Hôm nay,  

Nguyễn Văn Sâm: Kim Vân Kiều Ca

15/10/201520:27:00(Xem: 9325)

C:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-001a.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-001b.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-002a.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-002b.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-003a.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-003b.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-004a.jpgC:\Users\samanh\Desktop\Phu_Tuy Kieu Phu\KVK Ca\KVK Ca _Nom\KVK Ca-004b.jpg


Phó phẩm của Đoạn Trường Tân Thanh
 
Kim Vân Kiều Ca
金 雲 翹 歌
xuất hiện vào hậu bán thế kỷ 19 ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh.

.
Nguyễn Văn Sâm (giới thiệu và phiên âm lần đầu tiên 2015)

.

Bản Kim Vân Kiều Ca 金雲翹歌 nầy (tác phẩm chép tay, Thư Viện Quốc Gia Hànội ký hiệu R560, trang 1-4) và bản Thúy Kiều Phú 翠翹賦 (tài liệu chép tay NVS sở hữu) cùng nhiều bài văn ngắn khác liên quan đến đề tài Thúy Kiều thể hiện ảnh hưởng sâu đậm của Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT) tới dân chúng miền Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Tôi gọi loại nầy là phó phẩm của Truyện Kiều. Kiều là tác phẩm có quá nhiều phó phẩm, Vịnh Kiều Tập Tự của Chu Mạnh Trinh, (chép chung trong sách Sãi Vãi, ký hiệu AB. 383) là một thí dụ nhỏ. Căn cứ trên số phó phẩm đó ta thấy rõ ràng giá trị của ĐTTT và thấy ngay ảnh hưởng vô vàng sâu đậm trong dân gian cũng như học giới của miến đất mới phía Nam. Về sau, mặc dầu có những phó phẩm bằng quốc ngữ như thơ Hoạn Thư Bắt Thuý Kiều, của Lê Hoằng Mưu hay Thúy Kiều Án (của ?, tiếc quá tôi đã quên tên tác giả) và những thơ vịnh Kiều khác mà nhà giáo Nguyễn Văn Y trước đây đã sưu tầm, nhưng ảnh hưởng không bằng hai bài văn Nôm nói trên.

Giải thích sự kiện Kim Vân Kiều Ca và Thúy Kiều Phú được chào đón nồng nhiệt ở miền Nam tôi cho rằng những từ ngữ Nam Kỳ Lục Tỉnh đã gây cảm giác trong lòng người đọc tương tợ như tâm trạng bàng hoàng xúc động của đứa con đi xa  lâu ngày nay trở lại làng quê, bồi hồi trước bụi tre đầu ngõ mà có lúc mình đã sợ ma, con đường đê gập ghềnh vẫn như xưa thấp thoáng những ngôi mộ ông bà làng nước, dòng nước nhỏ mình từng tắm bơi quậy nước khi chưa biết mắc cở, cái giếng làng tụ hội khi mới bắt đầu lớn… Tất cả hình ảnh trên nhờ những từ ngữ đặc thù kia mà các hoạt cảnh của quá khứ kéo trở về trong trí: nhà trò, một đò, mà tế Đạm Tiên, còn đương ngần ngại, ông già mắc nạn, trên quan dưới lại, dọc đàng, phối hợp cùng chàng, vơi tát, khát mặt thung huyên, phản trá, dắt díu nhau... không thể kể hết.

Bóc đại cầu âu một câu nào đó như:

Bạc tiền đâm lẽ phải có là bao!

hoặc: Tóc da coi yểu điệu cũng nên dường.

hay:

Chàng có quyết cương thường đại đạo,

Trình song thân định liệu nhơn duyên.

Giao phím đàn với mảnh gương nguyền,

Bỗng nghe tiếng đỗ quyên gáy giục.

sẽ thấy những từ ngữ rặc ròng Nam kỳ hoặc ngay cả tiếng dùng chung cho cả nước đi nữa nhưng cấu trúc câu theo thế đặc biệt cách nào đó mà hương vị Miền Nam vẫn hiện diện. Tìm hiểu kỷ lưỡng cấu trúc đặc biệt đó thì nhiêu khê như phân tích một mùi hương. Khó dàng trời biển.

Không muốn đi vô chi tiết, chỉ xin đưa ra một trường hợp thôi. Câu thơ giản dị:

Thằng bán tơ vu  cáo gian tà/ Cho đến nỗi ông già mắc nạn.

Từ ông già ngoài nghĩa thông thường ai cũng biết, trong Nam còn có nghĩa là cha của mình hay cha của một người rất thân thuộc. Câu thơ ở đây có tác dụng đem người đọc vô bên trong tác phẩm, thành một người dính dáng xa gần gì đó với nàng Kiều. Cha của nàng bị nạn rồi! Lòng thương cảm  của người đọc tăng lên nhiều với hai chữ thông tục: ông già. Cái hơi hướm Nam kỳ nằm trong những trường hợp tương tợ. Tính chất miền của một tác phẩm xứ nào cũng vậy, nằm trong sự kiện địa phương, trong phong thái tỏa ra từ nhân vật địa phương, cộng với văn phong không thể lộn với vùng khác; bản Kim Vân Kiều Ca chỉ có một yếu tố văn phong thôi thế mà mang bản sắc miền Nam, đó là sự độc đáo của tiểu phẩm nầy.

*

Quí cụ xưa chép tay bản Nôm nào đó thường là chép theo trí nhớ xưa kia mình được học thuộc lòng, nên nhiều khi có những bất cập. Thí dụ dư câu 208b, dư chữ [tiền] ở câu 206, người đời sau đọc có thể dùng kiến thức mình mà sửa hay cẩn thận hơn: vừa sửa vừa ghi chú.

Sau bài Kim Vân Kiều Ca nầy chúng tôi hi vọng có dịp sẽ giới thiệu bài Thúy Kiều Phú mà người trong Nam nghe quen dưới tên Túy Kiều Phú mang phong vị văn chương hơn và dài hơi hơn. Tôi ngờ là giửa hai phó sản nầy của ĐTTT,  Kim Vân Kiều Ca xuất hiện trước, người đời sau nhân đó có cảm hứng bèn chấp bút viết Thúy Kiều Phú tiếp theo.

Xin mời đọc bản phiên âm quốc ngữ tác phẩm ít được biết đến nầy…

.

(1a) Xem truyện cũ trào Minh Gia Tĩnh,               01

Có hai người con gái họ Vương.

Thúy Vân kia mày mặt nở nang,

Chị Kiều nọ khôn ngoan sắc sảo.

Gẫm từ thuở mai hoa phát tảo, 05

Tóc da coi yểu điệu cũng nên dường.

Đã lãu thông Kinh, Sử, văn chương,

Lại gồm biết cầm kỳ thi họa.

Thanh Minh tiết rủ nhau đi viếng mả,

Chật giữa đường xa mã nghinh ngang. 10

Xứ xứ đều quang rạng lửa hương.

Thấy một mộ bên đường không kẻ đắp.

Kiều trông thấy sa tâm tuất cập,

Hỏi Vương Quan cho tỏ sự duyên do.

Mồ Đạm Tiên xưa ấy nhà trò, 15

Hồng nhan cũng một đò trong cuộc thế.

Kiều nghe biết bỗng liền sa lệ,

Đốt tuần hương mà tế Đạm Tiên.

Chẳng ai ngờ đồng bịnh tương liên,

Khoảnh khắc đã đưa tin thi thập thủ. 20

Sổ đoạn trường căn do tự đủ,

Kiều ngâm rồi khủng cụ biết bao.

Buổi hoàng hôn trời đã xế chiều,

Vương Quan giục hai Kiều trở lại.

Trong việc trước duyên trời đưa lại, 25

(1b) Gốc phù dung gặp gã Trọng lang,

Tạ từ rồi khách khách lai hàng,

Nào ai biết lòng chàng ra có dục.

Thuê nhà chỗ đông lân trọ học,

Ngày ngày thường chúc mục đông song. 30

Việc chẳng qua sự bởi Thiên công,

Lạc thoa ấy tơ hồng định trước.

Lấy của ấy làm tin cẩn ước,

Xui chàng Kim bắt được đem về.

Trước án tiền ý hỡi tê mê, 35

Nhác nghe tiếng bên kia xin lại.

Tay cầm thoa còn đương ngần ngại,

Dựa án thư giấc hỡi mơ màng.

Lắng tai nghe vẳng vẳng tiếng nàng,

Xếp khúc họa cung đàn xang cống. 40

Hỏi hát quá xui nên lòng động,

Lúc mê man toan giở giọng lần khân.

Nể lòng chàng vâng chịu ân cần,

Xin thương lấy chút thân bồ liễu.

Chàng có quyết cương thường đại đạo, 45

Trình song thân định liệu nhơn duyên.

Giao phím đàn với mảnh gương nguyền,

Bỗng nghe tiếng đỗ quyên gáy giục.

Cung đờn dạo còn đương dở khúc,

Thơ nhà chàng, hiếu phục nghiêm thân. 50

Kẻ ra về trong dạ tần ngần,

Người lên ngựa bâng khuâng lòng khoải khoắc.

Lúc tai họa dắt nhau vào lối chật,

Cả hai nhà cùng mắc nạn oan gia.

(2a)    Thằng bán tơ vu cáo gian tà,           55

Cho đến nỗi ông già mắc nạn.

Đáo tụng đình cửa nhà muôn vạn,

Lúc sai nha do giác cũng như không,

Chữ hiếu trung trông thấy đau lòng,

Hai tay trắng sao xong lẽ phải. 60

Việc chẳng qua trên quan dưới lại,

Bạc tiền đâm, lẽ phải có là bao!

Đạo làm con để thế trông vào,

Cơ tạo hóa khiến sao vâng vậy.

Bán mình đã tờ giao, hàng lấy, 65

Đem đầu vào lễ chú Đề Chung.

Tội oan gia rửa sạch như không,

Việc nhà lại thong dong như trước.

Ngoảnh ra thấy Giám sanh đàng trước,

Chường song thân sau trước cụ trần. 70

Duyên chàng Kim giao lại em Vân,

Khách địa mặc mưa Tần gió Sở,

Ngoảnh ra thấy Giám sanh lên ngựa,

Đỗ xe loan đi trả nợ bồng tang,

Đến dọc đàng phối hợp cùng chàng, 75

Sáng mai thấy cửa hàng sai đón rước.

Thấy hai ả cài trâm giắt lược,

Đứng đôi bên hữu tượng Bạch Mi Thần.

Thấy cơ đồ trong dạ tần ngần,

Lại một mụ vắt chưn ngồi ghế tréo. 80

Phận ti tiểu đã đành cam chịu,

Lại làm ra cách điệu xuân huyên.

(2b)    Khi sa cơ mới phải tòng quyền,

Tiểu đao đấy nàng liền tự tiện.

Trong mê thấy Đạm Tiên ứng hiện, 85

Bảo hồng nhan còn vướng nạn sông Tiền.

Hễ bao giờ chị xuống giang biên,

Mới sạch nợ trần duyên từ đó.

Tú bà mới nhỏ to khuyên nhủ,

Khóa buồng xuân cho bỏ lúc phong trần. 90

Khi cô mình ngâm bức thơ thần,

Chẳng may gặp bất nhân thằng họ Sở.

Thơ tích việt an ngày chạy ngựa,

Thượng sách đem làm nhở hồng nhan.

Vì Sở Khanh nên đóa hoa tàn, 95

Mà Mã Giám là gian rồi mới biết.

Gặp Thúc sanh cửa nhà lẫm liệt,

Đủ nghề chơi, nghe biết tiếng nàng.

Bốc lên làm ra mặt giàu sang,

Hỏi giá cũ bạc vàng đem chuộc lại. 100

Tú bà tính cũng đà có lãi,

Soạn hoàn nương giao lại cho chàng.

Chẳng ai ngờ nhân quả dở dang,

Nghiêm phụ lại chẳng thương đi kiện cáo.

Nhờ Lịnh Doãn quảng khai đại đạo, 105

Xin Thúc ông kiện cáo ích gì.

Xử hòa cho bái tạ đi về,

Còn một nỗi chánh thê bất tháo,

Đêm ngày giục Thúc sanh qui cáo,

Phận tiểu tinh ngại có tương lai? 110

Bởi vì chàng nỗi ếch bưng tai,

(3a)     Cho đến nỗi lâu đài tan tác,

Thây vô chủ đem vào thay khác,

Thuốc mê đâu bắt uống mơ màng.

Như đàn bà thế ấy mới gan, 115

Rồi mới biết nhân gian địa ngục.

Một năm nữa, lại về, chàng Thúc,

Chàng nói rằng hiếu phục vừa xong.

Hoạn Thư khen chí hiếu rất lòng,

Truyền lấy rượu luận công gia tưởng. 120

Đuổi  nàng xuống thị hầu dưới trướng,

Hoạn Thư ngồi tiệc thượng cười thầm.

Tính làm cho bỏ lúc đau ngầm,

Chén rượu chuốc phải cầm uống gượng.

Giả say quá làm điều gục xuống, 125

Hoạn Thư liền thét mắng con hoa.

Điêu Thiền kia còn muốn chồng ta,

Khuyên chẳng cạn, khôn qua tiến trượng.

Thương mà sợ phải ngồi uống gượng,

Trông mặt chàng hình trạng ủ ê. 130

Hoạn Thư ngồi trướng rũ màn che,

Thấy hai mặt e dè khắc túc.

Giao quyền bính lại cho chàng Thúc,

Toan làm cho sỉ nhục cả hai người.

Có lẽ đâu dưới đất trên trời, 135

Thôi cũng nghĩ cho ra ngoài Quan Âm Các.

Cũng rắp chí ra tu hành lạc,

Chẳng ai ngờ chàng thoái thác liền ra,

Còn đương than thở gần xa,

(3b)    Chợt trông thấy giày bà bước lại. 140

Đêm nằm nghĩ biết bao sợ hãi,

Cửu lưu thời ắt hại lâm thân.

Sẵn mọi đồ chuông khánh kim ngân,

Thầm dắt để hộ thân chóng tựu.

Nửa đêm thấy chúng tăng an ngủ, 145

Cất mình đi tầm thú phương xa.

Đem đầu vào lạy Tam Hợp sư già,

Nộp chuông khánh để mà ký thác.

Chẳng may ra gặp con mụ Bạc,

Chính nó là một tổ bợm già. 150

Bảo Sư rằng chuông khánh Hoạn gia,

Sư dung túng ắt là tai họa.

Ai ngờ nó dụng tâm phản trá,

Đem về nhà ép gả Bạc sanh.

Dắt díu nhau đem bán Lâm Thanh, 155

Hay đâu cũng lầu xanh một tổ.

May lại gặp anh hùng cứng cổ,

Nghiêng góc trời cờ mở trống giong.

Vả Từ công lẫm lẫm uy phong,

Sức thao lược xương đồng da sắt. 160

Nghe thấy tiếng Thúy Kiều tài sắc,

Thoắt nhìn qua nét mặt quá ưa.

Hỏi trước sau Kiều phải trình thưa,

Sai bộ tốt phất cờ đến rước.

May gặp hội duyên ưa cá nước, 165

Nợ hồng nhan từ trước sạch sanh.

Xuống khấu đầu nhờ cậy oai linh,

(4a)    Giả ân oán bất bình phen lưu lạc.

Khi ân oán bể hồ vơi tát,

Phút động lòng khát mặt thung huyên,            170

Muốn sao cho trung hiếu vẹn tuyền,

Cho phỉ chí thiền quyên sở nguyện,

Xem chàng giữ những đồ chinh chiến,

Như Hoàng Sào, Mã Viện có ai khen!

Đứng Thánh quân lẫm lẫm uy quyền,                 175

Ai ai cũng đội trời trên cả.

Sao bằng chịu từ bi hỷ xả,

Hội Hoàng triều chức cả có ai đương.

Tính thiệt hơn quyết chí hồi đường,

Cho đến nỗi chiến trường bỏ lại.                          180

Hồ Tôn Hiến chướng vô sở ngại

Lập gian mưu sát hại Từ công,

Thâu linh tiền, một tiếng súng đồng,

Ai ai chẳng hãi hùng quan Đổng?

Mê binh hiển để nàng vọng hống,                        185

Tiếng Hồ công nhứt thống  mỗi danh.                

Đến hạ công tướng sĩ trong thành,

Giả say tỉnh ép tình mỹ nữ.

Rạng ngày mai tỉnh ra biết sợ,

Ép nàng vào làm vợ Thổ quan.                              190

Sẵn xe loan rước thẳng xuống thoàn,                 

Hỏi mới biết sông Tiền là đấy.

Hỏi Đạm Tiên có chờ ta đấy,

Hẹn cùng ta rước lấy ta về.

Nói dứt lời nàng quyết một bề,                              195

(4b)    Theo dòng nước trở về quê trước.                     

Như thế ấy mới gan thao lược,

Rửa sạch mùi ô trược mới xong,

Dưới dòng sông ghi chữ tình thâm,

Ai ai cũng hương chìm đáy bể,                               200

Thổ quan sợ biết sao mà kể.

May gặp người hiếu để tiên tri.

Sư rằng song chẳng hề chi,

Thuê thuyền trực dòng sông đến rước.

Thúy Kiều hỡi còn lòa bóng nước,                         205

Vãi Giác Duyên bái tạ Phật [tiền] đường.            

Vợ chồng Vân với cả chàng Vương,

Bên kia sông lập đàn tràng sám hối,

Bài vị đề hương khói ngạt ngào.                             

May gặp khi vãi Giác đi vào,                                  210

Nói một tiếng cả nhà mừng rỡ.

Ai ai cũng quá vui mất sợ,

Mừng cho nàng sạch nợ bồng tang.

Dắt díu nhau đến lạy Phật đường,                           

Tạ Giác Duyên, cố hương trở lại.                            215

Như nàng đủ nhân trung hiếu ngãi,

Nỗi chàng Kim nghĩ lại tình xưa.

Chẳng quản chi hoa thải hương thừa,

Sum hợp lại một nhà vinh hiển.

                       ***

Như thế ấy lấy trong cổ truyện,                              

Dẫu dở hay lấy đấy làm ghi.                                     221

'

Kiều lục chung (Hết)

'

Nguyễn Văn Sâm phiên âm

(Victorville, CA 15 /05 --14 /08/ 2015)









.
.

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.