Hôm nay,  

Tin Nghe Được Không Vui

04/06/201300:00:00(Xem: 14486)
Trong những tuần lễ thứ 19, 20, 21 của tháng 5 năm 2013, nghe tin trên các đài RFA, RFI tiếng Việt, chúng ta là người đã vượt biển tìm tự do từ sau 30-04-1975 và mãi đến thập kỷ 1990 mới tạm chấm dứt khi các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á đóng cửa, và tình trạng những người vượt biển tìm tự do Việt Nam chỉ chấm dứt khi cộng sản Liên Xô sụp đổ vào những năm ở cuối thế kỷ 20. Ngày nay 38 năm sau vẫn còn có những chuyến hải hành tìm tự do cũng xuất phát từ Việt Nam, và họ đã tìm đường đi thật xa tới thẳng nước Úc, vì biết rằng các quốc gia như Thái,Indonesia, Malaysia,Phi không nơi nào còn trại tỵ nạn cho họ trú chân, họ đến Úc để hy vọng họ được cứu vớt.

Nhưng quốc gia Úc đã từ chối tiếp nhận họ và nhốt họ vào các trại tạm giam để chờ phân loại xem họ có thực sự là người tỵ nạn hay không? Là thân phận những người đã vượt biển trong tình trạnh trốn thoát, thiếu thốn, tìm đường ra đi tìm tự do thủa nào; vết thương vẫn còn rướm máu vì tù đầy khi bị bắt bớ trở lại, khi thiếu dầu, thiếu nhớt, thiếu nước uống và lương thực; khi thuyền bị hỏng máy lâm nạn trên biển, khi gặp hải tặc, khi bị hãm hiếp, khi bị giết, bị thảy xuống biển, khi kiệt sức và mỏi mệt vì nhiều ngày lênh đênh trên biển, xin cứu vớt mà những chuyến tàu cứ thản nhiên bỏ đi (xin mời đọc Chuyện kể Hành Trình Biển Đông của Ngụy Vũ), để nhớ lại; những vết thương lòng đó ngày nay vẫn còn rỉ máu vì mất con, mất chồng, mất cha, mất mẹ, mất anh, mất em, mất bạn, mất người thân trong chuyến hải hành trốn thoát mà mình còn may mắt sống sót trong chuyến vượt biên.

Nay nghe được tin như sống lại cảnh ấy, ngày ấy. Bởi là người không phải là sắt là đá, cho nên người viết không thể im lặng dù khi viết ra có mất lòng nhau cũng viết, để thế giới quan tâm và đừng ngoảnh mặt đi khi những người đang bị các chế độ độc tài, nhất là độc tài Cộng Sản Việt Nam. Cứu xét hoàn cảnh của họ khi phải bỏ nước, bỏ các chế độ độc tài mà trốn thoát tìm tự do ở những nơi có tự do, có nhân quyền thật.

1- Tạ ơn.

Vì là người tỵ nạn Việt Nam, mỗi lần có dịp nghe tới, nhắc tới, nhớ tới, lòng người viết lại bùi ngùi xúc động nhớ và biết ơn đến người thuyền trưởng và các thủy thủa đoàn của ông, đã thương mà cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn giữa biển đông ngày nào cách nay trên 30 năm, đưa vào trại tỵ nạn Singapore. Có đi vượt biên mới cảm thông được nỗi lòng của kẻ vượt thoát ra đi tìm tự do, mới cảm nhận được nỗi khốn khổ của những ngày phải ngồi bó gối trong hầm tàu nóng bức trong khi biển khơi thì lộng gió, nước uống thức ăn tiếp từng giọt, từng miếng khi đã khởi hành lâu ngày mà chưa đến bến, hay chưa được cứu trên biển. Đó là chưa kể đến gặp cướp biển Thái, hay tàu bị hỏng máy, bị bể thuyền, trôi lênh đênh nhiều ngày trên biển, có những chuyến đã phải xẻ thịt những người bị chết để lấy lương thực ăn, và lấy máu để uống vì quá đói và quá khát. Những lúc nguy cấp này chỉ còn chọn giữa hai sự sống và sự chết. Thực vậy, người viết khi vào đến trại tỵ nạn Singapor mấy ngày sau mà mỗi lần đi ở trong đất trại nó vẫn còn bồng bềnh như lúc còn ở trên tàu vượt biên trên biển. Phải cả tuần sau mới hoàn lại bình phục, mới biết mình còn sống và đến được vùng trời tự do.

Tạ ơn những người cứu vớt người tỵ nạn trên biển. Ta còn phải tạ ơn những quốc gia đang có trại tỵ nạn ở trên đó như: Thái, Indonesia, Hồng Kông, Singapore, Phi Luật Tân, vì những trại này là chỗ chứa chân, cho người tỵ nạn Việt Nam tạm dung thân đầu tiên để chờ làm thủ tục đi định cư ở các quốc gia khác. Tạ ơn Cao Ủy tỵ nạn, các người hảo tâm đã bỏ của, bỏ công tình nguyện làm việc để vận động thế giới rủ lòng thương người tỵ nạn Việt Nam vượt đại dương đi tìm tự do. Không có những tấm lòng ấy thì không có người tỵ nạn Việt Nam. Không có những tấm lòng ấy thì còn vô số người bị chết chìm giữa biển khơi, mà con số ước lượng của Cao Ủy Tỵ Nạn không phải là khoảng 500.000 mà có khi đến trên 1.000.000 người bị chết chìm giữa biển khơi. Cho nên người đi vượt biên ngày đó đời đời nhớ đến các vị ân nhân đó, nhờ họ mà ta có sự sống như ngày hôm nay.

2- Xin một ơn huệ.

Xin các nước tự do tư bản nhận các người tỵ nạn Việt Nam bằng thuyền hay bằng bất cứ một phương tiện nào mà đến được đất nước có tự do của quý vị, không chỉ người Việt Nam mà thôi, mà tất cả những dân tộc khác, những dân tộc còn đang bị áp bức dưới các chế độ độc tài. Xin hãy cứu xét tỷ mỉ hoàn cảnh tỵ nạn của họ, đừng trả họ về nếu họ về mà bị áp bức, tù đầy.

Cũng xin cứu xét lại những người được nhận là tỵ nạn chính trị thủa trước, dù họ là Việt Nam hay các dân tộc khác, mà lúc ra đi tìm tự do đã trên 21 tuổi (không kể những người đi theo diện đoàn tụ gia đình) mà khi họ đã trở về quê hương đất nước họ nhiều lần không bị bắt bớ hành hạ, những người đã về và làm ăn hợp tác với cái chính quyền mà thủa trước chính họ đã trốn thoát ra đi. Xin trả ngay họ về để lấy nhà lấy chỗ nhận những người khác, vì con, cháu chúng tôi khi đi làm phải đóng thuế để xây dựng xã hội, duy trì đới sống an sinh xã hội của quý quốc gia đã tiếp nhận và cho phét chúng tôi tới định cư ngày trước.

3- Tránh xa sự lừa đảo của CSVN lần nữa.

Như mọi người đã biết, Cộng Sản mới có mặt trên địa cầu khoảng 100 năm, đã tàn sát dã man khoảng 100.000.000 người bằng đủ các hình thức, từ năm 1989 khi Cộng Sản Liên Xô sụp xuống, kéo theo cả một hệ thống các nước bị theo chủ nghĩa này bằng bạo lực, chỉ còn lại vài nước hậu thân của Cộng Sản là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn và Cu ba. Những nước này chỉ còn lý tưởng Cộng Sản theo hình thức, chỉ còn cái vỏ bên ngoài, vì CS nguyên thủy không có CS đỏ, không có CS có hàng tỷ đô la. Nhưng bên trong đã chuyển sang các chế độ độc tài quân phiệt và cảnh sát phiệt, chuyên môn bưng bít và lưà dối người dân ở trong nước bằng đủ mọi mánh khóe lừa gạt, và lừa gạt cả thế giới tự do về tự do dân chủ. Đảng cộng sản Việt Nam là hậu thân của đảng cộng sản Liên Xô, được đem vào Việt Nam do Hồ Chí Minh từ những năm 1930, suốt 80 năm qua, dân Việt Nam toàn được ăn bánh vẽ, toàn bị lừa, hết bị lừa lớn đến bị lừa nhỏ, đến nỗi ngày 30-04-1975 dân Việt cả Nam lẫn Bắc thấy rõ bị lừa, đã tìm cách trốn thoát đến tận các các nước tự do tư bản ở trời Âu mà Cộng Sản Việt Nam vẫn lừa, bằng cách đem nghị quyết 36 ra để lừa gạt những người đã trốn thoát nó. Gây phân tán, chia rẽ cộng đồng Việt Nam tỵ nạn ở hải ngoại. Chuyên dùng xảo ngôn để lừa gạt: lúc trốn thoát bị bắt lại thì quy tội phản quốc, được nước thứ ba cho định cư xong trở về thì trở thành “việt kiều yêu quái hay là yêu nước”; người mang tội phản quốc ngày nào, chạy theo “Mỹ, Ngụy” theo tàn dư rác rưởi của Mỹ, Ngụy ngày nào mà khi trở về lại là: “khúc ruột ngàn dặm” hay khúc ruột thừa mà có đô la.

Cộng Sản đã dùng xảo ngôn mà lừa người Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác:

Thủa đầu mới đem chủ nghĩa Marx- Lenin về đất nước thì lừa những người yêu nước thời đó, những kẻ đã đem tiền của vàng bạc nuôi cộng sản thì cộng sản đem ra đấu tố giết sạch trong cải cách ruộng đất. Những đảng phái yêu nước khác tư tưởng của Hồ Chí Minh thì bằng mọi cách chúng tiêu diệt hết, chỉ những người đã nhận ra bộ mặt thực của CS hay sớm nhận ra thì mới tìm đường trốn thoát khỏi vòng tay kiềm tỏa của chúng như Vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm v. v. . . Ngày 02-09-1945 cũng nhờ lừa khéo mà có cơ hội tuyến bố độc lập tại vườn Hoa Ba Đình ở Hà Nội. Tháng 7-năm 1954 Hiệp định Paris ký kết để chia đôi đất nước, cũng toàn do ngưới nước ngoài chủ động. Từ vĩ tuyến 17 trở ra theo chủ nghĩa cộng sản do HCM lãnh đạo, từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam đi theo chủ nghĩa tư bản do thủ tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo, có đến khoảng một triệu người bỏ miền Bắc nơi chôn nhau cắt rốn di cư vào Nam theo chế độ tự do. Đời sống của miến Nam từ 1954 đến 30-04-1975 được tự do và phú túc.

Nhưng khi chia đôi đất nước rồi, ở miền Bắc CSVN theo gương của CS Trung Cộng đánh tư sản mại bản, cải cách ruộng đất, giết sạch những người có công bỏ vàng bạc tiền của ra nuôi cách mạng thủa trước, biến miền Bắc trở nên nghèo xơ xác, chính sách hộ khẩu được triệt để áp dụng để vận động cả miền Bắc, nhất là giới trẻ để giải phóng miền Nam sau này. Thật họ đã bị lợi dụng, lừa bịp đến nỗi khi đến tuổi mà không đầu quân vào Nam thì không có hộ khẩu để mua lương thực, cha mẹ, gia đình cũng bị họa lây, nên mọi nhà có con thì đều phỉ đi vào lính để vào Nam gọi là đánh Mỹ Ngụy thực hiện chiến tranh giải phóng, giải phóng khỏi sự giầu có thịnh vượng của miền Nam cho nghèo đói như miền Bắc xã Hội chủ nghĩa, cho nên mới có ngày 30-04-1975.

Đường mòn Đường Trường Sơn đã giết bao nhiêu người trẻ ở miền Bắc, di chuyển bằng đường bộ, chết vì bệnh hoạn, chết vì B-52 bỏ bom. Có đọc những buổi liên hoan tiễn người yêu, tiễn con đi Nam hay nhật ký của Thùy Mai bị chết trên đường mòn HCM khi vào Nam mà một người quân nhân Mỹ xuất bản sau này thì mới thấm thía cái lừa của giới trẻ miền Bắc, nhất là khi thoát chết trên đường đi vào đến Nam, thấy được miền Nam trù phú mới bừng tỉnh như nhà văn Dương Thu Hương vào đến Sài Gòn sau ngày 30-04-1975.

Sau 38 năm gọi là thống nhất đất nước, chế độ tồn tại một phần nhờ tiền của nước ngoài, của người ra đi tỵ nạn sau ngày 30-04-1975, những người mà lúc ra đi bị chụp cho cái tội phản quốc. Từ những năm đầu và cho đến nay lừa mỗi năm lên đến khỏang 11 tỷ đô la. Đúng, CSVN là tên siêu lừa đảo, xứng đáng là đàn em của Cộng Sản Trung Cộng. Vì mức độ lừa đảo của CSVN hay như vậy, nên từ người già cả đã có nhiều năm kinh nghiệm sống với cộng sản, đã từ Bắc chạy vào Nam để xa lánh bọn CS, rồi từ Việt Nam vượt biên, vượt biển trốn qua Mỹ, qua các nước có tự do trốn Cộng sản mà vẫn bị lừa, nên mới đem tiền, đem của và về thăm cộng Sản Việt Nam.

Cộng Sản Việt Nam chẳng những lừa một cá nhân, một cộng đồng mà còn lừa cả những người đã từng lãnh đạo tinh thần cả một tập thể lớn chống cộng, về hợp tác với cộng sản, thì chúng ta rõ sở trường chuyên nghiệp của cộng sản Việt Nam lừa đảo tinh vi đến mức độ nào. Thực tế, chỉ cần những người Việt ở nước ngoài không bị lừa gạt, không bị CS dụ dỗ về thăm nhà, thăm quê, về để chết thì tự động chế độ sẽ tản hàng ngay không tiêu tốn một viên đạn. Chuyện đó chưa đến vì người Việt tỵ nạn ở hải ngoại vẫn còn bị CSVN lừa.

Đến bao giờ dân Việt Nam tôi hết bị lừa, và các thuyền nhân Việt Nam không còn trốn thoát ra đi đến bờ biển Úc nữa để tin nghe được không còn buồn./-

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.