Hôm nay,  

Nguy Cơ Giảm Phát

29/10/201400:00:00(Xem: 7436)

Hậu quả sẽ là khủng hoảng tài chính ngân hàng dẫn tới việc doanh nghiệp phá sản dây chuyền...

Không chỉ tại Nhật Bản và Âu Châu, nhiều khối kinh tế trên thế giới đang bắt đầu nói đến một nguy cơ khác, là nạn giảm phát, một hiện tượng trái ngược với lạm phát với ảnh hưởng tệ hại không kém. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về hiện tượng đó qua những phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả nghe Vũ Hoàng nêu vấn đề.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Từ vài tuần nay, dường như giới quan sát kinh tế bỡ ngỡ vì cùng lúc lại xảy ra nhiều hiện tượng trái ngược mà thính giả của chúng ta cần được giải thích. Thưa ông, trước hết là việc dầu thô sụt giá mạnh trên thế giới, trong vài tuần đã giảm khoảng 30 đô la một thùng. Khi năng lượng hạ giá thì phí tổn sản xuất cũng giảm nên có thể là điều tốt cho giới tiêu thụ vì họ thừa tiền mua cái khác và giúp cho sản xuất kinh tế. Nhưng không chỉ có dầu thô sụt giá mà nhiều mặt hàng khác cũng thế nên người ta bắt đầu nói đến một mối nguy khác, đó là nạn thiểu phát hay giảm phát, là điều đã xảy ra cho kinh tế Nhật Bản và đang xảy ra tại nhiều nước Âu Châu. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích cho hiện tượng đó là gì.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, ta nên chú ý tới định nghĩa, xem một hiện tượng nào đó là cái gì và trong phạm vi đó thì còn phải nhớ rằng ngôn từ của chúng ta có giới hạn nên thường xuyên phải tìm ra những từ mới, trước đây chưa hoặc là ít dùng. Tôi xin đề nghị vài định nghỉa như sau:

- Trong một giai đoạn khá lâu tới mấy chục năm, ta nghe nói đến "lạm phát" là khi vật giá gia tăng vì có quá nhiều tiền để mua quá ít hàng. Tại Việt Nam, giới lãnh đạo kinh tế thời đó không có kiến thức tối thiểu về kinh tế học nên lý luận rằng "lạm phát là hiện tượng đặc thù của tư bản chủ nghĩa" chứ kinh tế xã hội chủ nghĩa không bị lạm phát. Sự hiểu lầm này vẫn chưa chấm dứt cho đến khi Việt Nam bị khủng hoảng vì lạm phát tới 700% sau những sai lầm về chính sách "giá lương tiền" vào các năm 1986-1987. Hai chục năm sau, Việt Nam lại có lần bị lạm phát nữa khi vật giá gia tăng quá 20% vào năm 2008 vì sai lầm trong quản lý vĩ mô. Nói chung, nỗi e sợ về nạn lạm phát là hiện tượng phổ biến đã từng làm nhiều chế độ sụp đổ khiến người ta quên mất một hiện tượng trái ngược. Đó là "giảm phát", một mối nguy cũng đã từng xảy ra.

- Về định nghịa, "giảm phát" hay "deflation" là khi hàng hóa giảm giá mà vẫn bán không chạy và là biểu hiện của nạn suy thoái kinh tế với tình trạng thất nghiệp cao và doanh nghiệp phá sản.

Vũ Hoàng: Thưa ông, ở trong nước, nhiều người cũng dùng chữ "thiểu phát" thì đấy có là cùng một hiện tượng không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng ngôn ngữ chỉ là quy ước, và mỗi khi gặp một hiện tượng gì mới trên thế giới được các nước khác đặt tên rồi thì ta mới tìm cách phiên dịch sao cho đúng và dễ hiểu rồi từ đó sẽ được chấp nhận. Tôi cứ hay nói đùa rằng đó là "có mặt thì đặt tên".

- Chữ "inflation" thì ai cũng đã quen dịch thành "lạm phát". Nhưng khi vật giá tăng chậm hơn thì ta có thể gọi là "dis-inflation", hoặc như tờ The Economist của Anh vừa bày ra một từ mới vào tuần qua là "lowflation". Nội dung có nghĩa là giá cả có tăng mà tăng chậm hơn tiêu chí hay dự báo. Gặp trường hợp đó, tôi nghĩ là chữ "thiểu phát" có thể là một từ thích hợp với hàm ý "thiểu" là ít hơn. Nhưng khi giá cả không tăng, dù là nhanh hay chậm hơn trước, mà lại giảm tức là bị hiện tượng "deflation", thì nên dùng từ "giảm phát" mà ta đã có từ trước 1975, và chính xác hơn.

Vũ Hoàng: Với quy ước này rồi thì ta qua phần nội dung để tìm hiểu vì sao lại có rủi ro giảm phát như giới phân tích kinh tế đang báo động. Ông giải thích thế nào về hiện tượng đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vừa rồi, ông nhắc đến giá dầu thô đã sụt mạnh. Tôi xin mở ra nhiều mặt hàng khác gọi chung là "thương phẩm" hay "commodity" mà Việt Nam cứ mơ hồ dịch sai thành "hàng hóa". "Commodity" là các loại nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất như xăng dầu, kim loại như đồng thau, quặng sắt, nông sản như ngũ cốc, đậu tương, nước cam, v.v... được thị trường buôn bán với nhau dưới dạng rời hay để xá. Thề rồi, ngoài dầu thô, người ta còn nghiệm thấy hiện tượng chung là từ ít lâu nay các thương phẩm trên thế giới đều sụt giá mạnh.

- Lý do là số cung thì vẫn tăng mà số cầu lại giảm. Số cầu sở dĩ giảm vì kinh tế nhiều nơi trì trệ, đầu tư không tăng, tiểu biểu là trường hợp kinh tế Trung Quốc, một xứ đói ăn và khát dầu và thèm nguyên liệu mà nay bị tồn kho ế ẩm. Từ nhiều năm qua, diễn đàn này của chúng ta có cảnh báo hiện tượng thương phẩm sụt giá vì Trung Quốc làm các nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu như Úc hay Brazil đều bị thiệt hại. Điển hình là giá quặng sắt sụt rất mạnh, có khi chỉ còn 50 đô la một tấn, việc ấy khiến ta nhớ đến hai tai họa song hành của dự án bô xít tại Tây nguyên!

Vũ Hoàng: Thưa ông, vì sao vật giá đã sụt mà vẫn bán không chạy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thấy ra hiện tượng "vòng luẩn quẩn" theo thế biện chứng hay "tương hằng", là tự nuôi nhau trong một vòng xoáy đi xuống, ngày một nhanh và một sâu hơn.


- Khi thấy hàng hóa hạ giá liên tục thì ta có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để được giá rẻ hơn. Nhà tiêu thù mà chần chờ như vậy thì ở đầu kia nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và cần trả nợ nên phải cố bán tháo, là bán còn rẻ hơn nữa, nên càng khiến nhà tiêu thụ thấy mình có lý. Và hai bên từ từ dìm nhau xuống vực vì nhà tiêu thụ mặt hàng này có thể là nhà sản xuất mặt hàng khác. Kết quả là kinh tế không bị suy trầm, là tăng trưởng thấp hơn, mà bị suy thoái, là không tăng mà còn giảm. Hậu quả là doanh nghiệp sa thải nhân viên làm thất nghiệp tăng rồi vỡ nợ vì không thể trả các khoản nợ đáo hạn và sau đó phá sản, dẫn tới khủng hoảng vì ngân hàng mất nợ. Hiện tượng giảm phát dây chuyền đầy kinh hoàng như vậy đã xảy ra trong vụ Tổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào những năm 1929-1933.

Vũ Hoàng: Trở lại chuyện thực tế ngày nay thì vì sao sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Hoa Kỳ, rồi Tổng suy trầm toàn cầu vào các năm 2008-2009, các nước trên thế giới đều có nhiều biện pháp kích thích kinh tế mà tình hình lại có vẻ u ám như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng ban đầu chỉ là sự trùng hợp vì tai họa xảy ra cho từng khu vực, nhưng vì kinh tế thế giới đã đi vào trạng thái "nhất thể hóa" hay "toàn cầu hóa", cho nên tác động dây chuyền đã cùng xảy ra cũng theo kiểu vòng xoáy đi xuống.

- Trước hết, kinh tế Nhật Bản đã từng bị suy trầm và giảm phát khá lâu trong gần hai chục năm liền và mới chỉ có những biện pháp thoát hiểm khá táo bạo từ hai năm nay và chưa có kết quả. Sau đó, khối Euro lại bị khủng hoảng từ những năm 2009-2010 và tới nay chưa dứt khiến nhiều quốc gia bị nạn thiểu phát và các nước lâm nạn ở miền Nam thì thật sự bị giảm phát. Khác với Nhật Bản là một xứ thuần chủng và người dân giữ tinh thần ái quốc và kỷ luật là rau cháo có nhau để cùng hứng chịu tai họa, Âu Châu là một tập thể nhiều quốc gia buôn bán với bên ngoài. Khi mà khối kinh tế này bị suy trầm và không thể tiêu thụ hàng xuất khẩu của xứ khác thì các nền kinh tế trông chờ vào việc xuất khẩu đều bị họa lây, là trường hợp Brazil hay Trung Quốc. Ta nên nhớ xứ này vốn dĩ đã bị đình trệ với đà tăng trưởng thấp hơn và đang phải chuyển hướng.

- Trong năm năm qua, các quốc gia đều cố đối phó với bài toán đó qua các biện pháp kích thích như tăng chi, bơm tín dụng hoặc thậm chí in tiền cho các ngân hàng dư thanh khoản cho vay ra, vậy mà tình hình vẫn chẳng khá hơn. May lắm thì Hoa Kỳ là một ngoại lệ, mà vẫn chưa chắc!

Vũ Hoàng: Thưa ông, khi đó, người ta còn lo rằng việc ào ạt bơm tiền kích thích có khi lại gây ra lạm phát như trường hợp đã thấy tại Việt Nam. Thế thì vì sao thế giới không bị lạm phát mà nay lại lo sợ hiện tượng trái ngược là giảm phát?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả là ban đầu khi thấy tiền nhiều và rẻ được bơm ra thì ai cũng sợ rủi ro lạm phát. Nhưng tiền bơm ra lại không đẩy mạnh đầu tư và ngân hàng dư thanh khoản cũng thiếu người vay để đưa vào sản xuất nên đem tiền mua trái phiếu kiếm lời. Lý do chính thì có thể là vì thị trường hay các nhà đầu tư sản xuất vẫn chưa thấy tin tưởng và đấy là một lý do thuộc về chính trị của các chính quyền lâm nạn. Khi tình hình thiếu sáng sủa như vậy thì bình thường ra, các ngân hàng trung ương đã có thể áp dụng biện pháp tiền tệ cố hữu là hạ lãi suất. Khốn nỗi, lãi suất các ngân hang trung ương Âu-Mỹ và cả Nhật Bản đều đã hạ tới sàn, là tiếp cận với số không nếu tính thêm lạm phát, cho nên người ta hết đất lùi hay sức bật.

- Cuối cùng thì hiện tượng suy trầm đã xảy ra, tức là đà tăng trưởng sản xuất cứ giảm dần mà vật giá lại không tăng. Riêng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc, chỉ số gia tăng giá tiêu dùng đều thấp hơn tiêu chí về lạm phát nên người ta mới lo sợ là sẽ thấy nạn giảm phát tái xuất hiện.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, rồi đây sự thể sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu nhớ lại từ đầu thì mình phải công nhận rằng các chính quyền và cả hệ thống ngân hàng trung ương của các cường quốc đều bị bất ngờ ngay từ đầu mà vì lý do chính trị, ít ai dám công nhận như vậy. Bây giờ, trước nguy cơ giảm phát tai hại này, các nước đều khó giải quyết vì tâm lý bất an và bi quan của thị trường. Những cuộc tranh luận đang bùng nổ về các giải pháp, thí dụ như giữa các nước cột trụ của Âu Châu là Đức, Pháp, Ý, hoặc trong Quốc hội Hoa Kỳ trước ngày bầu cử chỉ khiến người ta thêm âu lo về khả năng ứng phó của chính quyền.

- Trong khi đó và ta trở lại vấn đề chính của nhiều quốc gia đang phát triển, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, giai đoạn vừa qua lại là giai đoạn tích lũy nợ nần chẳng kém gì các nước Âu Châu. Trong môi trường lạm phát thì khách nợ có lời vì được trả tiền ít hơn. Trong cảnh giảm phát thì khách nợ chết kẹt vì phí tổn trả nợ sẽ tăng, tức là càng mắc nợ nhiều thì càng dễ vỡ nợ. Hậu quả sẽ là khủng hoảng tài chính ngân hàng dẫn tới việc doanh nghiệp phá sản dây chuyền và thất nghiệp tăng vọt. Xứ nào mà thiếu ổn định xã hội sẽ bị loạn trước tiên.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc phân tích này.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.