhóm G-20 là 20 nền kinh tế mạnh nhất thế giới đã nói đến yêu cầu "quân bình hoá toàn cầu". Nghĩa là các nước giàu, nhất là Hoa Kỳ, cần tiêu thụ ít đi và tiết kiệm nhiều hơn trong khi các nước Đông Á nên tiêu thụ nhiều hơn để mở rộng thị trường nội địa lấy thị trường này làm đầu máy tăng trưởng hơn là thị trường xuất cảng.
RFI: Tức là sau nhiều thập niên thắt lưng buộc bụng để xuất cảng với giá thật rẻ, nay các nước Đông Á được khuyến cáo là nên cởi hầu bao và tiêu xài nhiều hơn hầu thị trường tiêu thụ nội địa sẽ thúc đẩy sản xuất "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và đấy mới là bài toán không dễ giải quyết vì phải chuyển hóa nền kinh tế từ chiến lược hướng ngoại về hướng nội. Nghĩa là đầu tư mạnh hơn vào hệ thống giao thông và phân phối nội địa, đầu tư tinh tế hơn vào giáo dục và tay nghề, khai thông ách tắc luât lệ để tư doanh nội địa dễ tham gia sản xuất, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội và trợ giúp y tế để người dân khỏi e sợ bất trắc mà duy trì mức tiết kiệm quá cao. Và trước hết, dừng duy trì tỷ giá đồng bạc nội địa quá thấp để tìm lợi thế cạnh tranh khi xuất cảng với giá rẻ mà nên điều chỉnh hối suất này cho cao hơn để khỏi gây thiệt thòi lợi tức của người dân.
RFI: Câu hỏi cuối thưa anh, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới nhận định ra sao về trường hợp Việt Nam "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ ngợi khen Việt Nam đã quyết liệt ban hành chính sách kích thích kinh tế qua tăng chi, giảm thuế và nhất là bơm tín dụng, và còn cho rằng ngân khoản kích cầu thực tế có lẽ cao hơn con số chính thức rất nhiều và nhờ vậy mà kinh tế đã tăng trưởng khả quan, bình quân có thể là 5,5% cho cả năm nay.
- Tuy nhiên, họ cũng cảnh báo Việt Nam bốn chuyện nên thận trọng. Thứ nhất, sẽ bị bội chi ngân sách quá cao do số thu thì giảm vì sinh hoạt kinh tế bị đình đọng mà số chi lại tăng quá mạnh vì biện pháp kích cầu. Thứ hai, lượng tín dụng quá lớn bơm vào kinh tế có thể thổi lên bong bóng đầu cơ mà không rót vào đúng nơi cần cứu là tiểu doanh nghiệp tư nhân, lại còn làm hệ thống ngân hàng ôm vào một gánh nợ xấu khiến nhiều cơ sở tài trợ mất lời và bị rủi ro. Thứ ba, nguồn thu ngoại tệ suy giảm vì nhập siêu quá lớn, đầu tư nước ngoài và tiền gửi của thân nhân ở ngoài về đều sụt mạnh nên Việt Nam sẽ bị khó khăn về ngoại hối, dự trữ ngoại tệ chỉ còn hơn 16 tỷ vào tháng Tám vừa qua. Sau cùng, tình trạng nghèo đói đã gia tăng vì sinh hoạt kinh té đình trệ mà mạng lưới an sinh và cứu trợ xã hội vẫn còn quá thô sơ.
- Tổng kết lại, tôi nghĩ rằng bội chi ngân sách tới hơn 9% tổng sản lượng nội địa sẽ thu hẹp khả năng tăng chi cho yêu cầu an sinh xã hội trong khi tín dụng cấp phát quá nhiều lại không cứu đúng đối tượng cần cứu và khi nguồn tín dụng này được giảm thì nhiều trái bóng đầu cơ sẽ xì hoặc bể, thí dụ như trên thị trường chứng khoán vào cuối năm nay và bất động sản vào năm tới. Trong khi đó, tín dụng ào ạt vẫn có thể gây ra hậu quả lạm phát từ cuối năm nay trở đi.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.