Hôm nay,  

Ông Giáo Ngữ

30/03/202008:59:00(Xem: 4567)


 Tiếng kẻng ra chơi vừa vang lên, bọn học sinh ùa ra như ong vỡ tổ, chúng chạy nhảy chơi đùa la hét ầm ĩ quanh căn nhà. Bọn thằng Vinh, Trường, Cảnh… nổi tiếng nghịch ngợm như qủy sứ. Còn tụi con Lành, Lệ, Thúy…thì mê chơi banh đũa, ô làng, nhảy dây…Cả đám học sinh mệnh danh “ Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò” nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thằng Tèo. Người ta bảo nó đầu bò đầu bứu đến độ nếu nó có té ngã thì người ta xem mặt lộ có bể hay không chứ chẳng lo đầu nó sưng. Bọn nó đã phân công trước, tụi con gái mang theo muối ớt, mắm ruốc vừa ra chơi là thằng Tèo leo lên cây khế hái trái thảy xuống, tụi kia thì canh chừng ông giáo, kẻo không sẽ bị ăn đòn. Những trái khế to như bàn tay người lớn, chín vàng ươm. Cả bọn trốn sau đống khạp, lu, chậu… bên hông nhà vừa ăn vừa suýt xoa khen mắm ruốt ngon, ăn xong kéo laị bên lu nước dùng cái gáo dừa múc uống đã đời. Khế chua, nước lạnh ấy vậy mà chẳng đứa nào đau bụng chi cả. Chuyện tưởng êm xui, không ngờ có đứa nào mách lẻo với ông giáo. Ông giáo giận, đập cây thước bảng ầm ầm:

 - Nhà có phước sanh con giỏi lội, nhà có tội sanh con hay trèo! Tụi bây trèo hái khế, lỡ té xuống sứt tay gãy gọng thì biết làm sao đây? nghịch như quỷ sứ! 

 La thì la vậy chứ ông giáo Ngữ hiền khô, tóc trắng như ông tiên, cặp kiếng lão đeo xệ xuống lưng chừng sống mũi, mỗi khi nhìn ai thì phải ngước lên và lấy ngón tay đẩy kiếng lên. Ông giáo Ngữ lúc nào cũng cười hềnh hệch rất thân thiện và gần gũi với mọi người. Nhà ông giáo là một căn nhà cổ khá to, sân trước ông cho lợp tôn, xây tường thô nối với sảnh trước nhà để làm lớp học. Bên trong có chừng hai mươi dãy bàn ghế dài, những băng ghế nhẵn thín trơn lu vì bao nhiêu thế hệ học trò mài mòn đũng quần. Dân chợ Cây Da và các tổng quanh đây đã bao thế hệ biết chữ quốc ngữ là nhờ ông giáo Ngữ. Ngoại nói ông giáo đã dạy chữ quốc ngữ từ thời Việt Minh nhưng đến hồi quốc gia mới mở lớp dạy cho dân quanh vùng. Vậy là ông giáo đã dạy từ thế hệ ngoại, má, cậu, dì… cho đến tận thế hệ anh tôi và tôi. Không chỉ nhà tôi mà hầu hết dân quanh chợ Cây Da mấy thế hệ biết chữ quốc ngữ đều nhờ công ông giáo Ngữ cả. Ông giáo dạy chữ từ lúc thanh niên cho đến lúc lưng còng, tóc bạc. Tôi vẫn nhớ như in ông giáo thường ngâm nga và dạy tụi tôi:” O tròn như quả trứng gà

        Ô thời đội mũ, ơ thà mọc râu” 

 Hoặc giả như:” A bê xê dắt dê đi ỉa, a ấ ắ nhắc nhớ trả tiền”…

 Ông giáo dạy chữ quốc ngữ cho mọi người, tiền học phí cũng không nhiều nhỗi gì, cả chợ Cây Da và các ấp, tổng quanh vùng đều nhờ ơn ông giáo cả. Tôi và lũ bạn học là học trò  thuộc thế hệ thứ ba. 

 Hôm nọ, thằng Lĩnh đạp lên mấy tờ nhật trình, ông giáo phạt năm roi đau quắn đít:

 - Chữ nghĩa thánh hiền, không được đạp lên, không được quăng bỏ lung tung, không xài nữa thì phải đốt cho đàng hoàng! 

 Ở lớp học, ông giáo dạy thế, về nhà ngoại cũng nhắc hoài:

 - Chữ nghĩa thánh hiền không được đạp lên, không xài vào những việc ô uế, nếu không tôn trọng thì kiếp sau sẽ sanh ra làm người ngu si.

 Má tôi càm ràm:

 - Người ta lấy giấy nhật trình gói hàng tùm lum kìa! 

 Ngoại nói:

 - Người ta hổng biết mới làm bậy, đó là chuyện của người ta. Mình biết thì mình không làm bậy. Ai làm nấy chịu! 

 Không biết ông giáo thời Pháp thuộc có bằng cấp gì không? Nhưng trình độ quốc ngữ của ông rất giỏi. Ông thâu nhận học trò từ lớp mẫu giáo cho đến lớp năm, những độ tuổi và trình độ khác nhau ở trong một lớp, vậy mà tất cả đều thông suốt thế mới tài. Bao thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu biết chữ, biết tính toán đều nhờ ông giáo. Ông giáo chẳng cần danh hiệu “ nhà giáo nhân dân” hay “ nhà giáo ưu tú” chi cả, cũng chẳng văn bằng nọ kia… ấy vậy mà dạy rất tuyệt vời. Bọn học trò phân biệt rõ ràng ch – tr, dấu hỏi, dấu ngã, câu cú rành mạch, ngữ pháp sạch sẽ…Từ cái nền tảng này mà nhiều người sau này học lên cao và thành đạt. Thế hệ cha chú tôi thì việc học dở dang vì chiến sự, vì thời cuộc nhưng thế hệ tụi tôi thì học hành thông suốt, nhiều người thành danh có địa vị cao trong xã hội hoặc thành công trên thương trường. Thằng Thụ là một ví dụ điển hình, hồi đi học nhà nghèo lắm, không có cả chiếc xe đạp, ba là lính Cộng Hoà chết trận , nội làm thầy cúng độ nhật, ấy vậy mà giờ giàu kinh khủng. Thụ giờ là giám đốc doanh nghiệp xuất khẩu đá granite, bao nhiêu núi đá quanh vùng bị khai phá tan hoang. Bạn bè bảo rằng:” Nó có tên trong danh sách hai trăm người giàu nhất nước”. Thằng Dưỡng thì nhà có lò rượu sát bên đình, ngày đi học cũng nghèo mạt, ấy vậy mà giờ là bác sĩ có tiếng trong thành phố và cũng giàu nhất nhì xứ. Giờ nó giàu có, nổi tiếng tăm và cả tai tiếng vì những việc đi ngược với những gì mà ông giáo dạy năm xưa. Thằng Sáng, ba sĩ quan đi cải tạo và chết trong tù. Mẹ lanh lợi làm ăn, biết mánh mung dựa dẫm từ đó phát lên giàu to và trở thành nữ doanh nhân thành đạt. Sáng là công tử ăn chơi mát trời ông địa luôn, hồi đi học nó cũng nghịch không thua thằng Tèo, nó lấy hột mắt mèo mài lên ghế, tuị học trò ngồi lên bị ngứa đít nhảy tưng tưng, địt lủm bũm. Ông giáo điều tra ra và phạt nó qùy suốt buổi hôm ấy. 

 Thời gian trôi qua như bóng mây, thế sự thay đổi như bức tranh vân cẩu. Mỗi người một số phận, tôi lưu lạc lang bang tận chân trời và vẫn thường ví nơi ấy là một vùng phương ngoại. Dù xa xôi nhưng lòng luôn luôn nhớ và hướng về cố quận, vẫn thường thăm hỏi về ông giáo thông qua những người thân ở quê nhà. Ông giáo Ngữ, người dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ cho ngoại, mẹ, cậu, dì, anh và thế hệ tôi.

 Lớp học chữ quốc ngữ của ông giáo đã đóng cữa từ lâu lắm rồi, ông giáo cũng như mọi con người khác, ngày càng già vì sự hủy hoại của thời gian. Suốt nhiều năm tháng sau khi đóng cữa lớp học, ông giáo ngày ngày ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây ở trước cửa nhà nhìn người qua laị. Thân xác ông giáo co rút laị, lưng khòm xuống trông còn nhỏ xíu và hom hem lắm, duy cặp kiếng lão vẫn đeo xệ xuống sống mũi và nụ cười hềnh hệch thì không hề thay đổi. 

 Những năm tháng cuối đời, ông giáo ngồi trong chiếc ghế mây nhìn người qua laị hay nhìn thế sự và lòng người? khi mà suốt đời dạy chữ cho người mà không thấy một ai còn nhớ đến mình, những đứa học trò “ nghịch như quỷ sứ” ngày xưa giờ đã nên ông nên mụ, đã thành danh, thành công trong cuộc đời. Người ta vẫn bảo: “ Người lái đò suốt đời đưa người qua sông, đến khi mình cần qua chẳng có ai đưa. Người hát đám suốt đời hát cho người, khi mình ra đi chẳng có ai hát cho một câu.” đời đôi khi dễ quên và khắc nghiệt lắm. Ông giáo Ngữ cứ ngồi trong ghế mây như thế nhìn đời cho đến lúc qua đời chẳng thấy một người học trò “ Nghịch như quỷ sứ” của ngày xưa đến viếng thăm.  


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 03/2020

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.