Hôm nay,  

Vô Thường Lãng Đãng

28/03/202011:27:00(Xem: 4497)

 


 Có một nhà khoa học từng phát biểu:” Cuộc đời này không có gì chắc chắn và tuyệt đối cả, duy chỉ có câu nói này là chắc chắn tuyệt đối”. Trong đạo các thiền sư cũng thường dạy: ”Thế gian này chẳng có gì chắc chắn cả, duy có cái chết là chắc nhất, thật nhất”. Xem ra đạo và đời nhìn nhận lẽ vô thường khá tương đồng. Cuộc sống hàng ngày cũng vậy, mọi người chúng ta vẫn thường nói vô thường, lý sự về vô thường, tuy biết nhưng từ biết cho đến ứng xử và hành động là một khoảng cách xa diệu vợi. Bằng chứng cũng dễ thấy, nó biểu hiện mọi lúc mọi nơi, mọi giới trong xã hội, hễ động đến một tí quyền lợi: tiền bạc, danh tiếng, sắc dục, ngủ nghỉ, ăn chơi… thì lập tức quên bặt vô thường ngay! 

 Thế vô thường là gì? Là sự thay đổi liên tục  không dừng dứt, sự thay đổi chuyển dịch sanh tử liên lỉ trong từng phút giây, thay đổi từ vật chất, hoàn cảnh bên ngoài cho đến tâm ý bên trong. Nhỏ nhiệm như từng tế bào sanh diệt liên miên, lớn hơn thì con người, động vật, nhà cữa, núi non cho chí hành tinh, vũ trụ…Con người và vạn vật, mọi việc luôn ở trong trạng thái chuyển dịch, thay đổi; có cái biến đổi nhanh lẹ ngắn ngủi nhưng cũng có cái chậm chạp tính bằng năm tháng, thế kỷ hoặn tỷ năm thậm chí lâu hơn nữa mà khá năng của con người không thế đếm nổi. Tỷ như phù du sớm sanh tối chết, hoa sớm nở tối tàn đó là ngắn, còn dài thì sự hình thành và biến mất của một quốc gia, một nền văn minh, hoặc vô cùng dài lâu như sự hình thành và biến mất của một hành tinh, một vũ trụ…

 Về tâm ý thì sự thay đổi còn nhanh không thể tưởng, một sát na có đến chín mươi cái niệm sanh diệt, thất tình lục dục trong tâm biến đổi không ngừng, nó chịu sự tác động từ bên ngoài, chấp chặt vào: sắc , thanh, hương, vị xúc, pháp; gắn kết với: tài, sắc, danh, thực, thùy. Vì thế mà cái tâm (vọng) luôn loạn động, đổi thay, sớm yêu chiều ghét, hờn, giận, mừng, vui, chán… nay nắng mai mưa.  Mọi vật, mọi việc vô thường, thế gian vô thường, vì thế mà nhà phật dạy chúng ta phải nhìn nhận cho rõ và buông bỏ để mà sống trong an lạc.

 Vô thường tác động lên con người và hành động của con người laị làm gia tốc cho sự vô thường thêm nhanh hơn, sự biến đổi sanh diệt còn khốc liệt hơn, tỷ như ngaỳ xưa người ta khai phá một khu rừng thì phải mất nhiều tháng năm nhưng ngày nay với công cụ hiện đại thì chỉ cần một vài ngày là ủi sạch. Ngày xưa chiến trận với vũ khí thô sơ thì thời gian tính bằng tháng năm, ngày nay với vũ khí hiện đaị: hoả tiễn, bom hạt nhân, vũ khí laze, vũ khí hoá học… thì có thể kết thúc nhanh trong vài ngaỳ hoặc tuần. Con nguời trong thế giới hiện đaị đang đối mặt với tốc độ biến đổi chuyển dịch của vô thường rất nhanh chóng. Cơn dịch do virus Corona hiện nay là một minh chứng rõ ràng cho thấy tốc độ nhậm lẹ của biến thiên vô thường. Những cơn dịch trong quá khứ của loài người, tốc độ lây lan chậm và hạn chế trong phạm vi nhất định. Cơn dịch Corona virus ngày hôm nay thì lây lan nhanh chóng và lan truyền trên toàn thế giới. Việc lây lan nhanh và rộng khắp cũng bởi văn minh của con người, máy bay, tàu thuyền, xe…( âu cũng là mặt trái của toàn cầu hoá vậy) 

 Cơn dịch đang gây ra hậu quả nặng nề, hàng trăm ngàn người mắc bệnh, hàng chục ngàn người chết, kinh tế đình đốn, giao dịch và mọi hoạt động xã hội ngưng trệ, con người hoang mang lo sợ…Liệu người Phật tử có học được bài học gì chăng? Hay có áp dụng được chút ít sở học vào cuộc sống hiện tại chăng? 

 Cơn dịch Corona này đã chứng minh cho mọi người thấy rõ tính chất khổ, không, vô thường, vô ngã. Đây là những pháp ấn mà nhà Phật vẫn thường nói đến.

 Thế gian này là một thế giới khổ, ba khổ ( khổ khổ, hoại khổ, hành khổ), tám khổ ( sanh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly, ngũ ấm xí thạnh). Ba khổ, tám khổ là căn bản còn chia nhỏ thì thì vô số khổ. Trong cơn dịch bệnh này thì mắc bệnh hay không mắc đều khổ cả (đau đớn, chết chóc, mất việc, mất tiền, phong toả, hoang mang lo sợ…) khổ cả thân lẫn tâm. Thế giới này là thế giới khổ, Sa – Bà là kham nhẫn là khổ, là chịu đựng kia mà. Còn về chữ không, ở đây không phải là không có gì, là trống trơn mà là không thật có. Con người cho đến muôn loài và vật chất đều là duyên hợp mà sanh ra, duyên tan thì hoại đi chứ hoàn toàn không thật có. Con người và vạn vật đầu cấu thành từ đất, nước, gió, lửa, không đaị nhưng con người còn có thêm thức đaị. Nhân duyên đủ thì tụ thành, hết duyên thì tan rã. Nhà phật vẫn bảo: “ Như mộng huyễn, như bào ảnh, như lộ, như điện” là thế! có đó nhưng không thật có. Vô thường, như đã nói ở trên, con người và vạn vật thay đổi, sanh diệt liên miên trong từng phút giây. Giờ đây dịch bệnh còn làm cho tốc độ sanh diệt, thay đổi nhanh hơn nữa. Vô thường chẳng chừa ai, chẳng phân biệt ai: trí-ngu, sang-hèn, giàu-nghèo, quan-dân…Vô ngã, thật sự không có cái “ngã” độc lập, tất cả chỉ là các duyên hoà hợp mà sanh ra, chỉ là sự tập hợp của điều kiện cần và đủ, ví như một ngôi nhà, ấy là sự kết hợp của: gạch, gỗ, sắt, xi măng, công thợ…Rồi mỗi món đó laị là sự kết hợp của những nguyên tố khác, khi tất cả hợp laị thành một vật mà ta tạm cho tên là “ cái nhà”, một khi hết duyên thì “ cái nhà” laị rã rời thành từng món và mỗi món đó laị tan rã ra thành những nguyên tố khác nhau. Thật tế không thể tìm thấy một cái  độc lập gọi là nhà. 

 Cơn dịch Corona hôm nay cũng cho thấy cái thân mình quả thật mong manh yếu ớt lắm, con virus nhỏ bé đến độ không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng quật ngã con người, giết chết hàng vạn người như chơi. Thân người là tập hợp của máu, mủ, thịt, da… bề ngoài trông đẹp đẽ vậy nhưng bên trong chứa toàn chất hôi thối, tanh tưởi. Thân người chẳng tịnh chút nào, nó như con dao, nếu biết dùng thì tạo phước và thăng tiến còn ngược laị thì tạo nghiệp xấu và đoạ. Thọ là khổ, bình thường đã khổ vì mưu sinh, vì hệ lụy những mối ràng buộc, vì bao nhiêu thứ khác, nay dịch bệnh thì khổ thêm. Tuy cuộc sống cũng có Cái vui nhưng rồi vẫn đi đến khổ ( hành khổ)  và vô thường biến hoại thì dĩ nhiên là khổ. Tâm vô thường, thân vốn không thật thì tâm sao thật được! nó là vọng tâm lẫy lừng với thất tình lục dục, nó thay đổi không ngừng khi yêu khi ghét, lúc thương lúc giận….Vô ngã, điều ấy đã thấy như ví dụ cái gọi là “cái nhà”, muôn pháp đều vô ngã, không có cái gì để gọi là cái “ngã”, cái độc lập cả. Trong cơn dịch bệnh này, ta thấy dù là vật chất ( sắc) hay tâm ý ( danh) cũng đều không có một cái ngã độc lập, tất cả chỉ là duyên sanh mà thôi. Thân vốn là tứ đaị, không đaị và thức đaị mà hình thành, con virus giết chết cái thân, thì thân laị trở về với đất nước gió lửa. cái tâm gá ở cái thân thì như làn sóng điện, sẽ duyên vào một cảnh giới cao hơn hay sa vào cảnh giới thấp hơn ( tùy theo phước đức, tùy theo cái nghiệp thiện -ác mà khi cái thân còn sống đã tạo ). Nhà Phật gọi là thần thức, không phải là linh hồn bất biến, vĩnh viễn như các tôn giáo khác vẫn quan niệm như thế! ở bài viết này bút giả chỉ khái quát sơ sơ chứ không dám nói sâu hơn vì cũng chẳng đủ khả năng để nói thêm. 

 Cơn dịch Corona virus thật sự nguy hiểm, nhưng người Phật tử hiểu và áp dụng sở học của  mình vào đời sống thì sẽ không đến nỗi sợ sệt hoang mang. Dịch bệnh là kiếp nạn, là nghiệp chung của con người, muốn hay không muốn, tội hay vô tội đều phải chịu chung vậy: bệnh tật, chết chóc, phong toả! Sanh tử là lẽ thường, chết là chắc chắn, không sớm thì muộn, không lúc này cũng lúc khác, không lý do này cũng lý do khác… không ai có thể thoát chết, vì vậy mà cứ bình thản sống ( có hoảng sợ, hoảng loạn cũng không thoát chết, thậm chí có thể chết nhanh hơn). Một mặt tuân theo các chỉ dẫn của cơ quan y tế phòng ngừa dịch bệnh, mặt khác áp dụng ngay những sở học vào cuộc sống, biến pháp học thành pháp hành. Chắc cũng có không ít người cho rằng Phật giáo sao bi quan, toàn nói vô thường, khổ, vô ngã, chết… Chẳng có gì bi quan cả! biết rõ, nhìn nhận chân để mà khỏi bi quan, để sống bình thản. Ví như có người sợ ma, lúc trời chạng vạng mờ mịt nhìn gà hoá cuốc, nhìn vật hoá ma. Giờ có ánh dương soi rọi, mọi vật rõ ràng thì không còn sợ ma nữa. 

 Ôn dịch nguy hiểm nhưng thế giới hôm nay các nguồn thông tin hỗ trợ mạnh mẽ mối nguy đó làm cho con người càng thêm hoang mang. Nếu ở các nước độc tài thì bưng bít, che dấu và bóp méo sự thật làm cho người dân không biết rõ sự thật. Ở các nước tự do thì truyền thông và mạng xã hội quá nhiều nhiễu loạn làm cho người dân cũng hoang mang không biết đâu mà lần, quá nhiều tin giả, tin xấu, tin lập đi lập laị…tác động mạnh vào tâm ý người dân, dịch bệnh đã khổ mà thêm hoang mang lo sợ nữa! thậm chí có vô số tin vô thưởng vô phạt nhưng nó làm dậy sóng tâm lý đám đông, gây thêm rối rắm trong lúc cơn dịch hoành hành. Bưng bít hay nhiễu loạn đều là hai thái cực thái quá, từ đây ta laị thấy thêm một điều nữa: Trung đạo, con đường mà Thế Tôn đã chỉ dạy, tránh cả hai thái cực! 

 Cuộc sống hôm nay, cơn dịch bệnh này là điều không thể tránh khỏi, vậy thì ta cứ bình thản sống, làm tốt nhất trách vụ một con người trong cộng đồng, trách vụ một Phật tử. Giả sử vạn nhất bất đắc dĩ mà mình chịu chung nghiệp với những người không may mắn thì mình vẫn có thể hy vọng và biết đâu đó là: “ Một ngày chung cuộc bốn bề hoa bay”- thơ TLTP


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 03/23/2020

 

 

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.