Hôm nay,  

Bên Kia Cuộc Đời

06/04/201300:00:00(Xem: 6404)
Em ơi!
Anh đã xa em rồi...

Nghìn trùng xa cách, âm dương mỗi người mỗi ngả.

Mở đầu lá thư bằng tiếng vọng từ cõi hư vô, anh đã ở thế giới bên kia cuộc đời của em! Hai chữ “yêu dấu” không còn thích hợp với chúng ta... chỉ gợi lại thương đau cho nợ trần vừa dứt! Anh ra đi... một mình anh xa em bởi em vẫn còn đó, vẫn thở, vẫn giao thiệp với mọi người chung quanh. Một mình anh đi... hình hài nằm đây nhưng hồn đã lìa khỏi xác, lơ lửng trên không nhìn xuống căn phòng. Anh vẫn thấy em thon thả tiếp khách với nụ cười gượng gạo trong chiếc áo dài đen ngày tang lễ. Hồn anh nhận biết tất cả những người thân, đông đủ bạn đạo trong nhóm “từ bi phụng sự” của thầy Hằng Trường đồng phục áo cánh nâu đen. Bạn bè cũ mới khi sống ít gặp thế mà bây giờ cũng bùi ngùi đến tống biệt anh. Buồn nhất là nhìn các cháu quấn khăn trắng trên đầu lủi thủi đứng ôm chặt chân bố mẹ nhìn người qua lại trước quan tài. Vẻ mặt thơ ngây ngơ ngác như chưa rõ chuyện gì quan trọng lần đầu tiên trong đời đang sẩy ra mà bố mẹ nó khóc, bà khóc và nhiều người mắt cũng đỏ hoe.

Khi anh hấp hối và thở hơi cuối cùng thì thân anh nhẹ bổng, rớt vào giữa không trung như từ một đỉnh núi. Hiện tượng này làm anh chới với, hai tay cố chống đỡ trước khi hiểu mình đã chết, linh hồn vừa lìa khỏi xác đang bồng bềnh trong cõi vô định. Thực tại, anh vẫn “sống” bởi linh hồn còn “thổn thức” nhưng vì thân bất động nên sự tiếp cận với em bất thành. Đây chính là giây phút khởi đầu cho chuyến tầu tử sinh, anh cố quay lại để nói với em vài điều trước khi vĩnh viễn cách xa.

Em còn nhớ!
Khi chúng mình nằm bên nhau tâm tình...

Hằng đêm, anh vẫn hứa với em: “nếu ra đi trước, anh sẽ trở về kể em nghe có gì lạ bên kia cuộc đời nhất là lúc ấy anh có còn là anh và nhìn thấy em đang sống không?”

Nơi đây, giữa thiên hà sương khói trập trùng không có thiên đường và cả niết bàn, từ xa thấp thoáng những ánh sao, anh tạm thấy yên bề lẻ loi vì không ai đón chờ như chúng mình vẫn nghĩ! Anh còn nhìn thấy em bởi linh hồn chưa phai memory nhưng ngược lại em không cảm nhận được bóng dáng anh vì thân đã chết. Thế giới này mênh mông bất tận và chân trời biền biệt một mầu sẫm đen. Hồn anh sẽ từ từ trôi về nơi xa xăm vô định ấy! Chẳng biết khi đó có còn dịp để anh kể tiếp chuyện một cõi đi về cho em nghe?

Tưởng tượng như thân xác là khuôn hình chữ nhật, sống thì đứng, chết thì nằm. Khi lâm chung, để lại những “hạt dính líu” gọi là noãn hay tinh trùng do đó thân tiếp tục ở mãi trần gian. Phần hồn mang hình tròn bay lên cao cùng với memory vì thế người chết vẫn “sống” đầy đủ kỷ niệm tiếc thương... Memory là những phân tử hình tròn nhỏ bám vào hồn sẽ mất dần với thời gian để hồn trở lại “nhân vô tính”, phase cuối cùng khi nó mất hết memory theo lẽ biến đổi của đất trời.

Thân hình khối chữ nhật khi nằm xuống tan ra thành những thể nhỏ góc cạnh gọi là cát bụi và chỉ hồi sinh khi những “hạt dính líu” có duyên nợ đến với nhau để thân trở lại đời theo một vũ điệu nhịp nhàng. Linh hồn hình tròn “chờ đợi” ở cõi hư vô như hàng ngàn tỷ tinh tú trên bầu trời. Nếu em hỏi nguyên do nào liên kết thân với hồn thì quả thực dù đã chết anh cũng không có câu trả lời! Chỉ biết là khi thân bắt đầu tái sinh thì hồn này bay xuống nhập vào thân kia để thành sự sống. Bảo là Con tạo soay vần hoặc cách đây hàng tỷ năm trước, những hạt bụi tinh cầu chuyển đổi không ngừng tạo nên nguyên tố đầu tiên của sự sống rồi tiến hóa dần đến loài người thì mọi giả thuyết đều đúng cả. Vài trường hợp hồn còn sót memory mà sớm “bay” về trần thì thân mang theo ký ức chưa phai của kiếp trước về với kiếp này nhưng bình thường thì chỉ hồn “nhân vô tính” nhập thể. Anh đang đi từ từ về cõi hư vô ấy nên sẽ đến một lúc, hồn chỉ là hạt “nhân sắc không” trinh nguyên. Anh sẽ chẳng còn “thấy” em nữa lúc memory cạn dần... Hình hài đã tan thành cát bụi, chân dung em và kỷ niệm cũng phôi pha trước “bể không” vô tận... Đó chính là thời điểm chúng mình vĩnh viễn mất nhau!

Bây giờ anh hiểu... tất cả chuyện trần thế của vạn vật không thể mang theo lúc về trời. Chuyện đời ở lại và chuyện trên trời diễn tiến theo trật tự có sẵn. Vạn vật trên mọi hành tinh, không chỉ riêng con người trên trái đất đều có phần hồn và phần xác. Hồn người vì thế cũng có thể (?) nhập vào thân súc sinh hay cây cỏ mà con người đoán chừng chưa hiểu rõ căn nguyên. Khi thân và hồn hợp lại để thành sinh vật, cả hai phát triển tùy thuộc vào môi trường chung quanh như dân tộc, nhân tố, địa lý, triết lý v.vv... Con người tu luyện và học hỏi đến lúc lớn khôn, sinh linh ấy thông minh hay ngu đần, hiền lành hay gian ác... rồi từ đó trong cuộc sống gây ra những đau thương phiền toái hoặc hạnh phúc an vui. Tất cả chỉ là chuyện thế gian do con người tạo nên và đến lúc chết phải mang theo memory cực lạc hay tiếc nuối... Chỉ có thế thôi! Một trong những mục tiêu của tôn giáo là mang lại cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp hơn cho con người nhưng dù sao vẫn phải tôn trọng sự thật của vũ trụ. Albert Einstein đã nói: “Tôn giáo phải dựa trên thực chứng (based on experience) và từ bỏ tính cách giáo điều (refuses dogmatic)”.

Nói đến giáo điều thì anh phải thêm vài lời để dặn dò em trước khi giã từ. Hãy sống giản dị và thân ái trong mọi hoàn cảnh, tránh mọi cầu kỳ và phô trương bởi vì tang lễ của anh đã diễn tiến theo một chương trình chủ lễ của Thầy thật phức tạp: Nói 3 thứ tiếng, đọc 3 chú, hành lễ đủ 3 tờ 6 trang giấy rồi hát xướng thi ca thật lâu trước khi vẩy cả “nước thánh” lên thân xác anh đã khô hơn một tuần vì chờ ngày tốt để hỏa thiêu.

Thôi nhé! Chúc em an lạc trên đường đời còn lại và anh mong sẽ trở lại thăm em mỗi khi có dịp kể cả trong giấc mơ lúc em ngủ.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.