Hôm nay,  

Bố Sỹ Và Cô Út

19/02/201818:44:00(Xem: 8936)
Bố Sỹ Và Cô Út

phan ni tấn

 

Khoảng giữa năm 1979 tôi đến thăm gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhà ở trong một con hẻm đường Thành Thái, Sài Gòn mới biết bố Sỹ đang ở tù "cải tạo" trên cao nguyên Gia Rai. Ba mươi ba năm sau, ngồi bình thản dưới mái nhà bình thường của tôi ở Canada, bố Sỹ nhíu mày, cặp mắt xa xăm nhìn vào quá khứ như lục lại từng trang đời thê thiết, kể: " Năm 76 chúng đến trường Sư Phạm gởi giấy yêu cầu tôi đến Phường trình diện học tập bốn hôm rồi về, nhưng kỳ thực sau đó chúng bắt tôi đưa lên trại Gia Trung mãi trên cao nguyên Gia Rai. Trại này nằm sâu trong một cánh rừng giữa Pleiku - Kontum. Sở dĩ gọi là Gia Trung là vì trại nằm cạnh con suối người Thượng gọi là I-a I-ung, mình nói trại ra là Gia Trung. Chúng giam tôi từ năm 76 đến năm 80 thì được thả về..."

"Năm nay bố Sỹ của em gần 90 tuổi rồi, nhưng anh xem, cách ăn mặc vẫn còn gọn gàng, tươm tất lắm. Càng già bố Sỹ càng hiền lành, dễ dãi, đôi lúc ngây thơ như trẻ con", cô Doãn Hương, con gái út của nhà văn cười nhe chiếc răng khểnh nói với tôi thế. 

Tuy già yếu, hom hem như thế, lãng đãng đến thế nhưng khi nói về tình hình đất nước, về vận mệnh dân tộc, về nghiệp dĩ văn chương... Bố trở nên linh hoạt lạ thường.

Nói đến nhà văn Doãn Quốc Sỹ lâu nay người ta thường nghĩ đến hình ảnh của một kẻ sĩ thời đại. Ông là hội tụ của trí tuệ và tình thương, của niềm tin và ước vọng. Bằng một hành động lịch sử, trong lao tù ông đã từng lẫm liệt, khẳng khái chống lại những gì đi ngược với công cuộc tranh đấu cho hòa bình đất nước và nguyện vọng của nhân dân miền Nam. Cuộc đời và con người của kẻ sĩ là như vậy. Có điều con người bất khuất này, dù được người đời ngưỡng mộ và vinh danh cũng chẳng hề làm ông biến dạng đi chút nào. Xưa sao tôi không biết nhưng nay trước mặt tôi, bố Sỹ của tôi vẫn bình thường, giản dị, gần gũi, hồn nhiên như bất cứ ông già nào tôi có thể gặp ở ngoài đời. Cái vẻ đẹp thật kỳ lạ của tâm hồn ấy tỏa rạng lên cả con người ông, ánh lên đôi mắt cười dễ dãi, gương mặt xương xương nhưng phúc hậu. Chính những tinh chất óng ánh đó đã kết hợp thành chân dung con người kẻ sĩ.

Chúng tôi ngồi nói chuyện tương đắt với nhau được một lúc thì bố Sỹ ngồi thẳng người, gương mặt kẻ sĩ miền Nam tươi tắn hẳn ra, Bố kể: " Năm 84 đến năm 92 tôi tiếp tục viết gởi tác phẩm qua Pháp cho nhà xuất bản Lá Bối của thầy Nhất Hạnh in và phổ biến ở hải ngoại. Cộng sản tinh ranh lắm, luôn luôn rình rập, theo dõi từng cử chỉ hành động của tôi. Biết thế nhưng tôi vẫn điềm tĩnh. Khi đến bắt tôi lần thứ hai chúng đưa ra những bản photocopy  chụp tất cả những gì tôi viết gởi ra nước ngoài làm bằng cớ để buộc tội. Trong tù, chúng ép tôi nếu ký giấy thú nhận tội trạng tôi sẽ được khoan hồng nhưng tôi quyết liệt khước từ tất cả (Bố nhấn mạnh). Bởi vì tôi luôn quan niệm rằng yêu nước không phải là một cái tội. Cuối cùng trước tòa, chúng ghép tôi vào tội phản động, là một trong mười tên biệt kích văn hóa đã lén lút gởi tài liệu ra nước ngoài tiếp tay với bọn phản động nhằm chống phá Cách Mạng và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, phán xong chúng kêu án tôi 10 năm tù. Trải qua những năm tháng lao nhọc trong lao tù, cứ đến những ngày lễ lộc, Tết nhất cũng như những lần sinh nhật của Hồ Chí Minh thì chúng ra cái điều khoan hồng giảm án. Cứ thế, trừ những lần được giảm án cho đến hết hạn tù thì tôi ở tù mất 8 năm rưỡi, cộng với 4 năm tù lần trước vị chi là 12 năm rưỡi tôi bị Cộng sản giam cầm".

Kể đến đây Bố như trút bớt phần tâm sự. Hớp một hớp trà, giọng trở nên trào lộng, Bố tiếp: " Trước ngày mãn hạn tù chúng chuyển tôi đến trại K3 Xuân Lộc. Trại này nằm dưới chân núi Chứa Chan. Nghe thì lãng mạn lắm, chứa chan lắm, nhưng sống trong cảnh tù tội thì Chứa Chan có khác nào Chán Chưa".

Rồi Bố sang sảng đọc thơ: "Nam Nhâm nữ Quí thì sang. Nhược bằng ngược lại gian nan nhiều bề".

Ý nói Bố sinh nhằm mạng nữ Quí nên phải chịu khổ đến hơn 12 năm tù.Chưa hết. Dính dáng tới văn chương thi phú vốn đã ăn sâu trong cuộc sống và bản chất, bố Sỹ thật sự hưng phấn. Bố nói thật hay:

- Cụ Tú Mỡ, bố vợ tôi sanh được 8 người con được Cụ đặt tên theo thứ tự vần: "Năm trai ba gái tám tên. Trung Hiền Thảo Dũng Hùng Chuyên Vỹ Cường". Vợ chồng chúng tôi cũng thế, có tám con - Bố tiếp luôn: " Bốn trai bốn gái tám tên. Thanh Khánh Liên Thái Vinh (liền) Hưng Hiển Hương".

Câu lục bát "phá cách" này làm Bố Sỹ gượng nhẹ cười nói Bố phải thêm chữ  "liền" ở câu bát cho đồng vận với chữ "tên" ở câu lục...

Lắng nghe "ông già" kể chuyện tù, chuyện gia đình thơ thới như kể chuyện cổ tích khiến tôi vừa phục lăn vừa thương Bố quá chừng. Chính thái độ và hành động của một nhà hoạt động chính trị, một kẻ sĩ miền Nam, một người yêu nước, một nhà văn, nhà giáo khẳng khái trước tòa, bất khuất trong lao tù đã làm lay động tận cùng lương tâm những người trí thức trong và ngoài nước.

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn viết về nghĩa khí của ông qua bài thơ "Tinh Thần Và Bạo Lực":
 

Công an có cây súng

Bắn hoài không chết ai

Thì sĩ còn ngòi bút

Điểm mặt kẻ vô loài

 

Công an có cây súng

Nện tới tấp tơi bời

Đánh không sờn không ngã

 Giam sao được lòng người

 

Quỷ vương trăm lần chết

Khuyển ưng rụng một bầy

Thở tràn như nước chảy

Như sóng bủa trùng vây

 

Công an hết đường chạy

Vòng đai khép chặt rồi

Trong mỗi lời mỗi chữ

Nghìn gươm phục rạng ngời

 

Công an có cây súng

Bắn hoài không chết ai

Thi sĩ còn ngòi bút

Điểm mặt kẻ vô loài

 

Cong an có cây súng

Cây súng và nhà tù

Thi sĩ còn ngòi bút

Máu chảy hoài thiên thu

 

Bố Sỹ qua Canada ghé nhà tôi có cô út Hương của Bố theo kèm . Cũng trong dịp này bố Sỹ trao cho tôi tập thơ Lục Bát Tùy Bút của Doãn Quốc Vinh gởi tặng. Đây là tập thơ đầu tay của Vinh do Doãn Gia vừa xuất bản sau cuốn "Bác Trai, Bác Gái" của nhà văn Doãn Quốc Sỹ in năm 2011 tại California, Hoa Kỳ. Bố nói: "Trong tám đứa con chỉ có thằng Vinh là vướng vô ngiệp văn chương như tôi. Ngoài làm thơ nó còn biết vẽ vời nữa". Tội nghiệp cô út, lâu nay cũng muốn "vướng" vô nghiệp văn lắm nhưng "mỗi lần cầm bút hay ngồi trước máy là chữ nghĩa nó trốn đi đâu biệt dạng, anh Tấn ơi!".

 

Cũng trong năm 1979, ở bên nhà cô út và tôi có một chút kỷ niệm dễ thương để nhớ. Số là cô Liên, chị cô út biết rõ tình cảnh lang thang đầu đường xó chợ của tôi nên sau cái đêm văn nghệ hát chui với một số anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, vợ chồng cô thương tình kéo tôi về nhà nghỉ qua đêm.  

 

Sống lang thang bờ bụi lâu ngày, một hôm nhờ lòng nhân ái mà tôi có một chỗ êm ái để nghỉ lưng, dù chi một đêm thôi cũng không còn gì hạnh phúc hơn. Nửa đêm nằm một mình trong phòng khách vắng lặng, trên bộ sofa màu đỏ, tôi ngẫm nghĩ và  nhận ra một điều: Có lẽ nhờ những mớ tai ương lâu nay tôi gánh chịu mà cái hạnh phúc an bình và hài lòng mình nhận được nó có giá trị tột đỉnh như thế nào. Hé mắt nhìn ra ngoài đời kia với biết bao viễn ly điên đảo mộng tưởng trong khi ở đây, trong căn nhà này, không có gió máy, không có nắng mưa, không có muỗi mồng, chỉ có sự che chở và tình thương của con người đối với con người. Đêm đó tôi ngủ một lèo thẳng thừng mà không hề bị trở giấc.

Sáng hôm sau vừa thức dậy tôi gặp ngay cô út ít trong nhà xẹt tới hồn nhiên dương mắt tò mò nhìn tôi một cái rồi te rẹt xuống bếp mất dạng. Ngoài đường hẻm tiếng người ồn ào qua lại, có cả tiếng trẻ con nô đùa trong xóm. Đã đến lúc mình phải nói lời cảm ơn và chào từ biệt Doãn Gia để tiếp tục lao thân vào nơi vô định. Tôi ra đi lần đó đến nay đã ba mươi ba năm dâu bể mà lòng tôi vẫn âm thầm chịu ơn Doãn Gia, đặc biệt là đôi con mắt đen láy, mở to của cô út dù một thoáng thôi tôi vẫn cảm nhận được cái đẹp hồn nhiên và hồn hậu của cô út mà cho đến tận ngày nay ánh mắt đó vẫn không hề chịu tắt trong tôi.

Năm 2009, ở Canada tôi mừng được tin cô út Hương sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Sau rất nhiều năm bịn rịn với quê nhà, cuối cùng vì gia đình Bố Mẹ, vì anh chị em, vì tương lai cô đành bỏ xứ, bỏ bè bỏ bạn mà đi; cô bỏ cả bài thơ "C ô Út Lìa  Quê"  của Lão Nho đọc lên nghe buồn buồn:
 

A ha!

Lấy vòng kim cô riệt đôi chân xinh xắn lại

Không cho nó chạy khỏi quê nhà

Không cho nó chạy khỏi quê nhà

 

Chao ôi! Nửa chừng câu thiên lý

Lại mọc ra vó ngựa đường xa

Nhịp nhàng nhịp vấp dây bịn rịn

Làm sao hốt lại giọt lệ nhòa

 

Thôi thì bỏ xứ mà đi trớt

Có nhớ cũng đành mượn bờ môi

Khóc lên một tiếng

Ơi, một tiếng

Một tiếng dài như kiếp mây trôi

 

Thiên lý chạy vòng nửa trái đất

Đói lòng ăn chút bụi quê nhà

Hớp miếng gió quê cay trồng mắt

Hột lệ nào khóc miết không ra.

 

Vậy đó. Vậy mà ba mươi chín năm vèo qua như một giấc mộng. Cô út đã chạy việt dã nửa vòng trái đất để ngày nay hai anh em lại mừng tri ngộ nơi xứ người. Trước mặt tôi là bố Sỹ, ngồi cạnh là út Hương, cách tôi có vài gang tay, nhưng khoảng trống giữa chúng tôi là ba mươi chín năm dâu bể. Tôi nhìn gương mặt út Hương. Vẫn đôi mắt mở to ra đó, nhưng giữa sự rắn rỏi, đậm chắc vẫn pha thêm cái nét trẻ trung, rạo rực, nồng nàn, Rõ ràng út Hương bây giờ ra chiều chững chạc hơn, nhanh nhẹn và tự nhiên hơn. Chính sự gần gũi, thân thiện của cô út, ngoài đôi mắt ngày xưa ấy bây giờ tôi lại được nhận thêm tiếng cười nói dòn dã trên đôi môi tươi tắn để lộ chiếc răng khểnh ra. Cái khểnh của chiếc răng lộ ra mỗi khi cô cười tôi thấy nó giống như cái lõi hoa màu sữa bị mắc kẹt giữa hàm răng trắng ngà, chắc nịch rất có duyên.

 

Không ai biết trước được đường đi nước bước của đời mình. Hôm nay út Hương rắn rỏi mà mềm mại ngồi đây, vậy mà ngày mai ngày mốt hay sang năm, cô lại hớn hở bay qua Hòa Lan lên xe hoa theo chồng về dinh không chừng.  

Hê hê!!!

 

                           PHAN NI TẤN

  Xem: 

-- Việt Báo Đón Tết, Mừng Sinh Nhật Thứ 95 Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
https://vietbao.com/p126a277708/viet-bao-don-tet-mung-sinh-nhat-thu-95-cua-nha-van-doan-quoc-sy 
-- Giới thiệu trang web lưu trữ toàn bộ tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
https://vietbao.com/a277760/gioi-thieu-trang-web-luu-tru-toan-bo-tac-pham-cua-nha-van-doan-quoc-sy

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.