Hôm nay,  

Thương Phẩm Đảo Chiều?

07/08/200800:00:00(Xem: 7992)
...từ Hoa Kỳ tới Nhật Bản, Âu Châu và cả Trung Quốc, đều bị đe doạ suy trầm...

Sau khi lên tới kỷ lục là hơn 147 đô la một thùng ngày Thứ Sáu 11 tháng Bảy, dầu thô lại hạ giá mạnh trong hai tuần liền. Hôm Thứ Hai mùng bốn tháng Tám đã tụt dưới 120 đô la một thùng, tức là giảm 19% trong có 17 ngày kinh doanh. Đồng thời, giá thương phẩm cũng hạ nhiệt, bình quân giảm 10% nội trong tháng Bảy, là hiện tượng chưa từng thấy kể từ năm 1980. Liệu kinh tế toàn cầu có hy vọng thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng vì nguyên nhiên vật liệu tăng giá không" Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu vấn đề qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

Hỏi: Xin chào ông Nghĩa. Thứ Hai vừa qua, dầu thô trên thế giới đã sụt giá dưới 120 đồng một thùng sau khi lên tới đỉnh cao là 147 đồng vào ngày 11 tháng Bảy. Giá cả một số nguyên nhiên vật liệu và ngũ cốc như ngô bắp cũng có chiều hướng sút giảm đáng kể trong tháng Bảy khiến dư luận cho là cơn sốt giá cả thương phẩm có thể thuyên giảm. Chương trình chuyên đề kỳ này sẽ cùng tìm hiểu về sự thăng trầm giá cả đó, và nhất là ảnh hưởng của nó tới các nền kinh tế châu Á, trong đó có Việt Nam. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là vì sao mà giá thương phẩm lại tăng mạnh rồi giảm mạnh như vậy sau khi đã lên tới những đỉnh cao kỷ lục"

- Chúng ta có thể đang bước qua một giai đoạn điều chỉnh với những thăng giáng hay lên xuống thất thường vì vậy mà mình nên thận trọng theo dõi để khỏi bị lạc điệu và lỗ lã trong tính toán kinh tế của quốc gia và suy tính kinh doanh của xí nghiệp. Trong giai đoạn điều chỉnh ấy, thương phẩm có thể sụt giá mạnh và đô la tăng giá, tức là trái ngược với xu hướng người ta đã quen từ năm ngoái nên dễ bị lỗ lã bất ngờ.

Hỏi: Nguyên nhân vì sao mà trong có mấy tuần giá cả thương phẩm lại sụt mạnh như vậy"

- Về lý do vì sao thì tôi xin nhắc lại điều đã trình bày trước đây rồi ta mới tìm hiểu tiếp về nội dung, về thực chất của sự sụt giá.

- Thứ nhất, khi mức cung cầu quá căng thẳng vì số cầu quá lớn mà khả năng cung ứng lại vừa sát, thì bất cứ yếu tố thời sự hay tin tức nào có thể hạn chế số cung cũng làm giá tăng vọt. Khi thấy giá cả tăng vọt thì các thị trường bèn thủ thế trong giao dịch mua bán theo xu hướng tăng giá nên càng đẩy giá tới mức kỷ lục như ta thấy. Bây giờ, cơn sốt giá cả đã gây hiệu ứng tai hại là làm kinh tế thế giới có thể bị suy trầm, tức là sản xuất sút giảm, đi cùng nạn lạm phát là vật giá gia tăng. Hiệu ứng bất lợi đó đang làm giảm số cầu về thương phẩm.

- Trong hoàn cảnh đó, bất cứ tin tức hay biến cố nào có thể nâng số cung hoặc giảm số cầu đều khiến giá sụt mạnh, có khi còn mạnh hơn đà gia tăng vừa qua. Thí dụ là dầu thô tuột dưới giá 120 đồng một thùng sau khi dư luận thấy rằng trận cuồng phong Edouard tại Vịnh Mexico gần Hoa Kỳ lại không nổi thành bão lớn có thể quét ngang khu vực chế biến xăng dầu của Mỹ. Đó là một. Yếu tố thứ hai là vụ đối đầu về võ khí nguyên tử giữa Iran với Hoa Kỳ và Âu Châu không suy đồi thành khủng hoảng về an ninh, thậm chí xung đột trong vùng Vịnh Á Rập. Hai tin rất nhỏ ấy lại có tác dụng lớn là làm dầu thô sụt giá mạnh hơn.

- Nhưng lý do chính khiến các thương phẩm đều có thể hạ giá là vì kinh tế thế giới không thể chịu đựng nổi tình trạng giá cả tăng gấp hai gấp ba trong có hai năm, và đây đó đã có triệu chứng hụt hơi và bị khủng hoảng khiến số cầu sẽ giảm, làm giá cả giảm theo.

Hỏi: Nhưng thưa ông, liệu tình trạng giảm giá này có kéo dài và nhất là có giảm đủ mạnh để cứu vãn tình hình hay không"

- Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng mà kinh tế học gọi là sự đàn hồi hay co giãn rất cao của giá cả so với khối lượng sản phẩm. Nói cho dễ hiểu là nếu số cầu về sản phẩm mà giảm một thì giá cả có thể giảm gấp năm bảy lần; không thấy trước thì ta sẽ bị lỗ nặng.

- Tôi xin đơn cử một thí dụ diễn đản này đã nói tới nhiều lần. Sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997, sản xuất sa sút đã đánh hạ số cầu về dầu khí mất 10% trên thế giới, nhưng giá dầu thô khi ấy lại giảm tới 75%, giảm gấp bảy lần mức sút giảm của số cầu. Tất cả các nước sản xuất và bán dầu đều nhớ bài học đó vì họ bị điêu đứng khi giá dầu thô sụt dưới 10 đồng một thùng vào năm 1999.

- Có hai thí dụ khác cũng đáng chú ý về giá dầu. Năm 1991, khi Hoa Kỳ tấn công Iraq để giái cứu xứ Kuweit vào ngày 17 tháng Giêng, giá dầu đã tăng mạnh, nhưng lập tức giảm và giảm thấp hơn giá nguyên thủy. Trường hợp kia là giá dầu sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 tại Mỹ đã tăng vọt nhưng lại sụt mạnh trong có vài tuần dù khi đó Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tấn công A Phú Hãn, tức là xứ Afghanistan.

- Trở lại chuyện bây giờ, ngày nay ngần ấy đầu máy kinh tế thế giới từ Hoa Kỳ tới Nhật Bản, Âu Châu và cả Trung Quốc, đều bị đe doạ suy trầm vì năng lượng quá đắt, nên các nước bán dầu e sợ giá dầu sẽ bóp nghẹt kinh tế và giết chết con gà đẻ trứng vàng của họ. Nếu giới đầu tư vào thị trường thương phẩm theo thể thức có hạn kỳ, gọi là futures market, mà thấy giá hạ khi họ đã lỡ mua trước với giá cao thì sẽ sợ bị lỗ nên lập tức bán tháo khiến giá hạ còn nhanh và mạnh hơn khi tăng. Như hôm Thứ Ba vừa qua, dầu thô đã sụt tới giá 118 đồng một thùng.

Hỏi: Vừa rồi, ông còn dự báo là Mỹ kim có thể sẽ tăng giá trong tương lai, vì sao lại như vậy"

- Vì một lý do cũng dễ hiểu thôi. Đô la Mỹ đã sụt giá mạnh từ nhiều năm đến độ nhiều quốc gia còn tính đến việc xả bớt đô la trong khối dự trữ ngoại tệ để khỏi bị lỗ. Nhưng, khi nói Mỹ kim sụt giá là ta so sánh tiền Mỹ với các ngoại tệ khác, như đồng Euro Âu châu hay đồng Yen của Nhật, đồng Bảng của Anh, đồng Phật lăng của Thụy sĩ, v.v... Dù cả thế giới nói nhiều tới khủng hoảng muôn mặt tại Hoa Kỳ, một phần vì là một năm tranh cử tại Mỹ nên các chính khách ưa báo động và gây hốt hoảng, người ta đang khám phá ra là các nền kinh tế kia, từ Âu Châu tới Nhật Bản và Trung Quốc, đều đang bị vấn đề còn nghiêm trọng hơn kinh tế Mỹ.

- Lúc đó thiên hạ mới nghĩ lại là dầu gì thì tiền Mỹ vẫn an toàn hơn cả. Mỹ kim sở dĩ trở nên mạnh hơn chỉ vì các ngoại tệ khác bị yếu đi! Nếu Mỹ kim hết sụt mà lên giá thì dầu thô giảm giá càng mạnh vì tiền Mỹ là phương tiện giao hoán chủ yếu trên thị trường năng lượng của thế giới.

Hỏi: Tổng kết lại thì sau hai năm lên giá vùn vụt, thị trường thương phẩm có thể đảo chiều trong giai đoạn tới có phải không"

- Thật ra, ít ai dám dự đoán và khẳng định chiều hướng tương lai của loại sản phẩm sinh tử là lương thực hay loại sản phẩm chiến lược là dầu khí, nhưng chắc chắn là thị trường sẽ thăng giáng rất mạnh, lên xuống rất bất ngờ, và nếu sụt giá thì sụt giá nhanh hơn là khi tăng giá. Vì vậy người ta nên cảnh giác và theo dõi kỹ để khỏi bị hụt chân lỗ vốn.

Hỏi: Bước qua phần kế tiếp là điều thính giả chờ đợi, thưa ông các nước Á châu có thể rút tỉa được bài học gì từ cơn sốt giá cả vừa qua"

- Dù dầu thô đã sụt dưới 120 đồng và có thể còn sụt mạnh từ tháng này tới đầu năm sau, nhưng ở khoảng 90-100 đô la một thùng thì vẫn là quá cao và vẫn là một sức ép đáng kể trên mặt trận lạm phát. Khi các nước Đông Á gặp bài toán lưỡng nan là sản xuất suy trầm và vật giá gia tăng, giới lãnh đạo đã tranh luận về ưu tiên đối phó. Đa số, kể cả Việt Nam, đều nói tới yêu cầu ổn định vật giá tức là giải trừ lạm phát, nhưng thực tâm thì vẫn muốn duy trì một tốc độ tăng trưởng cao. Chưa kể là bên trong cơ chế kinh tế và chính trị, họ cũng chẳng kiểm soát nổi tình hình. Khi thấy giá thương phẩm có thể sút giảm, họ càng dễ lơ là với mục tiêu kềm hãm lạm phát. Và tranh luận hay mâu thuẫn chính trị càng dễ bùng nổ trong giai đoạn giao thời này.

- Thứ hai, là trong tương lai lâu dài, các nước Á châu đều phải ý thức được một thực tế Đông Á là các nước trong khu vực buôn bán với nhau nhiều hơn, trên một diện tích thật ra trải rộng hơn cảm quan ấn tượng bình thường. Thí dụ như cũng trong phạm vi Đông Á, từ Sàigon lên Thượng Hải thì cũng xa không kém từ New York qua Paris; hoặc từ Sydney lên Tokyo thì cũng xa như từ Los Angeles tới Bắc Kinh. Trên địa bàn ấy, cước phí vận chuyển là bài toán rất nặng, nhất là khi đa số các nước đang phát triển tại Đông Á lại có hiệu năng tiêu thụ rất kém. Cho nên, giá cả dầu khí vẫn là mối nguy cho ngoại thương nếu kinh tế tùy thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu. Bài học ấy khiến một nước như Việt Nam cần xét lại cấu trúc kinh tế và nhất là chú ý nhiều hơn tới việc mở rộng thị trường nội địa, là điều cần thiết về kinh tế lẫn xã hội và cả chính trị.

Hỏi: Ông vừa nhắc tới trường hợp Việt Nam, nếu tình hình giá cả thương phẩm có xoay chuyển và dầu thô giảm giá thì những gì sẽ xảy ra và đâu là những bài học sau cơn sốt vừa qua"

- Tôi thiển nghĩ rằng Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến thị trường nội địa của một dân số đủ đông là 85, 86 triệu, để có số cầu đủ mạnh cho sản xuất và đấy cũng là cách san bằng khoảng cách quá lớn về lợi tức của người dân. Muốn như vậy, phải nâng cao trình độ của hạ tầng cơ sở chuyển vận và luật lệ cho thông thoáng và bình đẳng hơn.

- Thứ hai, rút kinh nghiệm được cảnh báo từ đầu năm, Việt Nam cần quan niệm lại chính sách canh nông hầu không bao giờ để người dân bị đói hay khốn đốn vì lương thực tăng giá. Thứ ba, và ngay trước mắt, đừng lạc quan quên lãng nhu cầu ổn định giá cả vì lạm phát tiền tệ vẫn còn đe dọa nền kinh tế. Trong ý nghĩa đó, người ta còn nên chú ý tới mối nguy trước mắt là đô la lên giá, tức là đồng bạc Việt Nam sẽ còn nguy cơ tuột giá và gây bất ổn nặng trong những tính toán kinh doanh của người Việt.

- Tổng kết lại, khi dầu thô lên giá tới 140 đồng một thùng, kinh tế Việt Nam có thể bị khủng hoảng như chúng ta dự báo từ mấy tháng trước. Ngày nay, giá dầu đang giảm thì có thể đẩy lui nguy cơ khủng hoảng đó. Tuy nhiên, sự thăng trầm rất mạnh của giá cả vẫn là một vấn đề, và lạm phát vẫn còn gây sức ép rất mạnh, nhất là khi Mỹ kim lại lên giá, cho nên Việt Nam không thể lạc quan cho rằng mọi việc đều sẽ tốt đẹp.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.