Hôm nay,  

Biển Thiên Đường

09/04/202016:49:00(Xem: 4184)


 Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy. Những anh chàng lướt ván điệu nghệ cứ như đứng trên đầu ngọn sóng. Những cô nàng tóc vàng rơm nằm phơi nắng trên bãi cát , tấm thân kiều diễm đỏ lên dưới ánh nắng mùa hè, những kẻ đi qua dù có vô tâm đến mấy cũng quay mắt nhìn. Cũng có không thiếu những ánh mắt nhìn chằm chặp, không che dấu sự ái mộ thèm khát của bản năng. Có những người lịch sự hơn, chỉ nhìn lướt qua nhưng trong ánh mắt vẫn thể hiện sự thích thú. 

 Biển mùa hạ tuyệt vời, đẹp lắm, những con diều đủ màu sắc và hình dáng bay phất phới giữa biển trời bao la. Nước biển maù ngọc bích, bầu trời xanh lơ, nắng vàng như rót mật. Cái nắng hè như một phòng tan”*” khổng lồ lộ thiên. Các anh chàng và cô nàng phơi sấp rồi phơi ngửa để có được một làn da rám nắng đầy hấp dẫn. Bọn họ cởi bỏ quần áo, chỉ mặt đồ lót, khi làn da rám nắng đủ độ thì những vệt trắng của đồ lót trên thân thể họ trở nên đẹp và rất gợi dục. 

 Jimmy T nằm mơ màng mang mắt kiếng râm, thỉnh thoảng trở mình trên cát để phần kia của thân thể được rám nắng đều. Dường như có linh tính, bất chợt Jimmy T nhổm dậy và nhìn ra biển, anh thấy một bức tường nước ước chừng cao vượt quá cái khách sạn mà anh đang ở, bức tường từ ngoài khơi xa tít tắp đang lừng lững tiến vào bờ. Jimmy bật dậy như cái lò xo , những người xung quanh cũng đã thấy nên cùng bật dậy cả. Anh hét to:

 - Sóng thần, sóng thần!

 Tiếng hét của anh như loãng trong hư không, tan trong vô số tiếng hét khác. Cả bãi biển trở nên kinh hoàng hoảng loạn, ngàn vạn tiếng hét khác cùng kêu sóng thần, tiếng réo gọi cuả mọi người, tiếng khóc la inh ỏi…Người người cuống cuồng chạy ngược vào bờ, có kẻ cố sức kéo lê hay dìu người thân, có kẻ thì bỏ chạy thục mạng. Trên mặt mọi người hiện rõ sự sợ hãi thất kinh đến tột độ. Mới phút trước còn bình yên xinh đẹp, cả bãi biển Southeast này được mệnh danh là thiên đường, vậy giờ như địa ngục đang mở cữa ra. Người ta sợ đến nỗi bỏ chạy quên cả con cái mình. Có nhiều người hoảng loạn đến độ tinh thần đông cứng, họ đứng chết trân tại chỗ, mặc cho bức tường nước đang tiến vào càng lúc càng gần hơn . Jimmy quáng quàng chạy, té nhủi laị đứng lên chạy tiếp, cái bóng của bức tường nước đã che tối sầm sau lưng. Anh lên đến bậc tam cấp của khách sạn thì bức tường nước đã cận kề lắm rồi, đỉnh của nó cong vòng như cần câu cá dính phải con cá lớn, nó sắp đổ ập xuống rồi. Jimmy tự nhủ mình phải sống, chỉ cần ráng thêm vài bước nữa thôi. Anh chạy ào đến sát cây cột lớn của tiền sảnh, đứng phiá sau và ôm chặt cứng cứ như con nhái bén ôm gốc bần vậy! Bức tường nước ập xuống, như một con quái vật nuốt muôn thứ trên mặt đất vào lòng của nó. Jimmy ôm chặt cây cột, mặc dù ngạt trong làn nước tối đen nhưng quyết không buông tay ra. Nước rút ra cuồn cuộn cuốn theo mọi vật trên đường đi của nó, lổn ngổn trong dòng nước nào là bàn, ghế, va li, vật dụng...và những hình nhân lóp ngóp trồi hụp. Jimmy sống sót nhờ cây cột Gothic ở tiền sảnh, bình thường anh vốn thích những cây cột hình múi khế này, nó là kiểu thức kiến trúc của nền văn minh Hy Lạp. Khi anh ôm chặt cây cột đá, nó đã chắn đỡ sức mạnh của cơn sóng thần ập xuống, nhờ đó mà sống sót, nếu không có cây cột này thì anh đã chết ngay lập tức, hoặc giả có sống cũng bị nó cuốn ra ngoài biển rồi. Nước rút ra, mực nước vẫn còn ngập tận cằm, anh quyết định phải bò lên tầng trên, trước khi nước laị ập vào. Anh ráng hết sức để bò lên tầng thứ năm, đã đuối lắm rồi nhưng bản năng sinh tồn không cho phép dừng laị, tiếp tục bò thêm năm tầng nữa thì kiệt sức, trong đầu Jimmy có tiếng thầm thì:” Mình phải sống”, thế là anh bò thêm năm tầng nữa mới tin chắc rằng đã an toàn. Đứng trên ban công nhìn ra biển, anh thấy nước từ đaị dương laị ùn ùn kéo vô, nước ùn lên cứ như mối đùn, làn nước laị rút ra kéo theo vô số đồ vật, có những bóng người chới với. Trong thoáng chốc anh chợt liên tưởng có lần giận dữ bưng thau nước lớn tạt vào ổ kiến lửa, lũ kiến lửa lóp ngóp trong dòng nước không khác chi cảnh tượng lúc này! 

 Đêm tối dần buông, nằm trong lều dã chiến của các tổ chức từ thiện dựng lên. Jimmy rấm rức khóc, lòng hối hận vô cùng. Anh không cứu được Jenny, cô bồ xinh đẹp và nóng bỏng. Khi Jimmy ngẩn lên thấy sóng thần thì Jenny và mấy cô bạn đang chơi đùa dưới nước. Anh chạy xuống nhưng chỉ chừng mươi bước là phải quay ngoắc laị vì tất cả đã biến mất trong bức tường nước ấy, lý trí cho biết việc cứu Jenny là không thể nhưng lương tâm anh đau xót và giằng xé dữ dội. 

 Hôm qua đến đây với bạn gái, anh lái chiếc Tesla mới cáu,  giờ thì bạn gái biến mất trong dòng nước và cả chiếc xe luôn, quần áo tư trang đều bị nước cuốn trôi sạch. Trên người anh chỉ còn mỗi cái quần bơi, quấn mình trong chiếc áo choàng mà hội từ thiện trao cho. Jimmy kiệt sức, thân thể và tâm thần đều rã rượi. Anh thiếp đi, chập chờn cơn mộng:

 Anh và Jenny đang hưởng kỳ nghỉ tuyệt vời ở vùng biển nhiệt đới, bãi biển Blue Paradise mệnh danh đẹp nhất hành tinh này. Ở đây có những khách sạn bên bờ biển đẹp như mơ, thức ăn ngon phải biết và bao nhiêu dịch vụ đủ làm cho du khách sung sướng như ông hoàng.  Anh sống những phút giây đẹp nhất của cuộc đời, tận hưởng mật ngọt với cô bồ xinh đẹp, trên bãi biển này không ít những tấm thân nóng bỏng và hấp dẫn đã khiến cho Jimmy quay nhìn. Jenny ghen:

 - Anh ở bên em mà còn nhìn ngó những tấm thân khác, vậy khi vắng em chắc anh chẳng chừa ai! 

 Jimmy chống đỡ:

 - Em yêu, trong tim anh chỉ có mình em thôi! Có đôi khi cái đẹp nó lồ lộ trước mắt thì  nhìn, ai cũng vậy thôi, đâu cứ nhìn là có tình ý hay nảy sinh ý muốn làm tình! 

 Jenny ngúng ngẩy nũng nịu:

 - Ai mà biết trong đầu anh nghĩ gì.

 - Nghĩ về em chứ còn nghĩ gì! Jimmy cười

 - Nhưng em nào? Jenney hất mái tóc làm duyên và chu môi

 Jimmy ôm Jenny thật chặt, cố gắng hôn nhưng cô ta đẩy ra

 - Anh đi mà hôn những cái đẹp lồ lộ trước mắt ấy! 

 Bất chợt những tiếng hét kinh hoàng khắp bãi biển, Jimmy và Jenny quay nhìn thì thấy một bức tường nước khổng lồ đang lừng lững sau lưng . Jimmy kéo Jenny chạy thục mạng, Jenny ngã, anh laị kéo Jenny đứng lên và chạy tiếp, laị té ngã, laị đứng lên chạy. Bóng của bức tường nước đã đem thẫm sau lưng, lọt được vào trong khách sạn, dưới bậc tam cấp có mấy cô gái với tay kêu cứu. Bức tường nước sắp ập xuống rồi, Jimmy ngần ngừ trong một khắc bèn nhào ra kéo được một người nữa vào trong thì  làn nước vừa ập xuống. 

 Tiếng thét kinh hoàng, mở mắt ra thấy mình đang nằm trong trại cứu tế. Một nhân viên cứu trợ đến gần an ủi:

 - Ác mộng thôi, anh đã an toàn rồi! 

 Jimmy ngơ ngác, toát mồ hôi vừa run, lát sau laị thiếp đi thấy Jenny đang chỉ tay về hướng núi và gọi:

 - Honey, xem kìa, cả vùng núi non đẹp quá! 

 Jimmy nhìn theo hướng tay của Jenny, quả thật là kỳ diệu, ở đây sao giống như hẻm vực Canyon quá vậy! Hôn qua ở đây cây cỏ xanh rì, vậy mà một cơn sóng lớn đã bóc tách toàn bộ lớp đất bề mặt, làm lộ ra những vách đá với màu đỏ thẫm và nhiều hình dáng kỳ lạ, những vân đá đẹp như có bàn tay hoạ sĩ nào đó vẽ nên, những vân đá như mây, laị như thớ gỗ trắc, cẩm lai…Cơn sóng tạo ra những khe vực vô cùng hiểm trở và ngoạn mục, trông còn đẹp hơn cả vùng Canyon bội phần. Jimmy ngẩn ngơ sững sờ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, anh thì thầm: “ Quả là vật đổi sao dời, bãi bể hoá nương dâu là đây! sự biến đổi thật không sao lường được, thế gian vốn vô thường, thay đổi trong mỗi phút giây” 

 Tiếng Jenny lai kêu:

 - Honey, nhìn kìa 

 Anh nhìn theo ngón tay chỉ của Jenny thì thấy trước mắt là một bãi cát dài và rộng mênh mông mà mới hôm qua anh vẫn nằm phơi nắng, giờ thì là một vịnh biển sâu thẳm, khách sạn nằm trên mỏn đá sát mép nước, trông đẹp lắm, vừa nên thơ laị vừa hùng vĩ. Jimmy và Jenny tung tăng nắm tay nhảy xuống vịnh biển xanh màu ngọc bích.

 Nhân viên chữ thập đỏ lay Jimmy:

 - Tỉnh nào, tỉnh nào! Sóng thần đã qua rồi, an toàn rồi!  Anh bị khủng hoảng tâm lý nặng nề, hãy nghỉ ngơi nhé! 

 Jimmy nằm trên chiếc giường dã chiến ú ớ. Anh nhân viên cứu trợ nói gì đấy với người đội trưởng rồi anh ta quay laị chích cho Jimmy một liều thuốc an thần. 

 Ngày hôm sau Jimmy ra khỏi trại, trước mắt anh là cả một vùng đất chết, ngổn ngang vật dụng gãy bể, xe cộ móp méo, cây cối gãy đổ thậm chí xác người còn khắp nơi. Khách sạn nơi anh ở hôm qua vốn sang trọng và lộng lẫy bậc nhất bãi biển này, vậy mà giờ trống huơ trống hoác, những bức từng bê tông nham nhở cứ như vừa mới khởi công xây.  Đây đó những bóng người lang thang như hình nhân, tất cả lặng im đến rợn người. Jimmy lang thang đi tìm, nhìn từng mặt người, hy vọng sẽ thấy xác Jenny, dù anh tận mắt thấy Jenny mất hút trong bức tường nước khổng lồ ngày hôm qua. Jimmy thất thiểu quờ quạng bước đi giữa vùng biển vừa tận thế, mặc dù mới hôm qua được mệnh danh là biển thiên đường.


“*” Tan: Những cái máy dùng đèn halogen hoặc đèn cực tím để làm cho làn da sậm màu.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 04/2020

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.