Hôm nay,  

Chỉ Là Rỗng Không

17/08/200800:00:00(Xem: 9585)

Miranda Hodgson, The Guardian, ngày 4 tháng 8 năm 2008.

(Tự Truyện Một Ni Cô Tu Thiền)

Từ lúc thơ ấu, Miranda Hodgson đã là một đứa bé vô thần thuần thành, nhưng khi cô bắt đầu thực hành yoga và thiền định, cuộc đời cô đã thay đổi một cách bất ngờ. Sau đây là câu chuyện do chính Sư Cô tự thuật.

Mười một năm trước, tôi sống ở New York, và làm việc trong vai trò một giám đốc nghệ thuật tại Carnegie Hall.

Tôi rất nhiệt huyết và năng nổ, nhưng cảm thấy như đời mình đang thiếu đi một điều gì, và tôi đã không thể giải thích điều đó là gì.  Gia đình tôi ở London, nhưng đã chuyển đến Hoa Kỳ lúc 2 người anh cả và tôi còn rất nhỏ, để ba tôi có thể theo đuổi sự nghiệp một bác sĩ giải phẫu. Chúng tôi sống thoải mái trong giai cấp trung lưu, và được kỳ vọng rằng chúng tôi, cũng sẽ phát triển nghề nghiệp cao hơn một cách thành công, lập gia đình và đến lược con cháu cũng thành đạt như mình.

Ba tôi là một người vô thần cùng loại với mấy ông Richard Dawkins hay Karl Marx, những người mà tôn giáo đơn giản là một bộ máy phản kháng chính trị và xã hội.  Mặc dù mẹ tôi không bao giờ nói nhiều để chống lại điều này, bà ấy có vẻ bực mình khi tôi trong một vài lần phủ nhận sự hiện hữu của thượng đế. Cũng vậy, tôi là một kẻ vô thần.  Như một cô bé vị thành niên, tôi từ chối khi bị bắt buộc xác nhận điều ấy.

Tôi đam mê việc viết lách, văn học và ngôn ngữ, và tôi cũng giỏi trong các môn thể thao và âm nhạc.  Tuy nhiên, tôi đã được khuyến khích có thái độ cạnh tranh, gắn chặt với cá tính nhút nhát của tôi, không để cho những người bạn gần gũi lấn lướt.  Còn nữa, là một người Anh tôi thấy không dễ dãi chút nào để thâm nhập vào văn hóa Mỹ. Cuối cùng, khi lên 18 tuổi, tôi đã có thể thoát ra khỏi những ràng buộc của xóm ngoại ô bằng việc đi Harvard để học văn chương Anh.  Tôi rất thích ở đó - học hành, viết lách, và chạy theo một công ty khiêu vũ thời thượng.  Tôi bắt đầu khám phá ra tôi là ai, và ngay cả tôi đã mất đi lòng tự tin xã hội mà nhiều người bạn học của tôi dường như có, tôi khởi sự thoát ra khỏi cái vỏ ốc dần dần. Tôi đã có bạn trai - một anh chàng thành thật, dễ thương trên tôi một lớp, người tánh tình cứng đờ. Anh ấy là một con chiên Thiên Chúa Giáo ngoan đạo, nhưng điều này không gây ra nhiều trở ngại, bao lâu chúng tôi không bàn về cách mà chúng tôi nghĩ về niềm tin của nhau là hoàn toàn sai lạc.

Cuối cùng, mối quan hệ đã dẫn dắt cuộc tình nhưng, sau khi tốt nghiệp và làm việc tại Carnegie Hall, tôi bắt đầu nhận thức chính mình rằng tôi không còn tìm thấy trong tôi cuộc đời trọn vẹn  với con người vô thần quá khích.  Dù tôi vẫn hiểu rằng không thể tin vào thượng đế, tôi từ từ trở nên ý thức đâu đó vẫn có một đấng thiêng liêng, hữu thần tiến gần đến kinh nghiệm tâm linh của đời sống.  Tôi đã khởi sự thực hành hatha yoga, và rồi được một đồng nghiệp giới thiệu thiền Phật giáo.

Tôi đã rời bỏ việc làm và trở lại Anh Quốc để thực hiện công trình nghiên cứu hậu đại học tại Oxford.  Tôi tiếp tục tu tập với một nhóm địa phương của Hội Thiền Quốc Tế, có trụ sở tại Pháp.  Ngồi thiền và quán chiếu tình trạng của sự hiện hữu là một kinh nghiệm mới lạ, đã từng sống trước đó như một mục đích và đạt đến đời sống định hướng. Khi tôi khảo nghiệm ý tưởng của mình, đặc biệt sự định giá, tôi thấy qua nỗ lực tinh cần liên tục, tôi phát hiện rằng chúng chỉ là rỗng không; từng điều một, chúng tan biến đi. Tôi nghiệm chứng rằng có điều còn quan trọng hơn là việc trèo lên các nấc thang danh vọng bằng mọi giá.

Dù đó là kinh nghiệm giải thoát, nó làm cho tôi hoảng sợ một cách kỳ lạ trong nhất thời. Tôi đã thẩm định lại mục đích của đời sống, và trong việc làm này, ý thức rằng, qua các tiêu chuẩn lúc trước của tôi, tôi cảm nhận như một thất bại.  Thay vì kiếm một công việc làm lương cao, tiếp theo là đám cưới, có một ngôi nhà và mấy đứa con, tôi đã vất vả để đạt đến chung cuộc khi tôi chuẩn bị cuộc sống bằng việc giảng dạy tại đại học đồng lúc cố gắng hoàn tất học vị tiến sĩ.  Rồi, công lao làm việc khó nhọc suốt 5 năm đã đưa đến kết thúc, những vị giám thị đã quyết định rằng họ không muốn giúp tôi trong việc duyệt xét được yêu cầu từ các vị giám khảo, và tôi đã phải tiếp tục đi tới thêm.  Không có tiến sĩ, nghề nghiệp giảng dạy tại đại học mà tôi đã làm cũng không thực hiện được.  Sau khi kinh lịch mỗi xúc cảm và thân xác trở thành bệnh, tôi quyết định dùng kinh nghiệm giảng dạy mà tôi có ở đại học để đi vào công việc dạy một trường trung học đệ nhị cấp.

Tôi tiếp tục việc thiền định với nhóm Thiền và tham dự khóa tu ở Anh và Pháp.  Tại Pháp, tôi gặp một thiền sư (cũng là một người thực tập thiền được cho phép hướng dẫn lại), và nơi vị này, tôi đã thực hiện lời hứa dấn thân vào con đường Thiền. Không giống ở Nhật, nơi các vị thiền sư tăng và ni được hậu thuẫn bởi chính quyền, những người Âu Châu có lời hứa này vẫn tiếp tục sống và làm việc trong xã hội như họ đã làm trước đó. Đối với tôi, quyết định để xin xuất gia làm ni đến rất sớm.  Nó đơn giản như là việc đúng nên làm; nó hoàn toàn có ý nghĩa.  Cuộc đời bấy giờ bắt đầu mở toang ra một cách tự nhiên.

Buổi lễ diễn ra ngay trong thiền đường của vị thiền sư gần thành phố Tours, Pháp, trong một buổi sáng đẹp trời mùa hạ hồi năm ngoái. Tôi đã nhận một cái kimono màu đen tay dài quá cỡ để mặc choàng lên chiếc kimono trắng của tôi, cũng như một chiếc y (mảnh y hình chữ nhật choàng lên thân thể để trống bên vai trái trong thời gian hành thiền) và một chiếc y mà hình dáng như một cái tạp dề ngắn mà tôi đã may cho chính mình. Tôi đã được trao cho một phái quy y, một bình bát, và pháp danh ni mà sẽ được dùng chỉ sau khi tôi qua đời. Tôi khóc ròng suốt buổi lễ, nhưng trông khuôn mặt trong tấm hình thì nói lên tất cả: tôi đang ngồi cạnh vị thiền sư và trông vẻ mặt đầy xúc động, nhưng giải thoát và an lạc.

Gần một năm trôi qua kể từ buổi lễ đó và sự phản ứng của mọi người đối với sự xuất gia của tôi thì khác nhau. Mẹ tôi thì tò mò và ủng hộ, trong khi ba tôi thì không để ý đến; tôi không biết ba tôi nghĩ gì, khác hơn là ông không đồng ý. Tôi nghĩ ba tôi cũng thấy rằng bây giờ tôi được hạnh phúc, điều ấy đã quá đủ với ông ta.  Bởi vì giờ này tôi là cô giáo, tôi không cạo đầu, và chỉ mặc chiếc kimono và y khi hành thiền, tôi trông chẳng khác gì bất cứ người nào mà bạn gặp trên đường phố.

Khi hầu hết mọi người nghe chữ nữ tu, họ đều nghĩ về các nữ tu Thiên Chúa Giáo. Thông thường, câu hỏi đầu tiên của họ là tại sao tôi lại muốn từ bỏ vĩnh viễn đời sống chăn gối vợ chồng. Nói theo cái kiểu này, tức là đặt ân ái ngang hàng với những việc khác như hút thuốc hay rượu chè: những động thái tự thưởng của sự tiêu thụ thỏa thích. Nếu người ta hiểu ân ái theo lối vị kỷ như vậy, không còn ý nghĩa tình yêu nữa, rồi thì cũng đúng thôi, tôi "bỏ nó đi." Một trong những lời nguyện mà tôi phát khi thọ giới xuất gia thuộc về điều luật dâm, và luật ấy nói rằng ban không nên thực hiện sự ân ái trong phương cách tác hại như vậy.  Do đó, không phải là bạn làm điều gì, mà bạn làm như thế nào: lợi dụng người nào đó như một món hàng cho sự thỏa mãn của mình thì hoàn toàn tai hại nếu quán chiếu trong ánh sáng trí tuệ đó. Một thời gian ngắn sau khi xuất gia, tôi đã gặp một người đàn ông mà bây giờ tôi đang chia xẻ mối thân tình dựa trên niềm tin và kính trọng.

Hầu hết các học sinh thiếu niên đều biết tôi là một sư cô, và những phản ứng của họ làm khích lệ tôi.  Họ đều thích thú muốn biết thế nào là một Phật tử cũng như một ni cô, dĩ nhiên, hỏi tôi những câu hỏi về điều mà làm mất nhiều thì giờ trong các bài học.  Một câu hỏi thường nhắc đến là liệu tôi có tin thượng đế không, nhưng tôi không chắc rằng họ có hiểu khi tôi giải thích với họ rằng ý tưởng về Thượng đế của Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo không có chỗ đứng trong đạo Phật. Ở một lần khác, họ hỏi tôi về cách tôi hành thiền. Họ đặt tay theo tư thế mà họ nghĩ là đúng vị thế yoga, nhắm mắt lại, và đọc: "Ohmmm."

Tôi nhìn thấy sự cố chấp những định kiến của họ, và họ không muốn tin khi tôi nói với họ về sự thật: rằng chúng tôi nồi yên tịnh và không nhúc nhích hay tạo ra tiếng động cho đến 6 giờ một ngày. Tôi nghĩ là hoàn toàn xa lạ với họ để được trực diện với người nào đó đã làm một lời nguyện tôn giáo vững chắc như vậy. Một số người cho rằng tôi sống như một người thanh tịnh, và ngạc nhiên khi tôi bảo với họ rằng tôi vẫn uống rượu và sẽ ăn thịt.

Trong khi hiện trạng là một ni cô của tôi thường khuyến khích đối thoại giữa tôi và các học sinh, đôi khi tôi có cảm giác điều ấy làm ngăn cách chúng tôi. Cho đến hôm nay, các học sinh nghĩ rằng, để thành tựu trong đời sống, họ phải đấu tranh để có được điểm cao, bất kể việc học ở học đường là đúng với họ hay không. Tôi cảm thấy buồn mỗi khi phải thúc ép các học sinh lấy các bài thi trắc nghiệm, tôi nhớ những lời dạy từ một vị thiền sư rằng "biết đủ" là đủ trong đời sống.

Sau khi tôi xuất gia, thầy tôi nói với tôi rằng năm kế tiếp, nghiệp lực của tôi sẽ thay đổi mau chóng, và tôi tự tìm thấy việc thực hiện một ít thay đổi cho đời sống của tôi, đặc biệt trong khuôn khổ của quỹ đạo nghề nghiệp của tôi.  Tôi đang tìm ra sự quân bình, mỗi ngày một ít.

Có người nói rằng theo đuổi con đường thiền định Phật Giáo thì đơn giản, nhưng nó không dễ dàng chút nào cả. Nó cần nhiều nỗ lực để cải thiện mỗi ngày. Khi công việc bắt đầu tràn ngập, tôi chỉ nhớ bài thơ được viết bằng mực đen trên một tấm lụa trắng tạo thành giòng trên khăn choàng cổ của tôi: "Với tấm y và đầu sạch tóc, tôi đang giải thoát." Hy vọng sự thật đơn giản của những lời này sẽ luôn luôn sách tấn tôi.

Huỳnh Kim Quang dịch.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.