Hôm nay,  

Cali Đang Mưa …

23/12/200800:00:00(Xem: 10515)

CALI ĐANG MƯA …

Hạnh Chi
Hai ngày nay, Cali đang mưa …
Từ lâu, Cali không mưa. Nhưng hai ngày nay Cali đang mưa.
Riêng hôm nay, không chỉ mưa mà còn gió. Gió lớn. Và rất lạnh. Tuy mưa gió và lạnh lẽo, tôi vẫn không đóng chặt khung kính ở cái cửa sổ duy nhất trong Độc-Cư-Am, mà vẫn hé ranh giới cho gió lùa vào. Không biết tại sao tôi làm thế! Để lấy cớ trùm lên người chiếc áo len mà tôi rất hiếm khi sờ tới" Hay để đãi mình một bình trà nóng, điều mà lâu nay tôi không đủ hứng thú để làm".
Cuối cùng thì cả hai sự việc đó đã hợp tác chặt chẽ với nhau trong ngày Cali đang mưa này. Nghĩa là, khoác chiếc áo len xù vào người xong, tôi ra bếp đặt ấm nước; Sau đó, như một người vô công rồi nghề, nhàn du nhất thế giới, tôi mang bộ ấm trà bằng đất nung ra, chậm rãi mở vòi nước nóng, xúc, rửa, lau khô, đặt lại vào khay. Bộ ấm trà này tôi vẫn để dành đãi những vị khách mà tâm thường an tịnh rỗng rang:
“Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế
Cùng tựa lan can ngắm núi mây” (*)
Những vị khách đến thăm không mang theo ồn ào thị phi nhân thế  mới thực sự thưởng thức hương trà. Tất nhiên, chỉ chủ Am biết điều này mà thôi. Cũng may!
Nhón một nhúm trà ngon, bỏ vào bình, chờ nước sôi, rót vào. Khay trà được tôi trịnh trọng đặt trên bàn viết, ngay trước cửa sổ. Xong, tôi khoanh tròn chân, ngồi trên ghế. Nhíu mày, ngắm nghía trước sau, bỗng bật cười. Sửa soạn thì như sắp dự thiền trà mà thế ngồi thì như đang … chạy lụt, chẳng phù hợp tí nào! Nhưng không sao, tôi muốn vừa uống trà vừa nhìn trời mưa nên tự cho phép mình ngồi thoải mái như thế.
Rót trà ra cái chung nhỏ xíu, nâng lên bằng cả hai tay, hít thở một hơi dài, lim dim đôi mắt, rồi chậm rãi, rất chậm rãi nhấp một ngụm nhỏ, tận hưởng vị ngọt ngào của hương thơm và hơi ấm.   
Ôi, hạnh phúc ngay trong tầm tay!
Nhưng tôi phải mở choàng mắt vì chợt nghe tiếng chim kêu chíp chíp trên bờ tường, trước khung cửa sổ. Dưới màn mưa đã nhẹ hạt, đôi chim sẻ đang nhẩy tới nhẩy lui, có lẽ cố tìm những hạt cơm còn sót hôm qua.   
Từ khi dọn về đây, tôi đã kết bạn với chim trời bằng cách mỗi sáng rải trên bờ tường một vốc cơm nguội. Mấy ngày đầu, chim bay ngang, dừng lại, nhưng hình như không con nào nếm thử. Có lẽ quà tặng bất ngờ và mới mẻ quá, khó tin được chăng" Nhưng tôi kiên nhẫn, cơm hôm trước khô cứng, tôi gạt xuống, hôm sau lại rải cơm mềm dẻo lên. Rồi cũng tới ngày chúng không phụ lòng tôi, đã rủ nhau về ăn ríu rít! Hôm đó, tôi mừng đến lặng người vì tôi biết chắc từ nay tôi đã có bạn.
 Nhưng hôm nay trời mưa và lạnh, tôi tưởng chúng phải tìm chỗ núp nên không rải cơm. Tội nghiệp quá!


Tôi buông chung trà, chụp mũ len lên đầu, tới tủ lạnh lấy miếng bánh mì xé nhỏ rồi mở cửa ra ngoài hiên. Thấy tôi, đôi chim cất cánh bay nhưng tôi vẫn rải bánh mì vụn lên bờ tường vì tôi biết chúng bay chỉ là phản ứng tự nhiên. Thế nào chúng cũng trở lại khi đã biết đến đây tìm thức ăn. Quả đúng thế. Khi tôi vào phòng, ngồi lại chỗ cũ thì thấy đôi chim cũng đang cắm cúi mổ bánh mì.
Chung trà đầu tiên đã nguội, nhưng uống vào, tôi vẫn thấy ấm vô cùng vì tôi biết ngoài kia trời tuy lạnh nhưng có đôi chim sẻ đang sung sướng với những vụn bánh mì.
Chỉ ở một không gian nhỏ hẹp, riêng tư, tôi đã tình cờ cho mình niềm hạnh phúc tràn đầy mà thật đơn sơ với bình trà nóng; rồi cũng ngay không gian đó, thời gian đó, cơ duyên giúp tôi chứng nghiệm, chỉ cần một chút quan tâm, thương mọi loài như thương ta là chúng ta có thể dễ dàng ban vui cho nhau. Một chút quan tâm thôi là tình thương sẽ tới, là niềm vui sẽ theo.
Ấy thế mà nhân gian dường như quá keo kiệt tình thương, trong khi lại vô cùng hào sảng những đố kỵ gian tham, mới đưa đến hận thù, hiềm khích, khiến con người được mô tả là những sinh vật cô đơn nhất trên thế gian này.   
Cũng vì con người có trí tuệ hơn nhiều loài mà trí tuệ này đã chiêm nghiệm rõ hơn về sự cô đơn rất vi tế thẳm sâu trong tàng thức. Ngay cả khi con người đang sống giữa gia đình, thân thuộc mà nếu tâm thức chẳng đồng thì tri thức sẵn tiềm ẩn cũng khiến ta nhận ra rằng ta đang là kẻ độc hành trong cõi mênh mông trời đất! Cảm nhận sự cô đơn này càng sâu sắc bao nhiêu thì nỗi ê chề của kẻ nhận ra càng bi thương bấy nhiêu!         
Con người đến với đời một mình, lìa đời cũng một mình.   
Giữa chặng đến và đi đó chúng ta đã vụng về để vuột khỏi tầm tay biết bao cơ duyên Cho và Nhận, để được có nhau, để dẫu ngày mai, thân đi một mình nhưng tâm không đơn lẻ.
Giữa chặng đến và đi đó chúng ta đã không đủ bao dung để tha thứ lỗi lầm, chuyển cay đắng thành ngọt ngào, trả oán hờn bằng ân nghĩa.
Giữa chặng đến và đi đó, chúng ta đã không đủ bình tâm pha một ấm trà mời nhau khi giông bão tới nên sân si mới đủ sức tàn phá tâm linh, hủy diệt bao ân tình tưởng không gì phôi phai nổi!
Cõi nhân gian như thế, nên sau bao cuộc nghiên cứu tỷ mỷ, ngành tâm lý học cận đại vừa đưa ra nhận xét rằng thiên đường của con người là bào thai mẹ!
Thật không còn nhận xét nào thảm thương hơn về kiếp nhân sinh!
Nhưng kiếp người có đến nỗi không gì đáng cho ta chui khỏi bào thai mẹ hay không"
Nếu cho con chim đói lạnh vài hạt cơm cũng mang đến người cho bao nhiêu ấm áp, thì người biết cho người tình thương, thiên đường phải  mênh mông lắm, chứ sao lại co cụm trong bào thai mẹ" Các nhà tâm lý học cận đại có bi quan quá không"
Cali đang mưa.
Vâng, Cali đang mưa.
Nhưng trong am thất nhỏ bé, tôi vừa pha bình trà nóng.
Mời bạn hãy ghé.
Mưa sẽ tạnh thôi. Nhưng hương trà còn mãi vì tôi đang mời bạn bằng tất cả tấm lòng.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, ngày mưa cuối năm 2008)
(*) Sư tổ Trúc Lâm Đại Đầu Đà     

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.