Hôm nay,  

Hoa Đốm Mùa Xuân

01/03/201100:00:00(Xem: 6914)
Hoa Đốm Mùa Xuân

Vĩnh Hảo
Cuối năm.
Trời vẫn còn lạnh. Buổi trưa có nắng ấm, nhưng lại nhiều gió khiến những cánh hoa đang rộ nở phải run rẩy, ngửa nghiêng. Chậu mai duy nhất trong sân đã được tuốt lá từ nhiều ngày trước, chuẩn bị đón Tết với trăm nụ hoa còn ươm xuân vàng trong những lộc xanh. Bánh chưn bánh tét truyền thống được gửi tặng từ một người bạn phương xa cũng đã đơm cúng trên bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Hoa quả, bánh mứt từ chợ xuân mang về, đầy hương sắc và sinh phong của một năm mới. Sổ sách cuối năm, báo chí đầu năm, cập nhật tin tức và bài vở các trang nhà, thiệp xuân (điện tử), v.v… mọi thứ đều đã chuẩn bị xong xuôi đâu vào đó. Những ngày cận Tết, thực sự không còn gì để lo, nghĩ, làm, hoặc viết.
Một đời lăng xăng, trôi giạt, có lẽ cũng nên chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình như thế. Những ngày cuối cùng ấy, bắt đầu từ khoảng thời gian nào" Tuổi thiếu niên, hồn nhiên, vui chơi, thắc mắc, tò mò… đã qua rồi. Tuổi thanh niên, nhiệt huyết, sôi động, lúc nào cũng muốn thay đổi, cải cách, kiêu căng và thách đố, sẵn sàng dấn mình vào những cuộc phiêu lưu nguy hiểm… cũng qua rồi. Tuổi trung niên, trầm tư, cân nhắc từng ý nghĩ, lời nói, hành động; bước vững con đường đã chọn, nhìn trước những gì ở tương lai… cũng qua rồi. Tuổi lão niên—có phải đã là lão niên không nhỉ" Ngoài năm mươi, tóc trên đầu đã bạc nhiều; ừ, thì lão niên—nhìn mọi thứ trong cuộc đời như là những sắp xếp trật tự của nhân duyên, nhậm vận mà hành xử… cũng đang đi qua, từng phút, từng giờ. Đã qua đi tất cả những cái hiện tại, hiện tiền. Đã qua đi những cái ngày nay, năm nay, nơi này. Vậy mà những ngày cuối cùng của đời mình vẫn là khoảng thời gian mơ hồ, không thể biết trước để sắp xếp một chuyến đi thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng bận. Biết chăng, là biết sự chấm dứt của một đời người có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng cái biết ấy không đủ là một chuẩn bị chu đáo cho thời gian cuối đời.
Cuối ngày, cuối tháng, cuối năm, cuối đời, thực ra bản chất cũng không khác gì nhau. Nhưng chúng ta chỉ biết thu xếp cho ngày tháng năm, mà không thu xếp đàng hoàng cho cuối đời.
Đêm giao thừa.
Sau khi cùng gia đình lễ Phật nơi vài cảnh chùa trước giờ giao thừa, một mình lái xe đi trong đêm. Xa lộ vắng xe mà vẫn lái thong thả, đúng tốc độ qui định. Không có gì vội vã, dù rằng quí thầy nơi tu viện gọi điện thoại thăm chừng đã đến đâu, có vẻ hối thúc. Giữa đường ghé lại trạm nghỉ ngơi. Mua một ly cà phê nóng nơi máy pha chế tự động. Đứng giữa trời đêm, gió lạnh cắt, nhấp từng ngụm nhỏ, thật sảng khoái. Muôn sao lấp lánh như thể muốn chia sẻ sự run lạnh của một lữ hành trong đêm.
Xe lên đến cổng tu viện thì vừa đúng 12 giờ khuya, giờ giao thừa. Đậu xe nơi bãi, không vội vào trong. Trên xe, bấm số gọi điện thoại phương xa. Nghe tiếng mẹ qua điện thoại. Mẹ không nhận ra mình là ai, chỉ đoán là một trong những đứa con xa nhà của bà. Không sao, nghe được tiếng mẹ, biết mẹ còn khỏe là đủ rồi. Giờ giao thừa, một mình giữa đất trời im, nói đôi lời với người thương, nghe được tiếng người thương, không gì hạnh phúc hơn.
Ra khỏi xe nghe hoa rừng lao xao trong gió. Hương cỏ ngập tràn đêm ba mươi. Đứng lặng giữa đêm sâu. Ngước nhìn muôn sao le lói trong biển đen thẳm. Bất chợt nhận ra sao mai, lồng lộng ngời lên như một thiên thần. Sao mai, hay hoa mai của trời cao, tỏa cánh thiêng, ôm lấy mình, hay chính mình đã đi vào trong sao. Trong khoảnh khắc, trần gian tan biến. Tất cả những nơi chốn, đất và trời, ngày và đêm, tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không hiện hữu. Phút thiêng giao thừa, cất lên bản giao hưởng của tâm, của tình, của cả sắc thân, cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và ý thức. Một năm, một đời, dễ gì có một lần giao cảm huyền diệu như thế.
Lững thững rời bãi đậu xe, vào tu viện. Lễ đón giao thừa đã kết thúc hơn một giờ đồng hồ trước đó. Hóa ra từ đường xa đến đây không phải để cùng mọi người làm lễ mà để trang nghiêm tiếp nhận hương hoa của đất trời. Tu viện vắng ngắt, không còn khách vãng lai. Bãi đậu xe chỉ riêng xe mình đậu. Uống trà cùng sơn tăng trong đêm lạnh mịt mùng.
Sáng sớm rời tu viện. Ánh triêu dương bừng vỡ cả núi đồi. Muôn sao rụng xuống thành muôn hoa, rực rỡ sắc màu trong nắng xuân đầu ngày.
Đầu năm.
Nắng ấm. Không còn gió chướng như ngày cuối năm hôm trước. Từ tu viện lái xe về, ghé ngồi với người bạn thân nơi vỉa hè một quán cà phê của khu thương mại người Việt. Nghe nhạc xuân tưng bừng. Nghe pháo Tết nổ giòn từ các chợ và cửa hàng. Mùi thuốc pháo quyện lấy cả một không gian rộn rịp người qua kẻ lại, nói cười râm rang. Chợt hòa vui theo niềm vui của thiên hạ.

Đường về nhà ít xe qua lại. Hai bên đường có nhiều cây hơn. Những bãi cỏ được cắt xén thành nhiều hình thù khác nhau, trông như những ao hồ xanh rợp. Bồn hoa của các cơ xưởng khoe sắc, tỏa hương trong nắng xuân. Nhìn đâu cũng thấy hoa. Con người sống trên đời, dù ở xứ sở nào, sắc tộc nào, dường như không thể thiếu hoa. Hoa là ngôn ngữ, là biểu tượng chung của con người mọi thời đại. Biểu tượng của cái đẹp. Nghĩ vậy mà lòng thấy nhẹ nhàng, nhiều cảm thông, tha thứ. Cảm thông ngay cả những gì không phải là hoa, trái ngược với tính chất của hoa.
Nhưng khi lái xe vào hẻm vắng, bỗng cảm nghe một nỗi gì trống rỗng, mang mang. Có vẻ như tâm thức cũng chuyển động, thay đổi ở ngày đầu năm. Tại sao ngày đầu năm" Phải chăng có thực một ngày đầu năm" Cái gì khác giữa cũ và mới" Cái gì khác giữa tâm thức hôm nay và ngày qua" Năm cũ, có phải đã qua đi và một năm mới bắt đầu" Cái gì còn lại" Cái gì tái sinh" Cái gì mới vừa sinh ra"
Hoa xuân.
Bước vào đến sân, nghi vấn vẫn còn lờn vờn trong đầu. Rồi bất chợt, khi nhìn thấy cành mai nở sáu nụ vàng thắm trên những cành trĩu đầy nụ xanh, trí như khai ngộ một lẽ gì. Cơn biến động của thời thế và đổi thay của lòng người, từ lâu vẫn âm thầm bào mòn, phá hoại, làm giảm đi niềm vui và tin yêu của mình đối với cuộc đời, phút chốc vỡ òa ra, rồi sáng lên theo những nụ mai vàng. Phô trương, đãi bôi, man trá, giả trang, kiêu hãnh, hám danh, hám lợi, lộng quyền, mê tín, cuồng tín, tự đại… những thứ ấy, của những con người ấy, đã từng một thời không ưa, nay tha thứ, cảm thông hết, chấp nhận hết. Vì dù thế nào, họ cũng biết chăm sóc, hoặc nhìn ra vẻ đẹp của hoa.
Ngồi xuống nơi vườn sau. Hoa xuân rực rỡ. Chim ríu rít trong lùm cây rậm nơi tường rào. Mây trắng vẫn bay ngang trời rộng. Vết xuân đi cũng nhẹ nhàng, đơn giản thế thôi. Con người và cuộc đời, với hạnh phúc và khổ đau, yêu thương và giận ghét, đoàn tụ và ly biệt… cũng sống và trôi đi đơn giản, bình thường thế thôi. Hoa sẽ tàn và rồi sẽ nở; sẽ nở rồi lại tàn. Người xấu đó, rồi tốt đó; tốt đó, rồi lại xấu đó. Hưng thịnh hay suy vong của một đất nước, một thể chế, một tổ chức, hay của một cá nhân, cũng rất là bình thường như hoa nở hoa tàn. Không thể đoán trước được những gì sẽ xảy đến, và xảy đến như thế nào. Nhưng đổi thay là lẽ tất định.
Hoa đốm.
Thế gian ly sinh diệt. Do như hư không hoa. Cuộc đời trong hiện tượng vốn biến dịch, đổi thay; nhưng kỳ thực, bản chất của nó vượt ra ngoài sự sinh-diệt còn-mất. Chẳng khác gì hoa đốm giữa hư không. Hoa đốm nào, ở đâu" Ở ngay trước mắt. Mắt bệnh, mắt nhòa, mắt nổ đom đóm… sẽ thấy hoa ấy nở giữa hư không. Hư không hoa, chẳng phải hoa nào xuất hiện hay được rải từ hư không, từ thiên giới, mà chính là hoa nở từ trong mắt. Phát xuất từ nhãn quan, mà trình hiện nơi không giới. Cái đẹp của hoa ấy không giống các loài hoa của trần thế, nhưng tên nó, hư không hoa, đọc lên nghe hay và thi vị làm sao! Cái đẹp của nó không chỉ ở cái tên, mà còn ở nơi tính chất không thực, bất định, khó nắm bắt, không phải lúc nào muốn thấy thì sẽ thấy. Chính từ đây mà nghiệm ra vẻ lung linh muôn sắc tuyệt vời của hoa trần gian, hay của chính trần gian vô thường biến hoại. Người biết nhìn ra vẻ đẹp thực sự của hoa, là người thấy được tính cách vô thường của chúng.
Hoa nếu nở mãi không tàn, sẽ không quí, không đẹp. Phát tiết một thời để tàn rụi một thời, chính đó là vẻ đẹp mong manh mà huyền diệu của hoa, và của cuộc đời. Mọi thứ sẽ không sinh nếu không diệt. Mọi thứ sẽ không diệt, nếu không sinh. Chẳng có nhân nào mà không kết thành quả. Chẳng có quả nào mà không được kết thành bởi nhân và duyên. Chẳng có duyên nào không phải là nhân hay là quả của những duyên khác. Ý nghĩa nội hàm của nhân, duyên, và quả theo cách ấy, là tất cả mọi sự mọi vật đều không thể tự là nhân, là duyên, là quả cho chính nó hay cho bất cứ cái gì khác. Như vậy, một cái hoa, là kết quả của nhiều nhân duyên, mà đồng thời cũng không phải kết quả gì cả. Cũng không phải là nhân hay duyên gì cả. Bởi vì bản chất thực sự của nó là không bản chất riêng, không đặc tính. Nhờ không bản chất riêng mà nó được kết hợp và hình thành bởi muôn vàn cái gọi là nhân hay là duyên khác. Vì không bản chất riêng mà nó biến hoại, không thường hằng; mà cũng nhờ không bản chất riêng, nó vượt ra khỏi sự sinh diệt. Thế gian ly sinh diệt. Không có cái gì thực sự được sinh ra và bị mất đi. Cái gì đã hiện hữu, đang hiện hữu, hay chưa hiện hữu, đều biến hoại, mà đồng thời là không sinh, không diệt.
Nói theo Bát-nhã thì hoa không phải là hoa, mới chính là hoa. Và nói cho thi vị thì hoa, hay cả thế gian này, với tất cả những con người đáng yêu (hay không đáng yêu) này, đều là hư không hoa.
Trên những nhánh mai nhỏ khiêm nhường của mùa xuân năm nay, có những nụ hoa chưa kịp nở, có những hạt mầm của hoa chưa được gieo xuống. Nhưng kỳ thực thì nụ hoa đã là hoa, và hạt mầm cũng đã là hoa. Tình yêu, một khi xuất hiện, nó đi vào vô cùng.
Khai bút đầu năm Tân Mão 2011
Vĩnh Hảo

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.