Hôm nay,  

Vấn Đề Trung Quốc Của Úc

23/05/200900:00:00(Xem: 11614)

Vấn Đề Trung Quốc Của Úc
Nguyễn Xuân Nghĩa

Đóng Tầu Ngầm Ra Khỏi Pháo Đài...
Mùng hai tháng Năm vừa rồi, bộ Quốc Phòng Úc Đại Lợi công bố một Bạch thư về quốc phòng cho các thập niên tới ("Defending Australia in the Asia-Pacific Century: Force 2030). Văn kiện này được Chính quyền của Thủ tướng Kevin Rudd trang trọng giới thiệu với các chính quyền khác và lập tức được sự hưởng ứng của Jakarta, nhưng bị Bắc Kinh đả kích - là mở ra một cuộc thi đua võ trang.
Thiên triều bị chạm nọc!
Các quốc gia văn minh như Úc vẫn thường công bố viễn ảnh và chiến lược quốc phòng của mình trong các tập "bạch thư". Những lần trước là vào các năm 1987, 1994 và sau cùng là năm 2000, dưới Chính quyền bảo thủ của Thủ tướng John Howard. Sau khi đắc cử năm 2007, Chính quyền thiên tả Kevin Rudd đã muốn xét lại chiến lược quốc phòng nên chỉ thị cho bộ Quốc phòng nghiên cứu lại và soạn ra một bạch thư khác trước năm 2009. Văn kiện này bị trễ mất bốn tháng vì... lực bất tòng tâm: khủng hoảng kinh tế đã đảo lộn các ưu tiên về chiến lược và ngân sách.
Nhưng cuối cùng Bạch thư Force 2030 vẫn kịp xuất hiện và... trở lại chuyện cũ. Hoặc đúng hơn, hướng vào chuyện mới, là vấn đề Trung Quốc.
Cũ và Mới khác nhau thế nào, ta cần nhìn lại (độc giả có thể vào website của bộ Quốc phòng Úc để tham khảo tài liệu 143 trang này - và xin nhớ rằng bộ Quốc phòng viết theo Anh ngữ của Anh, không phải của Mỹ, là defence).
***
ÚC ĐẠI LỢI VÀ HOA KỲ
Cách đây 18 tháng, mùng năm tháng Chín năm 2007, Thủ tướng John Howard ký kết Hiệp định Hợp tác Thương mại và Quốc phòng với Tổng thống George W. Bush.
Hiệp định Mỹ-Úc được ký kết bên lề Thượng đỉnh APEC năm đó tại Sydney và tái khẳng định mối quan hệ chiến lược giữa hai quốc gia: Úc là đồng minh của Mỹ tại Á Châu y như Anh là đồng minh của Mỹ tại Âu Châu. Nghĩa là không thể nào gắn bó hơn, còn nặng hơn Nhật Bản, vốn thuộc một nền văn hoá khác. Sau đấy, Chính quyền Howard thất cử - một phần cũng vì quá gắn bó với Chính quyền Bush và tai họa Iraq - và phe đối lập thắng cử, ông Kevin Rudd lên làm Thủ tướng. Ông Rudd muốn rà soát lại chiến lược quốc phòng Úc nên mới chỉ thị việc nghiên cứu và công bố một bạch thư mới thay thế những gì ông cho là lỗi thời từ Bạch thư 200 của chính quyền tiền nhiệm.
Là người thông thạo Hoa ngữ, ông Rudd muốn gia tăng quan hệ với Trung Quốc tại Châu Á. Trong Thượng đỉnh G-20 tháng 11 năm ngoái ở Washington DC, khi Úc Đại Lợi là đồng chủ tịch ủy ban cải cách Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, ông kêu gọi IMF phải mở rộng cửa đón nhận Trung Quốc và các nước tân hưng khác. So sánh với chính quyền Howard, chính quyền Rudd có quan điểm thân thiện và ôn hoà hơn với Trung Quốc  - và độc lập hơn với Hoa Kỳ.
Khác biệt về quan điểm ấy có được phản ảnh qua hai cuốn Bạch thư về Quốc phòng Úc của các năm 2000 và 2009.
Một cách sơ lược thì chính quyền bảo thủ Úc tự coi là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và cùng Mỹ đảm bảo trật tự an ninh của Á châu Thái bình dương (tạm gọi là Thái-Á) trong khi hoàn toàn trông cậy vào Mỹ cho việc bảo vệ an ninh chiến lược của Úc. Nôm na thì quân lực Úc ("Lực lượng Phòng vệ Úc Đại Lợi" - ADF) sẽ cấp tốc có mặt trên các chiến trường nóng của khu vực Thái Á trong khi chờ đợi viện binh Hoa Kỳ tới giải quyết vấn đề trên một quy mô lớn hơn. Lớn nhất là việc phòng thủ cho Úc Đại Lợi khi có xung đột cấp quốc gia với võ khí chiến lược.
Chính quyền hiện hành thì có đổi khác - và sự khác biệt này được giới quan sát đưa lên hàng đầu - đó là Úc không thể hoàn toàn trông cậy vào Hoa Kỳ vì nước Mỹ bị bận chân hoặc có thể có ưu tiên khác. Thủ tướng Kevin Rudd đánh giá không sai chính quyền Barack Obama và số phận của các đồng minh cứ tưởng là chiến lược của Mỹ.
Vì vậy, dưới cái nhìn hiện đại của Úc - ít ra là từ nay đến năm 2030 - nước Úc phải tự lo lấy thân và trong ý nghĩa đó, cuốn Bạch thư là tiếng chuông cảnh tỉnh chính quyền Obamê. Ông Obama còn đang bận làm cách mạng xã hội nên chưa thấy có phản ứng vì về sự thay đổi này.
Nhưng, nếu nhìn xa hơn vấn đề Mỹ-Úc, Bạch thư Force 2030 lại có nhiều chỉ dấu còn đáng quan tâm hơn khiến Bắc Kinh mới giẫy nẩy. Chúng ta nên tìm hiểu về những chỉ dấu đó...
***
PHÁO ĐÀI ÚC ĐẠI LỢI
Nước Úc thật ra là một đại châu lục ("Úc Châu") ở miền Nam biển Thái bình, có diện tích vĩ đại là 7,7 triệu cây số vuông (so với khoảng 9,6 của Trung Quốc và Hoa Kỳ) mà chỉ có dân số thưa thớt là 22 triệu! Đa số dân cư lại tập trung ở các tiểu bang miền Đông, Đông Nam và Tây Nam. Với sản lượng kinh tế đứng hàng thứ 14 của thế giới, Úc là một quốc gia... "khiếm khai", chưa phát triển hết tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên rất dồi dào của mình.
Mà đa số diện tích bạt ngàn ở miền Bắc lại là vùng đất không người.
Đóng bè qua biển Bắc ấy đi vài trăm hải lý là Úc gặp một vựa người đông đảo, 240 triệu dân của Nam Dương quần đảo, tuyệt đại đa số theo Hồi giáo. Xứ Nam Dương là một quần đảo có chừng 17.000 đảo lớn nhỏ trải ngang đường thông thương của Úc với biển Thái bình và qua Ấn Độ dương. Nam Dương mà có loạn, các tộc trưởng hoặc lãnh chúa mà làm chủ một số đảo để đòi tiền mãi lộ, hoặc thuyền nhân mà đóng bè tỵ nạn là Úc sẽ lãnh họa.
Vì địa dư hình thể ấy, các chính quyền tả hữu của Úc đều cùng theo đuổi một chiến lược phòng thủ có cái dạng của những hình tròn đồng quy. Nằm trong cốt lõi sau cùng, và ưu tiên nhất, là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, như một thành lũy bất khả xâm phạm. Một pháo đài giữa biển.
Ở vòng hai là góp phần - hay tự thân - bảo vệ sự ổn định của toàn khu vực Nam Thái bình dương, từ đảo quốc Fiji tới Đông Timor đến cả Nam Dương quần đảo.


Khi Trung Quốc thời Mao muốn bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống Nam Dương thời Sukarno và bị vụ phản đảo chánh năm 1965 khiến nửa triệu người thiệt mạng, Canberra ngồi trên tuyến đầu như ngồi trên lửa. Khi chế độ Suharto bị đổ vì vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998, Úc cũng trực tiếp tham gia vào việc ổn định Đông Timor. Đấy là vùng trái độn sinh tử cho an ninh của Úc.
Ở vòng thứ ba bên ngoài, Úc muốn góp phần phát triển khu vực Đông Nam Á, gia tăng hợp tác với Hiệp hội 10 quốc gia Đông Nam Á và ổn định luồng giao lưu hàng hải ngoài Đông hải của Việt Nam, là cửa ngỏ thông thương với Âu Châu và Đông Bắc Á. Hơn hai chục năm trước, khi Hà Nội cho Liên bang Xô viết vào tới Cam Ranh Đà Nẵng, oanh tác cơ chiến lược của Liên Xô đã có thể uy hiếp miền Bắc Úc Đại Lợi, và đấy là chuyện đáng cho Úc quan tâm.
Ngoài cùng, ở vòng "toàn cầu" của thiên hạ sự, Úc cũng muốn đóng góp vai trò cứu trợ, viện trợ hay ổn định của mình, từ A Phú Hãn tới Pakistan hay cả Trung Đông. Cứ theo từng vòng đồng quy ấy, ta có thể hiểu ra từng cấp ưu tiên trong hệ thống phòng thủ quân sự của Úc: ngần ấy vòng đều phải xoay tròn từ pháo đài Úc qua Thái bình dương ra tới bên ngoài.
Nhưng bây giờ, ở vòng ngoài, Liên Xô mới chỉ mon men trở lại Đông Bắc Á (xin xem bài "VẤN ĐỀ TRUNG QUỐC CỦA NGA" trên cột báo này trong số ra tuần trước), còn Đông Nam Á lại trở thành "ao nhà" của Trung Quốc, thì tất nhiên Canberra không yên tâm.
Mà càng không yên tâm khi Hoa Kỳ vẫn cứ như muốn nhìn qua nơi khác...
Vì vậy, một phần chính trong tập Bạch thư mới có nội dung nhắc nhở và cảnh báo Washington về vai trò của Hoa Kỳ, như một siêu cường có khả năng và trách nhiệm ổn định khu vực Thái - Á cho cả thế giới. Nhưng, Úc sẽ không thiết kế chiến lược quốc phòng của mình trong những năm tới trên một lời cảnh báo hay một sự trông đợi vào Hoa Kỳ. Canberra muốn tích cực giải quyết lấy bài toán của mình thay vì chỉ mong chờ "kỵ binh Mỹ" - hay Đệ thất Hạm đội.
Chúng ta không quên rằng Hoa Kỳ và Úc cùng Tân Tây Lan vẫn còn thoả ước phòng thủ ANZUS, theo đó một xứ bị tấn công là hai nước kia đều có nhiệm vụ liên đới. Dù Tân Tây Lan ngả theo chủ trương "phi nguyên tử" và gây khủng hoảng cho thỏa ước, Hoa Kỳ và Úc vẫn tiếp tục duy trì quan hệ phòng thủ chiến lược ấy. Nhưng, Canberra vẫn chuẩn bị tự vệ trước khi trông cậy vào Mỹ.
Lý do được nhìn ra từ Bạch thư Force 2030 này là trong khi Hoa Kỳ lúng túng việc nhà thì Trung Quốc đã bước ra tới ngoài ngõ - của Úc Đại Lợi. Vì vậy, Úc cũng phải ra khỏi pháo đài làm Bắc Kinh thất kinh la hoảng.
Chỉ vì dù có mơ mộng như nhiều lãnh tụ cánh tả, Thủ tướng Kevin Rudd của Úc cũng hiểu thành ngữ Trung Hoa. Cư an mà không tư nguy thì sẽ thành cư nguy tư an!
***
CƯ AN TƯ NGUY
Trên bình diện ngoại giao, lập trường của Canberra là không gây hấn mà còn muốn góp phần chuyển hóa Trung Quốc thành cường quốc có trách nhiệm với thiên hạ sự, với các vấn đề lớn của nhân loại. Và hành xử một cách văn minh. Nhưng, Úc không mấy yên tâm về sự thiếu minh bạch của Bắc Kinh. Bạch thư Force 2030 nói thẳng ra một sự thật là "Trung Quốc đang xây dựng lực lượng võ trang quá thừa cho một vụ xung đột với Đài Loan". Chỉ duy Quân lực Hoa Kỳ, Đô đốc Michael Mullen nói thêm cho rõ: "Trung Quốc thực ra muốn nhắm vào Mỹ".
Bắc Kinh chưa thể và có lẽ không bao giờ có khả năng gây chiến với Hoa Kỳ, nhưng - dù có Mỹ hay không - sức nặng quân sự và nhất là hải quân Trung Quốc là một vấn đề cho Úc Đại Lợi. Thành thử, dù nói chuyện hiếu hoà và còn có thiện chí chuyển hoá Trung Quốc, Canberra vẫn phải thực tế nhìn vào việc phòng vệ của mình.
Nếu chịu khó tìm hiểu Bạch thư Force 2030 vừa công bố, ta có thể thấy ra hai hướng phát triển rất mới của quân lực Úc.
Thứ nhất là tăng cường khả năng không quân để mở rộng tầm hoạt động vượt quá Nam Dương quần đảo, như sẽ thay thế các chiến đấu cư loại F-111 đã lỗi thời và đầu tư thêm vào phi cơ thám báo và các vận tải cơ phụ trách tiếp liệu trên không. Úc bay ra khỏi pháo đài là trong ý nghĩa đó.
Thứ hai, quan trọng nhất, là tăng cường hải quân với mức độ chưa từng thấy. Úc sẽ nhân đôi số tiềm thủy đĩnh của mình và trang bị thêm nhiều chiến hạm lẫn hoả tiễn có thể bắn lên từ ngoài - hoặc dưới - biển (hỏa tiễn thiết trí trên chiến hạm và tầu ngầm).
Canberra không muốn một cường quốc khu vực nào có thể khống chế đại dương - ở ngoài cửa ngõ thông thương của mình - và coi như sẽ phải tự lo lấy thân chứ không còn trông cậy vào Hạm đội Thái bình dương của Mỹ nữa.
Và chính là việc đầu tư rất mạnh vào hải quân mới khiến Bắc Kinh la làng!
***
Tổng kết lại, Chính quyền John Howard của Úc có thể đã phải trả một cái giá rất đắt khi sát cánh với Mỹ về mặt chiến lược và bị mắc nạn vì chuyện Iraq, nên Chính quyền Kevin Rudd đã điều chỉnh tại tầm nhìn của mình. Cứ coi như Hoa Kỳ mắc bận đi, Úc vẫn phải lo lấy vấn đề Trung Quốc của Úc.
Úc Đại Lợi là một hải đảo nằm sâu ở vùng cực Nam của Thái bình dương, có lịch sử và quá khứ xuất phát từ Âu Châu. Nhưng kinh tế và tương lai lại gắn bó với châu Á. Vì tương lai và cả sự tồn vong của mình, Úc phải đảm nhiệm vai trò cường quốc Á Châu. Cùng với Nhật Bản tại Đông Bắc Á, Úc sẽ phải góp phần ổn định Đông Nam Á. Vì mục tiêu khách quan ấy, Canberra không thể ngồi yên nhìn hải đội Trung Quốc khống chế biển Đông nên nói thẳng ra mục tiêu bành trướng sức mạnh quốc phòng của mình.
Không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Úc đã long trọng công bố Bạch thư trên một chiến hạm!
Nhìn về dài, Hoa Kỳ tất nhiên không thể tháo chạy khỏi Thái bình dương nhưng trước khi tầu ngầm Trung Quốc có thể chơi trò du kích với Hạm đội Mỹ thì đã gặp tiềm thủy đĩnh của Úc. Mà về kinh nghiệm hàng hải, Bắc Kinh sẽ còn phải học khá lâu thì mới nói chuyện phải quấy được với "Miệt Dưới".

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.