Hôm nay,  

Chữ Mệnh!

14/09/200900:00:00(Xem: 11800)

Chữ Mệnh!

Mỹ Hiệp               
(LGT: Tác giả Mỹ Hiệp tên thật là Diệp Thế Mỹ là phu nhân của letamanh. Đồng tác giả của tác phẩm "Giọt Nắng Xiên" xuất bản 2008.)
Núi Đeo ngọn tháp chờ ai đó!
Hóa kiếp thời gian trong ý thơ,
Những mảnh linh hồn về đứng lặng,
Sầu dâng thiên cổ khóc ngọn cờ…!
Ngọn gió thu nhè nhẹ lướt qua đung đưa cành mận đỏ trước nhà, đủ làm lá rơi đầy sân Những chiếc lá đỏ nằm trên thảm cỏ xanh tạo một bức tranh khá đặc sắc. Buổi sáng khí hậu hơi se lạnh, choàng thêm chiếc áo ấm mỏng, tôi đi bộ ngoài công viên, gặp vài người bạn láng giềng, nghe họ kể chuyện về chuyến du lịch Việt nam làm tôi nôn nao háo hức…Lấy vội vé máy bay để đi ngay, chậm trễ có thể làm tôi tan biến cảm giác thích thú. Đến Việt nam với hành lý xách tay gọn nhẹ, tôi gặp anh Hai ra phi trường đón. Chị dâu tôi đang nằm bệnh viện một tuần rồi, đau ở bụng, chưa chẩn đoán ra bệnh gì. 
Xe đưa tôi về thăm em gái ở Biên Hòa thì gặp cháu dâu báo tin nó sắp phải mổ bướu ngực, nhưng tình trạng ốm quá, bác sĩ thông báo cần mua máu để tiếp. Vài hôm sau tôi về Ninh Hòa thăm mẹ già. Mẹ bình an, lại nghe thêm tin ông anh, con nuôi của ba má tôi, bị stroke nằm một chổ. Tôi vội đi thăm, nhà anh ở Dục Mỹ. Trên đường ngang qua núi Đeo, hình ảnh nầy gợi nhớ thời thơ ấu… Buồn dâng cao, nước mắt chực rơi, những giọt nước mắt thương cảm về những người bạn vắn số của tôi Thật không công bằng chút nào, thiên hạ đi chơi chỉ nghe kể chuyện vui, còn phần tôi chuyện buồn như chờ chực sẳn. Hình như những chuyện bắt  đầu là “ngày xa xưa ấy” lúc nào cũng ăn sâu vào tâm khảm. Năm mươi năm không dài, tuy nhiên cũng không phải là ngắn so với một đời người. Tôi nhắc đến anh như kể một mẫu chuyện cổ tích cho đàn con cháu. Còn ai nhớ đến một thế hệ, có những chàng trai hy sinh tương lai đã nằm xuống để bảo vệ lý tưởng tự do.                                                
oOo
Năm lên mười tuổi, tôi đậu vào trường trung học Trần Bình Trọng, niềm vui còn nóng sốt là đã phải đón nhận tin buồn cha mẹ mình làm ăn thất bại. Mấy dì mấy cậu từ Phú Hòa gánh gạo xuống tiếp tế, mặc dầu mẹ tôi không hề báo tin, nhưng tin đồn đã đến tai họ hàng. Mẹ tôi bảo không còn tiền buôn bán chứ chưa đến nổi thiếu gạo ặn, các anh các chị đừng khổ nhọc mang gạo xuống nữa. Nhưng các dì lại bảo, cô hai nên đem gạo bán để mua cá thịt cho tụi nhỏ ặn. Ba mẹ tôi thuê mặt tiền nhà cậu mợ Hai để mở tiệm ặn, tọa lạc ngay ngã ba Quốc lộ 01 và quốc lộ 21 (đường lên Bamethuột) thuộc quận lỵ Ninh Hòa. Nghe mẹ nói với ba tôi, mình không còn tiền cho con ăn uống đầy đủ thì chọn việc mở tiệm ăn cho chúng khỏi thiếu ặn. Mẹ tôi lên Thuận Mỹ, Trường Lộc mượn được ba chị giúp viêc. Ông Chín người Tàu là thơ nấu. Vào nghề nầy, cho dù thấy thức ăn đầy, chị em tôi vẫn chẳng thiết tới, chỉ có thèm ngủ, bởi suốt ngày kẻ ra người vào ồn ào không học bài được, khi tiệm đóng cửa trên mười giờ đêm, tôi mới có thể làm bổn phận học trò.
Mới bốn giờ sáng, cha mẹ tôi đã thức dậy bán cà phê cho những tài xế xe lambretta và những công nhân đi làm sớm. Các chị người làm lớn lên ở vùng quê, họ giỏi về ruộng vườn, ra phố làm việc chợ búa và chạy bàn thì thật là chậm chạp. Tôi than phiền hỏi mẹ - Sao không kiếm người lanh lợi, mẹ trả lời, nhà nó đông anh em, má mướn cho gia đình nó bớt miệng ăn, về nhà mình sáng sáng nó được ăn phở, chứ ở quê buổi sáng mong cơm nguội cũng đã quí. Quả thật ba chị tới ở với gia đình tôi thay da chóng lớn thấy rõ. Thuận nhỏ nhất, nhà nghèo chưa có một ngày đến trường, không biết đến một chữ A, tôi phải dạy chị, sau đó cũng biết đọc…Nhớ ngày đầu chị bước  vào nhà, tôi hỏi chị tên gì" Tên Thai, chị trả lời. Tôi nghe tên nầy không êm tai nên dặn, má em có hỏi chị tên gì, nhớ trả lời tên Thuận nghe; Thuận, chữ nầy tốt lắm, là chị làm ăn được hanh thông, thuận buồm xuôi gió. Chị ấy nghe vừa ý. Nên từ đó tên cúng cơm cha mẹ đặt, không còn ai gọi đến nữa. Không phải chỉ dạy Thuận học mà tôi còn phải viết thư tình giùm. Hùng là người yêu của chị, tiểu đoàn 11 Biệt động quân, anh về học khóa sình lầy Núi Đeo. Những bức thư tình của Thuận gởi cho Hùng đều do tôi viết hồi âm sau khi đọc cho chị nghe! Thư trao qua lại bao ngày mà Hùng nào có hay những dòng chữ tràn đây nhung nhớ của Thuận lại không phải do Thuận viết. Về sau Thuận và Hùng nên nghĩa vợ chồng. Một lần về quê vợ, anh chị đã ghé thăm tôi – Thuận đã kể cho anh nghe thư từ qua lại giữa anh và Thuận lâu nay đều do em làm bà mối. Cám ơn em đã giúp chúng tôi nên nghĩa vợ chồng! Anh dặn vợ, những giấy tờ cần thiết phải để có nơi, nếu ngộ lở anh có việc gì không hay thì có thể mang đến đơn vi… Tôi không thông nổi lý lẽ nầy, việc làm của tôi thật sự tốt cho họ chứ! Có phải tôi đã lừa dối anh!... Năm năm sau, Thuận trở về Ninh Hòa gặp tôi báo tin Hùng tử trận. Chị mới hai mươi hai tuổi đã thành góa bụa với ba đứa con thơ. Một lần nữa lòng tôi thêm ray rức. Lúc đầu tôi nghĩ mình làm việc tốt giúp bạn, hóa ra, nếu tôi không giúp Thuận viết thư thì chị đâu phải lấy Hùng và nay đâu phải thành bà góa. Thượng đế ơi! Có phải số phận họ là như vây. Suốt tuần lễ, tôi vừa chợp mắt là hình ảnh Thuận với vành khăn tang hiện ra. Tôi vốn sợ màu áo tang từ bé, đi học về chẳng may gặp đám ma gữa đường, thế là tối hôm ấy cứ bị hình ảnh những chiếc áo trắng xuất hiện trong giấc mơ..Mỗi lần tâm thần bất ổn tôi tìm ông ngoại ở  Đồng Giữa thôn Hai, để được nghe ông kể chuyện cổ tích. Tôi không hiểu ông tự biên tự diễn hay đọc được từ sách nào, nhiều chuyện ngộ nghĩnh làm tôi cười đau cả bụng, nước mắt chảy dài..
Tôi đem chuyện sống chết hỏi ông thì được nghe ông giải thích – Theo học giả Vương Sung người đất Thượng Ngưu ở quận Cối Kê, sinh năm Kiến Vỏ thứ ba (Năm 27 sau Tây Lịch), đời vua Quang Vũ, Ngài theo tư tưởng duy vật – Đối với sự sinh hóa trong vũ trụ, Vương Sung cho rằng, “thiên địa hợp khí, vạn vật tự sinh, do phu phụ hợp khí, tử tự sinh hỷ”, Vạn vật bẩm thụ cái nguyên khí của trời đất mà sinh ra, cũng như con cá dưới nước, con côn trùng trên mặt đất đều tự nhiên cả, chứ không phải tại có ý chí của trời đất sinh người hay sinh vạn  vât. Các vật sinh ra đều có cái hình tương đương để duy trì cái khí của minh đã chịu. Cái hình lúc mới thành đã định trước vận mệnh và tính chất đặc biêt. Khí và thể, cùng với các hình hài bao bọc lẫn nhau cho nên sự sống, chết đều có kỳ tiết cả. Cùng chịu cái nguyên khí, thế mà hoặc làm người hay làm cầm thú, cùng làm người thì có người sang người hèn, người giàu người nghèo. Giàu đến vạn ức, nghèo không có cái ăn, sang được công hầu, nghèo làm nô bộc. Đó không phải là trời có riêng tây gì, chỉ vì người ta chịu cái tính của trời hậu hay bạc. Sự không đồng đều là do cái mệnh đã định, người có mệnh xấu thì gặp bước  xấu, mệnh nghèo mà có gắng sức làm nên giàu, đến khi giàu lại chết. Mệnh hèn cố lấy tài năng làm nên sang, đến khi sang là phải chấm dứt. Vương Sung cho sự họa phúc và qui tiện của người là bởi cái mệnh khiến ra, cho nên mới có sự tao phùng hội ngộ, có cái mệnh sống chết thọ yểu, cũng có cái mệnh sang hèn giàu nghèo. Vậy không nên lấy sự hiển đạt mà cho là tài giỏi và lấy bần cùng mà cho là ngu dại…


Thấy tôi cứ mãi đăm chiêu tư lự không cười như những lần gặp trước, ngoại bèn kể cho tôi nghe một chuyện vui “Ở một làng kia có ngôi chùa. Trụ trì chùa nầy là một vị đạo đức trung niên xuất giạ Vì đi tu lớn tuổi không được học Phật Pháp trường lớp. Sự hiểu biết của Thầy có giới hạn. Gần chùa có một cư sĩ thường tìm tới gạn hỏi Phật pháp. Thầy không trả lời thì không được, nhưng trả lời thì không vừa ý ông ta. Vì vậy mỗi khi thấy cư sĩ đến thì thầy lánh măt. Một hôm Thầy nói với anh Ba bán tàu hủ về ông cư sĩ thường đến nạn vấn làm thầy phiền phức. Anh Ba Tàu hủ nói “ Thầy để cho con, bửa nay có ông ta đến khổng” Vừa nói thì thấy xa xa ông ta đã đến. Anh Ba Tàu Hủ liền mượn áo cà sa, y và mũ của thầy khoác vào, lên chánh điện ngồi thiền, xoay mặt qua một bên. Ông cư sĩ đến chánh điện niệm Phật, thấy có vị tăng đang ngồi thiền tướng mạo trang nghiêm, ông liền đãnh lễ hỏi đạo. Ông cư sĩ đưa một ngón tay, Vị thiền Sư đưa ra ba ngón tay Ông cư sĩ đưa ra ba ngón tay Vị thiền sư đưa năm ngón tay. Ông cư sĩ cuối đầu bái phục ra về. Gặp thầy Trụ Trì ông nói – Hôm nay chùa mình có cao tăng, con hỏi đạo Ngài trả lời rất xác thật. Thầy Trụ Trì hỏi, Thiền sư trả lời thế nào. Ông cư sĩ nói, “Con hỏi phải làm sao được nhất tâm" Thiền sư trả lời: Phải qui y tam bảo. Con hỏi: Làm sao phát huy tam bảo, Thiền sư dạy phải giữ ngũ giới. Như thế Ngài trả lời hay quá. Chùa mình từ nay có cao tăng, con không dám quấy rầy thầy nữa.” Nói xong cư sĩ chào thầy ra về!
Anh Ba Tàu Hủ cởi y mũ trả cho thầy trụ trì và nói: “Ông cư sĩ thua con rồi, từ nay ông không đến nữa đâu!” Thầy trụ trì hỏi “anh trả lời sao mà ông cư sĩ phục anh"” Anh Ba Tàu Hủ nói: “ Có gì đâu, ông cư sĩ hỏi mua một miếng tàu hủ là bao nhiêu, con trả lời ba đồng. Ông hỏi nếu mua ba miếng là bao nhiêu, con nói nếu là Phật Tử thì con bán rẻ năm đồng. Thế là ông bằng lòng, bửa sau sẽ mua!” Thầy Trụ Trì nghe ông Tàu hủ nói thì ôm bụng cười lăn. Ông ngoại tôi hỏi tôi: “Trò hiểu ý câu chuyện nầy chứ! Thôi về đi để mẹ lo, chẳng biết trò đi xuống ông có cho mẹ biết không.” Ông ngoại tôi thường gọi tên các cháu là trò. Ông biết tôi trốn mẹ đi chơi, vì lần nào mẹ sai tôi về ngoại, đều có gởi theo sửa và đường. Đi tay không là trốn mẹ đi chơi. Từ đó tôi dặn lòng không chọn lính làm người yêu vì sợ sẽ làm góa phụ trẻ.
Rồi có một ngày, buổi sáng thứ bảy tôi thấy xuất hiện ở phố Ninh Hòa những chàng thanh niên mặc quân phục Biệt Động Quân, đầu cạo láng bóng, tôi đoán có lẽ là những lính ba gai bị phạt kỷ luật, nhưng chừng một giờ sau phố dông nghẹt lính đầu trọc, nhìn họ tôi cũng hơi lo sợ. Không có tóc, không che được kẻ đầu méo người đầu dài. Mái tóc điểm trang cho khuôn mặt rất nhiều. Họ vào tiệm của mẹ tôi dông chật cứng không còn ghế ngồi thì đứng. Họ ồn ào vui nhộn tôi cũng vui lây với không khí nhà binh nầy. Được biết đây là Tiểu Đoàn 39 BĐQ thất trận về lại Núi Đeo tu nghiệp bổ sung quân số. Tất cả Tiểu Đoàn từ quan đến lính đều cạo đầu xã xui. Thời gian học bổ túc, ngày thứ bảy và chúa nhật được nghĩ. Phố Ninh Hòa vì thế trở thành nhộn nhịp, hàng quán đầy nghẹt khách hàng là lính rằn ri mũ nâu!
Mỗi tuần hai ngày gặp mặt, tôi quen tên một số người đặc biệt. Ngay hôm đầu vào tiệm, tôi không chú ý vì khó phân biệt, họ cùng màu áo và cùng đầu trọc, bổng có một người tốt bụng đến gần tôi nói nhỏ: “Coi chừng có người chụp hình lén!” Tôi nhớn nhác tìm, một lính trẻ mang máy ảnh đang ngồi trong góc phía phải, bàn số 4 đang canh máy hướng về phía tôi chụp hình.. Người vào tiệm quá đông nên anh không thể nào chụp riêng rẽ hình của tôi đươc. Vã lại tôi cố tình tránh né, nên phần nhiều là hình chụp không được rỏ hay chung với nhiều người khác. Nhưng anh ta vẫn cố tình rửa ra và mang đến cho tôi xem… Tôi không hiểu sao lúc nào anh ta cũng giành được chỗ ngồi nhất định đó, mặc dầu anh không đến sớm để chọn bàn. Tôi đoán chừng, tất cả những anh lính vào tiệm đều cùng một đại đội, có lẽ họ rĩ tai trước nhường chỗ ngồi đó cho chàng thanh niên nầy để gây sự chú ý của tội
Qua tháng thứ hai, B bạo dạn hỏi xin tôi được chụp một tấm hình, tôi mĩm cười lắc đầu, anh ta tiến đến gần tôi hát nhỏ “…Em nỡ lạnh lùng đến thế sao..Tim anh tan nát tự hôm nào, giờ đây đã nát càng thêm não, muốn nói mà sao vẫn nghẹn ngào…Sao em không nói một lời gì, dù chỉ một lời không đáng chi, cũng đủ làm lòng anh ấm lại, bao ngày xa cách lúc anh đí!...” Tôi có hai người em gái nhỏ, B lân la chơi với chúng, chụp  nhiều kiểu hình để rồi tuần sau đem đến tặng. B hòa mình dễ tánh nên mọi người trong gia đìnhh tôi có tình cảm đặc biêt.Lúc đó tôi vẫn còn quá nhỏ, chưa biết làm dáng; nên cũng nhìn B như những bạn trai cùng lớp ở Trần Bình Trọng, chỉ cảm nhận vui vui khi có mặt anh, thế thôi!
Ngày vui qua nhanh, tôi cũng phải lo thi học kỳ cuối năm. Tiểu đoàn anh quay về Đà Nẳng, nhận được thư anh viết từ chiến trường Điện Bàn. Trong thư cũng ngỏ ý xin tấm hình. Bác phó nhòm nầy quá tệ, bao tháng trời mà không chụp được để phải gởi thư  xin hình! Thôi tạm cất thư vào ngăn kéo, sau kỳ thi sẽ trả lời… Thi xong, tôi lấy thư ra đọc và hồi âm, hẹn một dịp nào đó đi chơi xa có phong cảnh đẹp sẽ chụp hình…Đem thư ra bưu điện thì tối hôm đó, tôi còn mơ màng chưa ngủ hẳn, thấy anh đứng cách tôi độ nửa mét, mặt đối mặt, nhưng mắt anh nhắm nghiền, tôi hỏi lớn: “ B anh làm sao hả", sao anh không mở mắt, anh nói đi!” Mắt anh vẫn nhắm. Tôi nhìn anh đăm đăm “ Mở mắt ra đi, nói gì đi!” Tôi la lớn rồi tỉnh giấc, nhìn quanh từ bề yên lặng, mọi người đều say ngủ. Nước mắt tôi tự dưng trào. Tôi tự hỏi tại sao mình khóc" Cũng không hiểu tại sao, chỉ thấy buồn kinh khủng, tôi cố nghĩ  mình vô lý lắm…Cười đi…Nhưng vô phương. Đến sáng hôm sau nước mắt tôi cũng không ngừng chày. Đem chiêm bao kể cho ba tôi nghe, người bảo “ Mọi người sống chết đều có số mạng, hàng trăm người tham dự cùng một mặt trận, có kẻ chết người được hưởng vinh quang. Cầu mong cho nó bình an” Vài ngày hôm sau,thư tôi viết cho anh bị trả lại với một điện tín do bạn anh gởi báo B đã tử trận tại Điện Bàn ngày…tháng…năm… Thế có nghĩa là những ngày còn trên trần thế, B rất mong thư tôi, nhưng thư đến quá muộn anh chưa có cơ hội dọc. Anh đến gặp tôi là trách móc đó chăng"
Đọc bức điện tín tôi không buồn nữa, nhưng đầu óc dường như tê dại. Rồi đây ai ai cũng phải về ngôi nhà chính của mình kia mà, thiên hạ chẳng bảo là sinh ký tử qui đó sao. Nhưng nhà anh ở tận nơi đâu" Tôi hàng ngày vẫn nhìn chiếc ghế anh thường ngồi và tiếng hát của anh dường như vẫn còn văng vẳng đâu đây. “…Tiếng khóc không vơi được nổi sầu đâu em, nước mắt không đem lại chuỗi ngày ấm êm, đừng buồn nghe em, đừng sầu nghe em, tình yêu dẹp nhất  khi xa nhau còn thương nhau…”
Giờ đây dừng chân nhìn cảnh Núi Đeo, bao kỷ niệm xưa lại hiện về, lòng tôi bùi ngùi nhớ đến Thuận không biết đang sống ở đâu, nhớ đến chồng Thuận, nhớ đến B và những anh em binh sĩ cùng các đơn vị đã từng về học khóa sình lầy. Nhớ gói quà trái sim B đã mang cho tôi, anh đã tự tay hái ở cây số 16; ngày ấy anh con trêu “ Cô học trò biết bạn anh nói gì không" – Nói gì " – Nói anh trồng cây si ở Ninh Hòa" – Vậy sao" – Em rất vui, vì như thế anh mới đến Ninh Hòa thường và em gái mới được ăn quà chứ! Mà chị nào vậy", giới thiệu cho em biết đi chứ…!”
Mệnh anh ngắn ngủi hay…Thôi thì mình cứ tìm một triết lý nào đó để tin tưởng và chấp nhận cho cuộc đời được bình thản!
Mỹ Hiệp
 2009

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.