Hôm nay,  

Bi Hài Kịch ‘dụng Gián’

17/07/201000:00:00(Xem: 8958)

Bi Hài Kịch ‘Dụng Gián’

Nguyễn Xuân Nghĩa

Tri và hành trong thế giới ảo...

Tuần qua, những ai mơ sáng tác truyện gián điệp quốc hẳn là thấy mình được mùa. Thời sự quốc tế bỗng dưng có đầy chuyện còn ly kỳ hơn truyện hư cấu, và có thể là chất liệu cho tiểu thuyết.
Sôi nổi nhất là việc Hoa Kỳ truy tố 12 người Nga về tội - xin đọc kỹ - 1) phục vụ một chính quyền khác mà không khai báo, và 2) rửa tiền. Chứ không phải tội làm gián điệp. Mười người bị bắt ra tòa, một người còn đào thoát tại Cyprus bên Địa trung hải sau khi đóng tiền thế chân, và một người thì sa lưới khá trễ, sau khi 10 người kia đã ra toà... Dù trát tòa thì gọi như vậy, mọi người đều đồng ý rằng các nghi can chính là điệp viên Nga: họ thú nhận như vậy trước toà.
Sau đó, 10 người nọ lập tức được trao trả qua Nga, để đổi lấy bốn người Nga đang bị Liên bang Nga cầm tù về tội làm gián điệp cho Hoa Kỳ và các nước Tây phương (nước Anh). Chuyện đổi chác này được tiến hành rất nhanh, và trong khi truyền thông báo chí cho nổ lớn câu chuyện, báo chí Nga lại ém vào trong, đăng tin sơ sài, ra cái điều "chuyện không có gì mà ầm ĩ".
Chuyện này thật ra đáng chú ý vì cùng lúc đó một điệp viên cao cấp của tình báo Nga đào thoát qua Mỹ từ năm 2000 bỗng... chuyển sang từ trần tại Florida vì chứng đau tim.
Đại tá Sergei Tretyakov của mật vụ SVR - hậu thân của KGB - dưới vỏ bọc nhân viên ngoại giao cao cấp của Nga tại Canada rồi New York đã liên lạc với tình báo Hoa Kỳ và cùng gia đình vợ con ở lại Mỹ sau khi cung cấp nhiều tin tức quý báu. Dưới hỗn danh "Đồng chí J", ông trở thành nhân vật ly kỳ của một cuốn sách bán chạy, cho tới khi bỗng dưng đau tim mà chết ngày 13 Tháng Sáu vừa qua. Khi còn phục vụ tại Canada ông đã tuyển mộ nhiều điệp viên làm việc cho Nga, nhưng nhắm vào Hoa Kỳ. Trong số 10 điệp viên Nga vừa sa lưới, có những người đã được tuyển mộ tại Canada...
Sự ngẫu nhiên của hai biến cố khiến trí tưởng tượng của chúng ta có quyền bay bổng.
Cùng thời điểm ấy lại có chuyện lạ khác.
Ngày 13 Tháng Bảy vửa qua, một chuyên gia vật lý Iran là Sharam Amiri bỗng xuất hiện tại Toà đại sứ Pakistan ở thủ đô Hoa Kỳ, trong văn phòng đại diện cho quyền lợi của Iran tại Mỹ, để xin.... hồi hương. Sau đó Amiri thong dong về nước, được Iran đón tiếp như một anh hùng và... biến mất!
Là người được coi là biết rõ về kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm của Iran, Shahram Amiri bỗng mất tích năm ngoái khi đang đi hành hương tại Saudi Arabia. Khi ấy, Tehran lập tức tố cáo tình báo Hoa Kỳ là đã bắt cóc ông ta. Tháng Sáu vừa rồi, một số hình ảnh của một người tự xưng là Amiri lại xuất hiện với lời cáo buộc là bị Mỹ bắt giữ và tra tấn. Một tháng sau, đương sự bước vào Sứ quán Pakistan tại Washington, rồi được tự do lên máy bay trở về. Trông dáng vẻ hồng hào mạnh khoẻ thì có lẽ đây không thể là một người đã bị giam giữ, và bị tra tấn!
Nhiều viên chức Mỹ tiết lộ là Amiri đã từng hợp tác với Hoa Kỳ từ trước. Một số nguồn tin còn cho rằng Amiri là điệp viên hai mang, nhị trùng, đã cung cấp thông tin sai lạc cho phía Hoa Kỳ về kế hoạch hạch tâm của Iran, khiến bản Lượng định Tình báo của Mỹ năm 2007 gây lúng túng không ít cho Chính quyền Bush vì kết luận rằng Iran không có khả năng chế tạo võ khí tàn sát. Sau này, bây giờ, người ta mới thấy rằng sự lượng định lạc quan ấy là sai.
Sharam Amiri làm việc cho ai, và thành bại ra sao trong thời gian qua, có lẽ các tác giả tiểu thuyết hư cấu sẽ kể lại cho chúng ta sau này. Chứ sự thật thế nào thì khó ai mà biết được!
Vùi sâu dưới một núi tin tức ly kỳ ấy là một chuyện khôi hài tại Anh. Tuần qua, một cựu nhân viên của tình báo đối ngoại Anh (MI6) vừa bị bắt vì muốn bán tin tức bí mật cho Hoà Lan! Chuyên viên điện tử Daniel Houghton này là một tay mơ và sống trong thế giới hoang tưởng của loại điệp viên màn bạc nên bị sa lưới dễ dàng, nhưng cũng nhờ sự cộng tác của tình báo Hoà Lan với nhà chức trách Anh quốc.
Từ chuyện trái bom Iran đến điệp viên Nga hay phản gián Anh, ta thấy rằng vẫn có nhiều người hàng ngày đang sống trong một thế giới lấy hư làm thực, lấy thực làm hư... Vụ gián điệp Nga cũng khiến nhiều người kết luận là Chiến tranh lạnh chưa kết thúc và do đặc tính cộng sản, tình báo của Liên bang Nga tiếp tục coi Hoa Kỳ là một đối tượng.
Câu chuyện coi bộ còn rắc rối hơn vậy.
***
Trong thế giới cứ gọi là toàn cầu hóa ngày nay, chuyện gì xảy ra ở mặt bên kia của trái đất cũng có thể ảnh hưởng đến bên này.
Sản lượng ngũ cốc của Trung Quốc hay cà phê của Brazil là điều mà nông gia hay doanh nghiệp thực phẩm Mỹ - và nhiều xứ khác - đều phải biết vì ảnh hưởng đến giá cả và chuyện lời lãi của họ. Những phát minh mới trong kỹ nghệ điện toán cũng thế vì có thể thay đổi quy trình sản xuất và kinh doanh của thị trường. Người ta phải mất tiền để có những thông tin ấy, một cách hoàn toàn hợp pháp trong các nước tự do. Tại Trung Quốc mà truy tìm thông tin thị trường như vậy thì có khi vào tù vì tin tức ấy có thể được nhà nước xếp loại vào "bí mật quốc gia". Vụ kỹ sư người Mỹ gốc Hoa tên là Tiết Phong vừa lãnh án tù là một nhắc nhở!
Ở một cấp khác, quốc gia nào cũng muốn biết và cần biết xem xứ khác nghĩ gì, muốn làm gì và có thể làm những gì. Càng có liên hệ về kinh tế hay an ninh - cạnh tranh hay đối tác, đồng minh hay đối thủ - thì càng phải biết. Cao điệu hơn thế vì công phu và tốn kém hơn, một quốc gia cũng còn phải biết những điều mà lãnh đạo của xứ kia không biết, hầu có thể đoán trước phản ứng và chuẩn bị.
Chuyện ấy đã có từ ngàn xưa - quy luật "biết người biết ta", v.v... - và ngày nay lại càng rộng mở đa diện hơn vì các quốc gia liên hệ với nhau nhiều hơn. Nghĩa là trong thế giới toàn cầu hóa, thông tin đã trở thành một nhu cầu thường trực. Nhưng là loại thông tin có lợi, khả tín đáng tin, và cập nhật chứ không là loại tin ôi, quá trễ và vô dụng.
Yếu tố có lợi, hữu dụng hay không, dẫn ta từ chuyện "tri" đến chuyện "hành". Biết để làm gì" Biết mà không làm là cái biết của học giả, nhà nghiên cứu. Biết để mà làm là cái biết của người lãnh đạo, doanh nghiệp hay chính quyền. Trong cái gọi là "làm" ấy còn có một loại hành động tinh vi hơn, là làm cho người khác, xứ khác, hành động thế nào để đem lại lợi ích cho mình. Nghĩa là chi phối cả cái "tri" và "hành" của người khác.
Cứ như vậy mà chúng ta tiến từ thông tin thị trường, tin tức trên internet, tới loại thông tin tình báo và hoạt động gián điệp.
Chuyện ấy tất nhiên phải có giữa các quốc gia đang đối đầu với nhau, như trong thời Chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông Tây, cộng sản và tự do, như đã có trong thời chiến tranh nóng giữa các nước Đồng minh và phe Trục, Đức, Nhật, Ý. Ngày nay, dù Chiến tranh lạnh đã tàn lụi từ hai chục năm trước, chuyện ấy vẫn càng phải có.


Các cường quốc có phương tiện và nhiều liên hệ nhất trong một thế giới liên lập toàn cầu là những nước có nhiều nhu cầu thông tin nhất vì phải hành động nhiều nhất. Thí dụ dễ hiểu là Chính quyền Hoa Kỳ cần đoán biết về kết quả bầu cử tại Anh, hay Ba Lan, hay Bỉ, Hoà Lan - là các nước đồng minh - để trù tính lập trường của phe đắc cử trong các vấn đề liên hệ đến quyền lợi Hoa Kỳ, như lập trường của nội các mới của Anh về vấn đề A Phú Hãn, của Ba Lan về Liên bang Nga, của Bỉ và Hoà Lan về Liên hiệp Âu Châu.
Các nước khác cũng thế, họ cần biết về chính trường và lãnh đạo Mỹ vì bị Hoa Kỳ chi phối qua nhiều quyết định của chính quyền mới.
Vì vậy, không nên ngạc nhiên là Liên bang Nga muốn biết về nước Mỹ và còn có tham vọng dùng sự hiểu biết ấy để chi phối các quyết định của lãnh đạo Hoa Kỳ. Trung Quôc cũng đã và đang tiến hành việc ấy. Chúng ta chỉ biết khi họ thất bại và mạng lưới "tri-hành" bị Mỹ xé rách.
Khi nhìn vào toàn cảnh như vậy, ta cần rút kết luận đầu tiên là trong thế giới đó, các cơ quan hữu trách ít khi nào công bố kết quả. Họ thắng thì vẫn giữ im lặng để còn tương kế tựu kế mà ảnh hưởng tiếp đến cái biết của đối phương. Chỉ khi nào họ bại thì ta mới biết! Kết luận ấy dẫn ta tới một nghịch lý: khi nhà chức trách Hoa Kỳ đưa điệp viên Nga ra toà, đồng ý trục xuất để đổi lấy tự do cho bốn người đang bị tù tại Nga, họ nhắm vào chuyện khác, chứ không để khoe thành tích. Chuyện ấy là gì, vài chục năm nữa nay ra ta mới có thể biết.
Trong hiện tại thì chỉ có thể đoán mà thôi.
***
Thì hãy đoán.
Ngay từ sau Cách mạng Tháng 10, năm 1917, Liên bang Xô viết đã có kế hoạch tinh vi về tình báo nhắm vào quốc gia tư bản số một là Hoa Kỳ. Kế hoạch được tiến hành công phu trong nhiều thập niên không chỉ để ăn cắp tin tức tuyệt mật của Mỹ - là sở trường của họ mà một thí dụ là bí mật về nguyên tử.
Liên Xô thừa kiên nhẫn để nhắm cao hơn: cấy người nằm sâu trong hệ thống lãnh đạo Hoa Kỳ. Thành phần này là những người có kiến thức, khả năng và uy tín, đặc biệt không bao giờ bày tỏ lập trường thân cộng, và không sinh hoạt trong các nhóm thiên tả, cực tả hay đảng viên Cộng sản Mỹ. Họ thuộc loại "phái khiển" và chìm rất sâu để lên rất cao trong hệ thống chính trị Mỹ.
Liên Xô thành công mỹ mãn khi nhiều viên chức cao cấp trong các Chính quyền Franklin Roosevelt và Harry Truman là điệp viên KGB và có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong Đệ nhị Thế chiến và sau này. Mãi đến năm 1996, hồ sơ tuyệt mật của Quân báo Mỹ, có bí danh là Venona, mới được công bố khiến thiên hạ chưng hửng. Nhưng, cho đến nay, nhiều thành phần thiên tả, cực tả và thậm chí thân cộng tiếp tục ém nhẹm, phủ nhận hoặc xuyên tạc hồ sơ này.
Tiến trình dụng gián ấy đòi hỏi một thời gian rất dài - vài chục năm - mới đem lại kết quả. Chỉ vì phải điều nghiên để tìm ra "chuẩn ứng viên", những người có thể tuyển mộ. Thử nghiệm và tuyển mộ rồi thì còn phải huấn luyện và cài họ vào loại cơ quan có ích. Cài xong rồi thì phải tiếp tục quản lý và nhất là giúp họ thăng quan tiến chức tới cấp bậc có thể khai thác sau này.
Những tin tức về 12 điệp viên tương đối trẻ - từ 22 đến 30 tuổi - vừa sa lưới cho phép ta suy đoán rằng họ mới chỉ là thành phần được Nga trao phó nhiệm vụ điều nghiên các đối tượng có tiềm năng, để sau này (ai đó) sẽ tuyển mộ. Điều ấy mới giải thích vì sao họ có những hớ hênh kỳ lạ. Đây chưa phải là bộ phận cốt lõi và nếu có thả thì Mỹ cũng chẳng mất gì nhiều, sau khi đã gặt hái được nhiều chuyện khác mà không nói ra.
Nhìn lại thì Hoa Kỳ có nhiều phương tiện - tài chánh và kỹ thuật - để cũng tri và hành trong hệ thống chính trị Nga - hay bất cứ cường quốc nào khác. Nhưng, văn hoá và chính trị Mỹ thiểu hẳn một yếu tố là sự kiên nhẫn.
Ít người Mỹ nào - và gia đình họ - lại có thể nhận lãnh sứ mạng mút chỉ đến vài chục năm để xâm nhập và thăng quan tiến chức trong một xã hội khác. Nhất là các xã hội nghèo nàn bức bí của các quốc gia có thể đe dọa quyền lợi Hoa Kỳ, như Nga, Tầu, hay các nước Hồi giáo quá khích. Vì vậy, của đi thay người, Hoa Kỳ thiên về giải pháp siêu kỹ thuật, là sở trường của cơ quan NSA chuyên về tình báo điện tử, cho phần thông tin, phần "tri". Phần "hành" thì dùng tiền bạc để mua chuộc, hoặc cả lý luận về ý thức hệ, như lý tưởng tự do, dân chủ.
Vốn dĩ thiếu kiên nhẫn, lại ưa thay đổi chủ trương sau mỗi kỳ bầu cử, hy vọng thành công của Mỹ thường rất thấp. Hoa Kỳ rất dễ hy sinh những người của mình, hoặc biến họ thành chống Mỹ và có khi dùng điệp viên nhị trùng rồi bị dẫn vào quyết định lầm lạc. Một thí dụ là nhân vật Ahmed Chalabi người Iraq được Mỹ tin dùng rất lâu vì có vẻ am hiều tình hình Iraq và chế độ Saddam Hussein. Nhưng không ngờ là Chalabi lại hoạt động cho Iran và có thể đã dẫn Chính quyền Bush vào lầm lạc khi quyết định tấn công Iraq để tiêu diệt võ khí tàn sát WMD không hề có, rốt cuộc Hoa Kỳ lại làm cỗ Iraq cho lãnh đạo Tehran hưởng.
Và ngày nay đang phải thương thuyết với Chính quyền Tehran. Việc Mỹ khai thác và phóng thích nhà khoa học Shahram Amiri của Iran nằm trong chiều hướng đó.
Nhìn vậy thì chế độ dân chủ và quyền tự do thông tin của Mỹ có một ưu điểm hiển nhiên về mặt "tri" vì nâng cao mở rộng sự thông hiểu của cả xã hội. Các xã hội độc tài và đối nghịch thì có lợi thế khai thác sự cởi mở của xã hội Mỹ để đạt kết quả cao hơn về mặt "hành" khi tác động vào nước Mỹ. Một thí dụ khét lẹt chính là vụ khủng bố 9-11 của al-Qaeda, mối nhục cho tình báo Hoa Kỳ và nguồn cổ võ cho các lực lượng khủng bố và các thế lực ghét Mỹ.
Cho nên, chuyện đấu tranh thường trực đó còn kéo dài, và là mỏ vàng cho các tác giả muốn mua vui cũng được một vài trống canh.
Nhưng, nếu suy đến cùng thì dù có cài điệp viên vào cấp cao nhất của xứ khác, người ta có thể làm được những gì" Một chuỗi ảo giác mà tình báo không làm cho trong quang đãng minh bạch hơn, có khi còn gây thêm nhiễu xạ rối mù!
Qua tin tức thu thập được từ bộ Chính trị của đảng Cộng sản Liên Xô, tình báo Mỹ có thể biết là kinh tế xã hội Liên Xô đã rệu rã. Nhưng điều ấy có ích gì nếu không tiên đoán ra sự sụp đổ mà chính Chủ tịch Mikhail Gorbachev cũng không ngờ" Và dù có dày công cấy trồng điệp viên ở mọi nơi và kiểm soát được cả nước, tình báo và mật vụ Xô viết cũng chẳng biết được cái ngày chế độ của họ sụp đổ vào cuối năm 1991!
Năm mươi năm trước ngày đó, khi Hoa Kỳ phong tỏa kinh tế Nhật Bản thì khỏi cần tình báo ta cũng đoán rằng Nhật sẽ phải phản công. Tình báo Hoa Kỳ không biết trước được cách phản công là trận Trân Châu Cảng năm 1941 nên cũng chẳng biết là trong hàng tướng lãnh Nhật, nhiều người không muốn Nhật Hoàng trực tiếp khai chiến với Mỹ vì đoán trước kết quả thảm khốc cho Nhật. Như vậy thì dù biết khá nhiều, trong cả hai phe có ai ngăn được những biến cố long trời lở đất ấy không"
Khi các điệp viên và cả đối tượng họ đang khai thác trong hàng ngũ bên kia còn không biết sự thật thì ngần ấy ngón thực hư cũng đều là chuyện ảo! Chỉ thương những người phải sống - và chết - trong thế giới ảo đó.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.