Hôm nay,  

Hoa Khai Năm Cánh

05/11/201900:00:00(Xem: 3700)

Tiếng thầy tri chúng oang oang:

 - Chú Trí Giải đâu rồi? có mấy mân dưa chua mà vẫn chưa xong à? cỏ cũng chưa cắt? nhà khách chưa lau chùi? Chú làm gì mà cả ngày không xong vậy?

 Trí Giải dù nhỏ nhẹ nhưng trong chất giọng không giấu được sự bất mãn:

 - Thưa huynh, ba bốn việc một lúc làm sao kịp? có ba đầu sáu tay cũng không xong chứ nói gì hai tay!

 Thầy tri chúng vẫn không hạ giọng

 - Chú lười quá, có gì khó đâu, tại chú không chịu cố gắng nhanh lên thôi. Ngày trước bằng tuổi chú, tôi còn làm nhiều việc gấp bội kia!

 Trí Giải im lặng và tiếp tục làm mà không nói gì thêm. Từ ngày nhập chúng đến nay đã hơn mười năm nhưng chỉ toàn làm đồ chay để bán, gây qũy để góp tiền xây dựng, đi cúng đám… năm thì mười họa mới có một dịp tu học với các bậc thầy danh tiếng từ xa ghé thăm chùa. Còn an cư thì cả năm chừng nửa tháng hoặc hai tháng là phải về laị chùa cũ để lo công việc. Sư phụ, sư huynh luôn luôn bận Phật sự phải đi nơi này nơi kia, khi thì dự lễ lạc thành, an vị; khi thì thuyết pháp hoặc họp hành trên tỉnh; có khi về trên bộ bàn thảo công việc cả mấy tuần liền. Hơn mười năm rồi mà chẳng học thêm được tí gì, ngoài mấy bài kinh, chú đã thuộc lòng và những nghi lễ căn bản. Nhiều lúc chú nghĩ:Như thế naỳ làm sao mà phát triển trí huệ nói chi đến khai ngộ! Nếu cứ lo quyên giáo, kinh tế để xây chùa thế này thì ở ngoài đời chứ cần gì phải xuất gia, những tưởng xuất gia để giải thoát nào ngờ laị gia vào một cái buộc ràng khác. Chú càng miên man suy nghĩ thì càng thấy mình như chìm vào một cõi xa lạ naò đấy, tâm tư tự độc thoại một mình. Chú laị nhớ một điển tích của thiền lâm: có vị tiểu tăng quanh năm cơm bưng nước rót hầu sư phụ mà chẳng thấy thầy dạy bảo điều gì, một hôm chú xin từ biệt ra đi thì sư phụ hỏi:” Tại sao ngươi muốn ra đi?” chú thưa:” Đã hầu sư phụ bao nhiêu năm nay nhưng chẳng thấy sư phụ dạy điều chi cả!”. Sư phụ của chú mới bảo:” Ta đã dạy ngươi bao nhiêu năm nay, có lúc nào ta không dạy ngươi đâu?”  vị tiểu tăng chợt ngộ điều gì đấy bèn sụp lạy sư phụ. Trí Giải đem chuyện ra so sánh với phận mình rồi lẩm bẩm một mình:” Có lẽ nào như thế chăng? phải chăng thiền từ những việc nhỏ nhiệm này?”. Chú laị miên man nghĩ và khẳng định:” Tuy có giống nhau nhưng vẫn khác, trường hợp mình nếu có cố gắng nữa thì cũng chỉ được chữ nhẫn chứ trí huệ thì cùn nhụt; nhẫn và từ bi tuy có nhưng không có trí huệ thì làm sao khai ngộ? làm sao giải thoát? Chú vẫn nghe các thiền sư vân du khắp nơi cầu đạo, tuy chú không có ý nghĩ mình sẽ là thiền sư nhưng đi cầu đạo các nơi hoặc giả tìm một đạo tràng phù hợp căn cơ mình có lẽ sẽ hay hơn. Nếu cứ nhẫn nhục nơi đây suốt đời thì cũng chỉ là ông thầy cúng đám hoặc giữ chùa mà thôi. Sau nhiều đêm trằn trọc, chú lấy can đảm lên thưa với sư phụ:

 - Bạch sư phụ, cho phép con được rời khỏi chùa này!

 Sư phụ chưa nói gì thì thầy tri chúng đã mắng;

 - Chú muốn đi chứ gì? ở đây khổ quá chứ gì? Đi tu mà còn muốn hưởng sướng! muốn thì cứ đi nhưng mai kia không vừa ý đừng quay về đây nhé!

 Sư phụ gật đầu, thế là chú khăn gói ra đi, trải qua hai năm trời khi thì chùa sơn thôn, khi thì viện nơi thị tứ… Có nơi trú laị vài tuần, có nơi hai tháng nhưng vẫn chưa gặp được cơ duyên như ý. Nơi nào chú đến cũng thấy không khác gì mấy với bổn tự mà chú xuất gia, có lúc chú nghĩ: “Có lẽ thời kỳ chùa tháp kiên cố nên nơi nào cũng lấy việc xây chùa to Phật lớn làm Phật sự?’ Một hôm chú nghe một vị huynh trưởng bảo chú:

 - Trên đồi Cổ Châu ở trấn Long Bàng có một ngôi già lam trông thì vắng vẻ nhưng ở đấy vị thầy trụ trì có phát nguyện:” Độ tất cả những ai xuất gia mà không có nơi tu học.”

 Nghe thế, chú liền hỏi tên chùa và đường đi. Hôm sau chú đi tìm chùa, cứ mỗi chặng chú laị hỏi thăm người địa phương về ngôi chùa trên đồi Cổ Châu. Dân cư có người không biết, có người biết mơ hồ nhưng chú cứ dấn bước tiến tới. Sau khi hết đường lộ thì chú lội bộ chừng mươi cây số đường đất nữa thì thấy xa xa một ngọn đồi. Lên đến đỉnh đồi thì thấy một ngôi cổ tự tuy nhỏ, đơn sơ nhưng có gì đó làm cho chú thấy hứng khởi mà chú cũng không biết tại sao, quanh chùa nhiều cây cao bóng cả rợp mát cả một vùng nắng gió. Chú nhìn thấy trên tấm biển đề ba chữ Bản Viên Tự , khẽ mở cánh cổng bước vào thì gặp một vị tăng đang gánh nước tưới rau. Chú đến thi lễ:

 - Bạch hoà thượng, con là Trí Giải từ xa đến đây, xin hòa thượng cho con tá túc một thời gian.

 Vị tăng ấy hỏi:

 - Ngươi từ đâu đến?

 Trí Giải thưa:

 - Bạch hoà thượng, con từ Vân Mộng Viện.

 Ông tăng laị nói:

 - Không, ta không hỏi địa danh! Ta chỉ hỏi ngươi từ đâu đến!

 Bất chợt Trí Giải cảm thấy như có một luồng điện chạy xuyên suốt cơ thể, lập tức nói như một cái máy:

 - Bạch thầy, con từ mê đến!

 - Vậy ngươi đến đây để làm gì?

 - Dạ, con xin học pháp giải thoát.

 - Ai buộc ngươi mà cần phải giải thoát?

 - Dạ, không có ai cả, tự mình buộc lấy mình.

 - Ngươi đã xuất gia ắt cũng biết tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhiêu đó chưa đủ sao mà còn cầu pháp?

 - Dạ, không cầu thêm mà cầu bớt.

 - Ở đây chõng tre, áo thô, cơm hẩm…kham nổi không?

 - Dạ, nếu sợ những thứ ấy thì con không dám lên đây quấy rầy hoà thượng!

  Hoà thượng mỉn cười:

 - Ngươi là Trí Giải, ở đây trọn chẳng có gì để giải trí cho ngươi!

 - Dạ, hoà thượng từ bi. Con không cầu giải trí mà cầu giải, cầu trí!

 Hoà thượng không hỏi gì thêm mà chỉ bảo vào trong cất hành trang đi. Trí Giải đi vài bước thì quay laị;

 - Bạch hoà thượng, cho con biết pháp danh của người!

 Hoà thượng cười to:

 - Sư phụ của ta ban cho pháp danh Thanh Đồng Xứng nhưng pháp lữ và người đời vẫn quen gọi ta là lão Dã Sơn tăng.

 Trí Giải sụp lạy:

 - Con xin bái tạ sư phụ lão Dã Sơn tăng.

 Lão hoà thượng cầm nguyên thùng nước tưới lên người Trí Giải rồi ngửa cổ cười vang vọng cả ngọn đồi, đoạn đọc bài thơ ứng tác:

 Nay ta tưới giọt nước này

 Ngày mai lớn cội cao cây bồ đề

 Sa Bà là lối đi về

 Chơn tâm vẫn vậy chưa hề hư hao.

 Tối hôm đó sau buổi công phu khuya hai thầy trò đi bách bộ quanh đồi ngắm trăng. Hòa thượng bảo:

 - Ta có cả kho pháp bảo, ngươi kham nổi không?

 - Trí Giải thưa:

 - Con mọt tuy bé xíu nhưng tháng ngày có thể đục ruỗng cả ngôi nhà lớn.

 Lão tăng laị bảo:

 - Ngoài pháp bảo ra ta chẳng còn có gì để cho ngươi cả!

 - Hoà thượng từ bi, nhiêu đó cả kiếp này cũng dùng không hết- Trí giải đáp

 - Ngươi hãy nói xem, ta với ngươi chỉ có thân tứ đaị ngũ uẩn còn chư Phật thì có tam thân-tứ trí-ngũ nhãn-lục thông… thế sao bảo là đồng, là bất nhị?

 - Bạch sư phụ, đồng ở tánh giác.

 - Tại sao chư Phật giác mà chúng ta chưa giác?

 - Bạch sư phụ, tại chư Phật sáu căn thanh tịnh, không nhiễm sáu trần.

 - Thật sự taị ý căn, ý căn tạo tác, sanh khởi mới lộ qua năm căn kia và từ đó chúng ta mới nhìn, nghe, nói, làm, ngưởi, nếm, sờ…Ý căn thanh tịnh thì mình làm đúng, ý căn nhiễm thì mình mê! vậy làm sao để giác đây?

 - Vì cầu giác mà sư phụ trụ ở đây và cũng vì cầu giác mà con tìm đến đây.

 - Ngươi khá lắm, Hãy nhớ rằng: người cầu đạo cần có từ bi, trí huệ và vô úy. Ba điều này như cái kiềng ba chân, thiếu một thì hỏng!

 Đến đây thì hai thầy trò ngồi xếp bằng dưới gốc thông, chỉ phút chốc là nhập vào định. Chung quanh lặng im đến độ nhịp đập của tim như làn sóng tỏa vào không gian làm lung lay cả ánh trăng. Ánh trăng bàng bạc xuyên qua tàng lá rơi lấp loáng trên tà áo lam trông như dát bạc lên hai pho tượng. Cả đất trời tĩnh lặng tịch mịch đến vô cùng!

 Ngày kia ba vị huynh đệ Thanh Đồng Nguyện và Thanh Đồng Hành và Thanh Đồng Đắc vừa mãn khoá an cư trở về. Sư phụ giới thiệu Trí Giải với ba người và bảo:

 - Năm xưa Thế Tôn chuyển pháp luân và độ năm anh em Kiều Trần Như.  Từ đấy Phật môn mới có tích:” Nhất hoa khai bách diệp”. Hôm nay thầy và các con cũng năm người, đều bái Thế Tôn làm thầy. Thầy không dám ví chúng ta với năm anh em của tôn giả Kiều Trần Như nhưng ở Bản Viên Tự hôm nay cũng có năm cánh hoa nở ra. Trí Giải, thầy ban cho con pháp danh là Thanh Đồng Giải, hãy chào các huynh của con đi!

Bốn vị huynh đệ thi lễ xong đồng thanh quay sang lạy tạ sư phụ:

 - Tạ ơn thầy, hoa nở năm cánh cúng dường Thế Tôn, phụng sự chúng sanh!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 29/05/19

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.