Hôm nay,  

Trung Quốc Trăm Năm

09/08/201300:00:00(Xem: 8492)
Giấc mơ và Ác mộng trong Tiềm thức Trung Hoa...

Sau khi lên lãnh đạo từ Đại hội 18, "thế hệ thứ năm" gồm những Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường của Bắc Kinh nói đến "Trung Quốc Mộng" qua một mớ khẩu hiệu được truyền thông Hoa Kỳ mau mắn phổ biến và bình luận.

Giấc mơ phú cường của một quốc gia là chủ trương của mọi lãnh tụ vào mọi thời. Nhưng xây dựng các chế độ cộng sản thường là những nhà lập thuyết, họ nói nhiều, viết khoẻ và diễn giải mục tiêu phú cường dưới nhiều khía cạnh khác nhau để cho thấy rằng họ làm cái gì và thời nào cũng đúng. Từ Marx, Lenin, đến Stalin, Mao, Hồ và nhiều thế hệ nối tiếp đã có cả ngàn trang và triệu chữ về cuộc cách mạng sẽ biến giấc mơ thành hiện thực. Bên trong, người ta có thể thấy ra nhiều mâu thuẫn xuất phát từ các chiến lược được áp dụng trong từng giai đoạn.

Thí dụ cụ thể là giấc mơ của Đặng Tiểu Bình có khác với kỳ vọng và thành tích sát nhân của Mao Trạch Đông, hoặc sự nghiệp "đổi mới" để làm khác những gì mà Hồ Chí Minh đã áp dụng vẫn nằm trong dòng "tư tưởng Hồ Chí Minh"! Và củng cố chế độ tư bản nhà nước theo kiểu Bắc Kinh hiện đại chính là con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc, dưới màu sắc Trung Hoa....

Khi Tập Cận Bình mơ ước xây dựng một xã hội trung lưu vào năm 2020 để kỷ niệm trăm năm thành lập đảng Cộng sản Trung Hoa (1921), với lợi tức đồng niên của một người dân sẽ lên tới 10 ngàn đô la, chúng ta nhớ rằng hiện nay, lợi tức trung bình của một người dân ở Đài Loan đã gấp đôi số đó. Khi họ Tập mơ ước đưa Trung Quốc từ trình độ "đang phát triển" lên trình độ "đã phát triển" vào năm 2049 để kỷ niệm trăm năm ngày thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, ta nhớ rằng Nhật Bản đã công nghiệp hoá từ trăm năm trước. Hoặc Nam Hàn hay Đài Loan ngày nay là hai nước "đã phát triển" mà chẳng phải giết người vì bước nhảy vọt vĩ đại kiểu Mao....

Chúng ta khó thi đua tranh cãi hay diễn giải lý luận của các lãnh tụ mà nên lùi lại và nhìn từ xa hơn: ngay trong tiềm thức lâu dài của một quốc gia, đâu là những động lực chi phối quyết định của lãnh đạo? Vì thế, sau loạt bài về ngàn năm của Trung Quốc, kỳ này xin nói chuyện trăm năm. Từ cuộc "Cách mạng Tân Hợi" năm 1911 cho đến hiện tại và giấc mơ của Tập Cận Bình....

Nếu có thể tóm lược dù rằng không dễ thì trăm năm qua, Trung Quốc có hai cuộc cách mạng.

Sau mấy trăm năm bị dị tộc cai trị trong ngàn năm đầy mặc cảm, Hán tộc vùng dậy qua hai cuộc cách mạng này, với nhiều việc làm nhẹ ra thì gọi là cũng đáng trách mà một số người trong chúng ta vẫn cứ xem là mẫu mực!

Cuộc cách mạng thứ nhất chấm dứt chế độ quân chủ và Đế chế Trung Hoa để lập ra chế độ Cộng hoà mà họ gọi là Dân quốc. Đấy là biến cố 1911 với kết quả đẹp nhất được thu gọn vào Đài Loan. Cuộc cách mạng thứ hai ăm 1949 thì dựng chế độ Cộng sản và... tái lập Đế chế Trung Hoa xuất hiện từ thời đại của Tần Thủy Hoàng Đế vào năm -221 (trước Công nguyên).

Trong các thế kỷ ngoại thuộc, Hán tộc có đấu tranh cho độc lập qua các phong trào như Bạch Liên giáo và vụ khởi nghĩa Hồng Cân nổi lên từ thời Nguyên Mông vào thế kỷ 14. Nối tiếp là một chuỗi hội kín như Thiên Địa hội, Hồng Hoa hội hay Nghĩa Hòa đoàn, v.v... vào đời Thanh. Hiện tượng hội kín ấy dễ đưa tới tình trạng tâm thần phân liệt zchizophrenia vì thực giả bất minh, dối trá là biểu hiện của khôn ngoan sáng suốt.

Sau đó là Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) vào cuối thể kỷ 19 lập ra Hưng Trung hội và Đồng Minh hội với chủ trương ba điểm, theo thứ tự là 1) lật đổ nhà Mãn Thanh, 2) giành quyền tự chủ cho người Hán và 3) thiết lập chế độ cộng hoà. Phong trào chưa có kết quả ban đầu cho đến khi trí thức tham gia, đa số là sinh viên du học bên Nhật nhờ chính sách cải tổ giáo dục của... nhà Thanh. Nhưng phong trào tập trung vào đối tượng cần đả phá là Mãn Thanh và vì nhà Minh chẳng còn đại diện chính thống, họ mới nói đến nền cộng hoà.

Chủ điểm chưa là xây dựng dân chủ mà mới chỉ là diệt Thanh sùng Hán.

Thế rồi nỗi căm phẫn với Thanh triều bùng nổ, dẫn đến việc tàn sát Mãn tộc trong cái trớn cách mạng vào năm 1911, và chủ nghĩa sùng Hán với tinh thần kỳ thị các sắc tộc khác lại được đề cao. Hãy nhớ đến cách Tôn Trung Sơn miệt thị Việt Nam với các nhà cách mạng của ta vào thời ấy thì rõ! Ta cũng chẳng quên là khi Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch qua Đài Loan thì cũng đã mở màn bằng tàn sát dân bản địa vào Tháng Hai năm 1947, và chỉ coi trọng lớp người từ Hoa lục mà họ cho là người Hán thật.

Cho nên cuộc cách mạng năm 1911 có màu sắc thanh tẩy chủng tộc hơn là đổi đời để xây dựng một chế độ cai trị tốt đẹp hơn. Nó cũng giải thích vì sao thể chế liên bang cho một xứ đa chủng lại khó thành hình.

Từ đó, xin ngẫm về chuyện hiện đại và ký ức tập thể:

Lịch sử cận đại của Trung Quốc cứ nói đến vụ "Cưỡng bức Nam Kinh" (The Rape of Nanjing) của người Nhật vào năm 1937 mà quên vụ thảm sát Nam Kinh vào Tháng 12 năm 1911, khi mọi gia đình người Mãn đều bị giết sạch, dù là tiến bộ hay phản động đều chết. Trước đấy vào Tháng 10 đã có vụ tàn sát tại Vũ Xương trong cuộc khởi nghĩa ở đó.

Kết quả là vài con số: Cuối đời Thanh, dân số Trung Quốc ở vào khoảng 300 triệu, từ 1 đến 3% là người Mãn, tức là có từ ba đến chín triệu dân. Ngày nay số người thuộc Mãn tộc chỉ còn là 10 triệu trong một tỷ 350 triệu dân, tức là trong trăm năm qua dân số không tăng, chỉ vì họ đổi tên đổi họ thành người Hán để khỏi bị sát hại. Ngay trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Mao (1967-1976) nhiều người Mãn bị đàn áp vì tội danh là "gián điệp". Năm 2007, chỉ còn chừng 100 người biết nói tiếng Mãn và ngày nay, người Hán vẫn gọi người Mãn là "bọn Do Thái của Trung Quốc". Nếu có nói đến một vụ thanh tẩy chủng tộc hay ethnic cleansing thì không sai.

Những chuyện xa xôi ấy cho thấy giấc mơ Trung Quốc nhiều khi là cơn ác mộng cho các sắc tộc khác: chuyện Tân Cương và Tây Tạng ngày nay chỉ là tái diễn tinh vi hơn.

Trung Hoa Dân Quốc ra đời ngày đầu năm 1912 với Tôn Dật Tiên làm Tổng thống hờ được có một tháng là nhường chức cho một tay đại gian hùng và cực lưu manh là Viên Thế Khải, một ông tướng đệ nhất công thần của triều Mãn Thanh có tham vọng lên làm Hoàng đế. Sau đó Tôn Dật Tiên mới hợp nhất Trung Quốc Đồng Minh hội với các nhóm cách mạng khác thành Trung Hoa Quốc Dân Đảng, khi Trung Quốc trôi vào nội loạn với các lãnh chúa mọc như nấm.

Chúng ta đều hiểu rằng nhiều cuộc cách mạng đã xuất hiện như vậy, với kết quả trái ngược, và thí dụ chói lọi mà cũng là tấm gương cho các đồ tể của cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

Lãnh đạo của Bắc Kinh thời nay đều biết và nhớ chuyện đó khiến ta phải suy ngẫm về cuộc cách mạng thứ hai.

Tháng 10 năm 2011, họ cho tổ chức rầm rộ sinh hoạt kỷ niệm trăm năm của cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 và còn cho dựng chân dung Tôn Trung Sơn tại quảng trường Thiên An Môn. Họ cho thần dân ăn mừng biến cố cách mạng là sự kết thúc của chế độ quân chủ, khởi đi từ Tần Thủy Hoàng, thần tượng của Mao Trạch Đông, được phim ảnh Hoa lục và những Trương Nghệ Mưu hay Trần Khải Ca làm phim ca tụng....

Nhưng ngay sau đó, Bắc Kinh nghĩ lại và tắt đèn!

Thứ nhất, vở nhạc kịch ngợi ca cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Trung Sơn bỗng dưng bị hủy. Lý cớ được thông báo là vì hậu cần, tiếp vận. Thứ hai và ly kỳ hơn vậy, cuộc hội thảo do các học giả Nhật Bản chuẩn bị từ nhiều tháng trước về cuộc Cách mạng Tân Hợi cũng bị cấm, mà không cho biết lý cớ. Lý do thì ta có thể đoán ra, nếu chịu khó nhìn vào trăm năm lịch sử đó.

Ban đầu, nhà cách mạng Tôn Dật Tiên chưa muốn lập Quốc hội và chỉ làm Tổng thống là bị cướp mất quyền hành, xứ sở lâm nội loạn triền miên với vai trò của các sứ quân lãnh chúa. Trong cảnh hỗn loạn ấy duy nhất có một yếu tố xứng danh cách mạng là trào lưu tự do tư tưởng và khuynh hướng lập hội lập đảng để canh tân xã hội.

Ngày nay, khi nói đến sự nghiệp cách mạng Tôn Dật Tiên, Bắc Kinh giải thích và giải quyết thế nào về trào lưu tự do tư tưởng của xã hội Trung Quốc cách đây một thế kỷ? Giải thích thế nào về chế độ kiểm duyệt thông tin và đàn áp dân chủ hiện vẫn áp dụng trên toàn quốc? Giấc mơ Trung Quốc vẫn là ác mộng và bị giới trẻ vượt bức tường lửa vào không gian điện toán để chế diễu tưng bừng!

Lý do thứ ba, Tôn Dật Tiên là người thí thức Công giáo, có hậu cứ vận động từ hải ngoại là Hoa Kỳ và nhiều lần tìm nguồn yểm trợ tại Nhật Bản, một quốc gia phú cường, tiến bộ và tự do hơn Trung Quốc gấp bội. Nhật Bản còn là nước đại thắng trong cuộc chiến Hoa-Nhật năm 1894-1895, góp phần đáng kể cho sự sụp đổ của nhà Đại Thanh. Vì vậy mà Tháng 10 năm 2011, các học giả Nhật mới sốt sắng tổ chức cuộc hội thảo về Các mạng Tân Hợi và bị Bắc Kinh hạ màn!

Trong hoàn cảnh của ngày nay, nhắc đến Tôn Dật Tiên là lòi ra vai trò cách mạng hoặc diễn biến thiếu hoà bình của Hoa Kỳ và Nhật Bản.... Mà lý do không chỉ có vậy!

Sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh là niềm tự hào chính đáng của Hán tộc. Khi Mãn tộc tiêu diệt nhà Đại Minh năm 1644 thì đấy là nỗi nhục khó rửa cho người Hán vì vậy, "Phản Thanh - Phục Minh" là khẩu hiệu huy động nhiều thế hệ ái quốc là một chủ trương của Tôn Dật Tiên. Nhưng cũng dị tộc Mãn Thanh xấu xa tồi bại ấy đã bành trướng lãnh thổ, cho Bắc Kinh ngày nay có thể viện lẽ chính danh từ đời Thanh mà đòi thống trị Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, v.v....

Chẳng lẽ sau cuộc cách mạng 1949, chế độ Cộng sản Trung Quốc ưu việt mà kế thừa di sản Đế quốc của ngoại tộc Mãn Thanh sao? Huống hồ, kẻ kế thừa di sản Tôn Dật Tiên lại là Tưởng Giới Thạch! Sau khi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc được Mao thành lập ở Hoa lục thì Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Văn được Tưởng Giới Thạch đem qua Đài Loan. Đảo quốc mang tiếng là lãnh thổ ngàn đời của Trung Hoa lại gợi nhớ đến những tranh chấp về chủ quyền trên đảo Đài Loan từ đời Thanh. Mà hậu thân của cái gọi là "ngụy quyền" Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan ngày nay lại xây dựng được một nền kinh tế tiên tiến với một chế độ chính trị thật sự dân chủ của một quốc gia đã phát triển.

Từ cuộc cách mạng thứ nhì là Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, thì 30 năm đầu (1949-1979) là thời hoang tưởng chết người, một chuỗi dài các chiến dịch như "Đại dược tiến", "Bách hoa tề phóng" hay "Đại văn cách" khiến xứ này có sự ổn định của bãi tha ma trên xương máu của mấy chục triệu nạn nhân. Nhưng "về cơ bản thì Mao Chủ tịch vẫn là vĩ đại" với tỷ lệ đúng/sai là 70/30! Sau bốn năm đảo chính chậm rãi của Đặng Tiểu Bình, từ 1976 đến 1979, Trung Quốc mới có 30 năm nhảy vọt vĩ đại khiến Trung Quốc hy vọng tái xuất hiện như một cường quốc đáng nể.

Nhưng cũng kể từ năm 2009, kinh tế Trung Quốc trôi vào một bước ngoặt và ngày nay thì bắt đầu phải chuyển hướng mà chỉ sợ loạn trong khi đã vội gây hấn với nhiều xứ khác.

Truyền thông Hoa Kỳ cứ ưa tìm hiểu và ngợi ca thành quả hay giấc mơ Trung Quốc mà quên rằng khi Tập Cận Bình nói đến giấc mơ này thì cũng là lúc Trung ương đảng ra chỉ thị về bảy điều cấm không được giảng dạy trong các đại học – cho các thanh niên đã trưởng thành (xin đọc lại bài "Thất Bất Giảng" trên cột báo này từ hồi Tháng Năm).

Số là Văn phòng Biện Công Sảnh của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa ra một chỉ thị được lặng lẽ phổ biến cho các đại học. Bộ phận lo công việc thường vụ của bộ Chính trị và ban Chấp hành Trung ương, kể cả việc ban hành chỉ thị từ trung ương xuống các cấp bộ ở dưới, ra chỉ thị về bảy điều không được bàn cãi giảng giải. Đó là 1) Các giá trị phổ cập trên hoàn vũ, "universal values"; 2) quyền tự do báo chí; 3) "xã hội dân sự" hay "civil society"; 4) dân quyền; 5) về những sai lầm của đảng trong lịch sử; 6) không được nhắc đến "mạng lưới thân tộc" của con cháu các đảng viên cao cấp; và 7) quyền tư pháp độc lập....

Bước vào thế kỷ 21, khi nhân loại nói đến cách mạng tín học và kinh tế tri thức với động lực là khả năng phê phán để phát huy quyền tự do sáng tạo, mà lãnh đạo Bắc Kinh còn tụt hậu so với tư tưởng khai phóng được Tôn Dật Tiên và thanh niên trí thức đề cao từ trăm năm trước thì giấc mơ Trung Quốc vẫn là cơn ác mộng.

Nực cười thay, hình ảnh một tỷ con kiến vẫn theo bầy kiến chúa bò quanh miệng chén....

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.