Hôm nay,  

Dù Trần Truồng, Đói Rét...

11/03/200900:00:00(Xem: 7004)
DÙ TRẦN TRUỒNG, ĐÓI RÉT...
Chu Tất Tiến
Theo lời hát mà con vẫn tâm đắc, "dù trần truồng, đói rét; dù khổ đau; con vẫn ngợi khen Người", mỗi sáng, khi con vừa thức dậy, việc đầu tiên mà con làm là quỳ xuống, dâng lên Chúa lời cảm tạ đầu ngày. Con cảm ơn Chúa vì vừa mở mắt, con vẫn nhìn thấy ánh sáng, thấy căn phòng và những vật dụng chung quanh quen thuộc. Con thấy hạnh phúc vì con hơn những người khiếm thị; họ chỉ mong được nhìn thấy một khuôn mặt thân quen, như Mẹ, như Cha, một lần trong đời; nhưng đã không được.
Bước xuống giường một bước, con cảm tạ Chúa vì con vẫn còn đi được; không như những người con quen, biết, họ phải ngồi xe lăn, hoặc không thể xử dụng đôi chân được nữa. Có biết bao người phải nằm trên giường, nhìn lên trần nhà, chỉ có một vùng trắng ngắt, thèm khát được chạy nhẩy một lần trên đường phố; hoặc hơn nữa, thèm chạy về vùng đất tuổi thơ, có mận, có mơ, có những trái khế vàng ánh, đung đưa, gợi nhớ. Có những người nằm mơ được đạp xe đạp, áo sơ mi trắng học trò, áo dài trắng thơ hay tím Huế, bên cạnh những thằng bạn, con bạn; vừa đạp xe vừa mút kem, hay tung ra những câu chuyện tiếu lâm, những lời bình phẩm về những thằng - con "cù lần lửa" khác trong lớp, rồi cười tung ra như pháo nổ.
Uống một ly nước lạnh đầu ngày, con cảm tạ Chúa vì con vẫn còn khả năng rót nước, uống nước một mình, không phải rên rỉ, nhờ đến ai, xin một ly nước. Những lần đi thăm các nhà dành cho người liệt bại, người không còn đủ sức khỏe, và không có ai chăm sóc mà người ta gọi là nhà "nursing home" nhà "hưu dưỡng", con thấy có những người đau khổ nhờ người khỏe mạnh cho một ly nước với một giọng nói buồn bã. Họ không còn mong muốn một ly ruợu Champagne, hay Johny Walker, hay một ly vang đỏ, mà chỉ mong mỗi ngày được tự rót cho mình một ly nước. Niềm mơ ước giản dị đó, họ cũng không làm được.
Khi ngồi bên bàn làm việc, con cũng cảm tạ Chúa vì con vẫn còn minh mẫn, làm việc và suy nghĩ, không cần có sự hiện diện của ai, không cần ai thăm hỏi. Con nhớ một lần đi thăm nhà hưu dưỡng, gặp một cụ ông, đã từng là Giám Đốc Ngân Hàng, nay ngồi xe lăn, cạnh chiếc bàn nhỏ, trên đó, có một tấm bìa và những con chữ A, B, C rời rạc. Cụ run rẩy sắp xếp từng chữ thành một câu ngắn ngủi nhưng đầy nuớc mắt: "Ông đến thăm, tôi cảm ơn lắm." Bên cạnh cụ, có một nhóm khoảng năm, sáu vị cũng ngồi xe lăn, cả cụ ông lẫn cụ bà, và cũng có cả một bà mới trên sáu mươi, ngồi yên lặng nhìn chúng con nói chuyện và chia xẻ với các cụ. Tuy các cụ không nói nhiều, và có thể cũng không nói được, trong ánh mắt của các cụ, là những lời cám ơn một ngày, một giờ có người đến thăm. Chắc trong tâm tưởng các cụ đầy ắp những kỷ niệm của những ngày tung tăng, chạy nhẩy, đi thăm người yêu, đến nhà thằng bạn, con bạn, hoặc nếu có cụ nào từng "quậy" như con, lại nhớ đến ngày leo rào tường học, nhẩy ra ngoài, trốn một lớp có ông Thầy dậy Anh Văn hay "phe" với học trò gái, hoặc một ông Thầy Toán khó tính..
Con cũng cảm tạ Chúa vì cho đến hôm nay, con vẫn còn đi thăm người ta mà không cần ai thăm mình. Trong những căn nhà gọi là Hưu Dưỡng đó, con thấy không ít thanh niên nam, nữ, đã nằm đấy nhiều năm rồi. Có người nằm từ tuổi thanh niên, bây giờ đã râu ria đầy miệng. Có cô thiếu nữ kia, rất xinh đẹp, nhưng chỉ biết mở mắt nhìn lên trần từ mươi mười năm rồi. Họ đã có một thời bay bướm, hoa lá, chỉ biết yêu và mơ, nhưng một giây phút định mệnh cay nghiệt đã đến, hất họ tung lên không, rơi xuống, trong xe hơi của họ, hay ngoài đường phố, đầu đập vào sắt, vào xi măng, và thế là hết... Chấm dút hoa mộng. Chấm dứt yêu thương, chỉ còn một nỗi mong Thần Chết đến rước đi...
Con cũng cảm tạ Chúa, vì con còn gia đình, còn những người con chung quanh, cho dù chúng có ở xa, nhưng vẫn liên lạc gần gũi, không như ông kia, khoảng trên sáu mươi, ngồi xe lăn, vừa thấy con đến, lập tức lên tiếng:
-Ông chở tôi ra bến xe Cần Thơ đi!
Con đến, đẩy xe ông đi vòng chung quanh. Ông cứ thúc giục:
-Nhanh lên! Nhanh lên! Con tôi nó bảo chờ tôi ở bến xe Cần Thơ đó!
Khi tôi ra tới gần cửa chính, ông vui mừng chỉ tay vào cánh cửa kính:
-Đó, bến xe Cần Thơ đó! Con tôi nói nó chờ tôi ở đây!
Rồi ông yên lặng. Một lúc sau, ông cúi đầu:
-Thôi, ông chở tôi về. Nó lại bận rồi!
Lạy Chúa! Nước mắt con chẩy ra dàn dụa. Con ông đã không đến từ nhiều năm nay rồi. Nó đã bỏ ông vào cái nhà già này như vất một túi rác, rồi đi mất, biệt tăm biệt tích. Giờ này, nó đang vui cười bên vợ con nó, bên ly ruợu, ly cà phê, hoặc đang trong đám bạc, say sưa với tiền, mà quên rằng có một người cha đã từng nâng niu nó, bồng ẵm trên tay, hôn hít nó cũng rất say sưa...Người cha ấy đã đưa nó đi học những con chữ đầu đời, đã chở nó trên xe đạp, đã cầm tay nó để tập viết những con số, đã tạo cho nó một tương lai, để ngày hôm nay, nó dùng những con số ấy mà tính toán tiền nong với vợ, con, bạn, và casinô...

Vì thế, so với ông, con thật là kẻ hạnh phúc. Con cảm tạ Chúa vì không cần(hay chưa cần) phải nhờ ai đẩy xe lăn đi kiếm bến xe Sàigòn...
Nếu con muốn, con có thể mua vé máy bay trở về thăm lại những con đường quê hương thân yêu, con có thể hít thở hương ngọc lan, dạ lý hương, hay tô canh hoa Thiên Lý, canh hoa mướp, những món ăn mà con yêu thích ngày xưa. Con không cần phải nhờ ai đẩy xe mới tới được những nơi đó. Bây giờ, thì con chưa về, vì con không thích phải nhìn thấy những bin-đinh cao ngất, đầy mầu sắc, những sân gôn xanh mướt tận chân trời, những chiếc xe bóng lộn chạy vòng vèo bên cạnh những mẹ già, ngồi dúm dó bên nải chuối đã khô, bên ly chè nguội lạnh. Cũng bên cạnh đó, các em bé đánh giầy, bán vé xố, quên mất rằng mình có tuổi thơ. Xa hơn một chút, rẽ vào trong ngõ, thấy mấy em gái, khuôn mặt thơ ngây, đứng lấp ló bán hàng với bàn tay trơ. Trên tay các em không có hàng, vì hàng hóa mà các em muốn bán là chính thân thể khô cằn của em.
Lạy Chúa,
Khi nghĩ về những sự đau khổ, bất công đó, con hiểu rằng, có những điều xẩy ra trên trái đất này, mà con người không thể hiểu được. Con nhớ có một câu chuyện, đọc được đâu đó, có thể từ tòa giảng nhà thờ, về một vị Thánh kia cứ mãi suy tư về số phận con người chìm nổi trong ý định của Thiên Chúa. Ngày nào ông cũng tản bộ gần bãi biển, ngắm sóng vỗ, nhìn chim trời, và suy nghĩ tại sao lại có những mảnh đời khốn khổ, tại sao lại có những cuộc đời cực sang, cực quý, tại sao lại có sự cách biệt cùng cực giữa con người với con người. Sao có Sống" Sao có Chết" Một buổi kia, ông thấy một em bé, ngồi trên bãi cát, thận trọng dựng một ngôi nhà trên cát, làm đi làm lại, nhưng không thể nào hoàn tất được, vì cứ sau khi em làm gần xong, lại có một cơn sóng cuốn tới, làm trôi đi công trình của em. Vị Thánh tiến lại gần, hỏi em:
-Sao em cứ làm mãi một công việc vô ích thế" Sóng tới, sẽ làm công trình của em tan biến"
Em bé ngẩng đầu nhìn ông, nói:
-Suy nghĩ về việc Chúa làm cũng như thế mà thôi. Mãi mãi không bao giờ hiểu được đâu.
Nói xong, em bé biến mất.
Vị Thánh mới giật mình, tỉnh ngộ, và hiểu rằng, việc cai quản vũ trụ này có muôn vàn phức tạp, mà trí thức giới hạn của con người sẽ chỉ là sự giao thoa ngàn đời của cát và sóng, khi nghĩ về lý do tại sao Chúa lại làm thế này hay thế khác.
Vì thế, con vẫn cảm tạ Chúa với tất cả những gì Chúa cho con hôm nay, cũng như những gì Chúa "không" cho con hôm nay. "Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc". Cứ cho là đủ, thì mọi việc coi như đủ. Ngược lại với sự giới hạn của tri thức, lòng ham muốn của con người lại bao la như biển sâu, không bao giờ cạn. Cho nên, dù cho cuộc sống của con vẫn còn nhiều điều không thỏa mãn, dù cho chung quanh con còn dẫy đầy vấn nạn, những thiếu thốn, bất công, chán nản, mỏi mệt, thậm chí đôi khi còn tuyệt vọng nữa, nhưng con vẫn cám ơn Chúa, khi nghĩ lại suốt bao năm qua, con đã nhận biết bao ơn của Người, từ suy nghĩ, hiểu biết, thông cảm, chia xẻ, đến sức khỏe và năng lực. Không kể những ơn vật chất, các kỷ niệm vui tươi chất đầy trong kho ký ức đã là những dấu ấn mãi mãi khiến con phải tạ ơn Người. Nhất là ơn Yêu Đời và Yêu Người - dù người không yêu ta. Cho nên, khi kẻ mà chúng con gọi là kẻ "xấu", vì lý do nào đó, mà tấn công con với ác ý mỗi ngày, con vẫn không ghét họ, bởi họ cũng chỉ là những tạo vật và dụng cụ trong bàn tay Thiên Chúa. Chỉ vì "quan niệm" mà con người đặt ra, mới có "kẻ xấu" và "người tốt". Chỉ vì họ sinh trưởng trong môi trường như thế, học hành như thế, quen biết như thế,  nên họ mới có những cử chỉ, hành vi thiếu thân thiện như vậy. Với con, nếu có ánh sáng thì phải có bóng tối, có ban ngày thì phải có ban đêm. Bên cạnh con cờ đỏ, có quân cờ đen. Tất cả triệu, tỷ con người cũng chỉ là những con cờ trong ý niệm bao la của Thiên Chúa. Kẻ này đi lên, thì kẻ kia phải lùi xuống. Tiền bạc, nếu dồn vào tay nhóm người này, thì những người kia phải thiếu. Danh vọng, nếu người này chiếm, thì kẻ khác lại hư không.
Vì thế, con vẫn cảm tạ Chúa qua tất cả những gì con có và con không có.
Cảm tạ Chúa đã cho con nở những nụ cười. Cảm tạ Chúa đã làm cho con dàn dụa nước mắt; không chẩy nước mắt, con không thấy giá trị của nụ cười. Ngày hôm nay, con còn đi lại được, nhìn đời được, làm việc được, con vẫn vui sướng mà cất lời Tạ Ơn Chúa. Con chỉ muốn xin Chúa một điều đơn giản: cho mọi người biết "Thương Yêu" nhau, để bớt đi ân hận, khi ngày Tận Thế của từng cá nhân đến. Lúc mà người ta không còn di chuyển được, không còn cử động được, hơi thở ngưng, tim nghỉ vĩnh viễn, ngày "Tận Thế" của một cá nhân đã hiện diện.
Với con, nếu ngày ấy, thì coi như một cuộc đời đã hoàn tất, một con cờ đen hay đỏ đã bị bỏ ra ngoài cho con cờ khác tiến lên. Thế hệ sau sẽ đi tiếp những đoạn đường mà thế hệ trước dở dang, mãi mãi cho đến khi bàn cờ này được Thiên Chúa xếp lại và tất cả các con cờ đi vào một cõi đời đời: Cõi Tình Yêu Bất Tận.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.