Hôm nay,  

Tiếng Gọi Của Lịch Sử

06/06/202016:43:00(Xem: 6249)

                                                  

 

            Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020.

            Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống.

            Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi.

            Ngày 6 tháng 6 năm 1944.

            Ngày có tên lịch sử là D-Day.

           
Hue Tran
Ngày lực lượng quân đội đồng minh đổ bộ lên bãi biển Omaha, tỉnh Normandie Pháp Quốc để ngăn chặn âm mưu thống trị toàn cầu của Đức Quốc Xã.

            Ngày D-Day lịch sử đó, tới nay vừa đúng 76 năm, hơn ¾ thế kỷ.

            Và với tôi, kẻ lang thang đặt chân tới địa danh lịch sử đó vào mùa hè năm 2000, tới nay vừa đúng 20 năm.

            20 năm trước, con dế mèn như tôi làm sao có thể phiêu lưu ký tới một nơi chốn lịch sử mà dù có nằm mơ cũng không mơ tới được.

            Số là, thời đó tôi còn quẩn quanh chốn bụi hồng, đi làm kiếm cơm nuôi thân và nuôi gia đình. Công việc kế toán trong văn phòng không khó nhọc chi, nên buổi tối, tôi ghi danh học thêm ngoại ngữ tại Cerritos College. Một, trong những môn học đó là Pháp ngữ vì tôi từng được phụ thân chỉ dạy những nét đặc thù phong phú của nền văn học này.

            Lớp Pháp ngữ tôi theo học do giáo sư Roland Bellugue hướng dẫn. Với quá “ngũ thập cổ lai hy”, có lẽ tôi là học sinh già nhất so với các bạn đồng học. Biết thế, tôi luôn cố gắng, siêng năng, không bỏ một buổi nào trong suốt 3 khóa học. Trước khi bế giảng khóa thứ ba, đó là mùa hè năm 2000, giáo sư Roland Bellugue báo tin mừng là hè năm nay sẽ có chương trình gặp gỡ, trao đổi kiến thức giữa các sinh viên từ khắp nơi, quy tụ về đại học xá tại Paris, trọn một tháng ăn, ở, tại Cité Universitaire. Thầy cho biết, ai muốn tham dự phải ghi danh sớm, và lệ phí không đến nỗi “hết hồn” như tôi tưởng!

            Đúng thời gian đó, tôi vừa đủ tuổi để có thể “về hưu non” dù bạn bè đều cản là còn sức khỏe, làm tiếp đi, sau này tiền hưu nhiều hơn. Ấy thế mà tôi can đảm “Nhiều để làm gì?”

            Ôi, còn đợi gì nữa! Nộp đơn về hưu ngay. Và ghi danh để có mặt trong nhóm 42 sinh viên mọi quốc tịch mà thầy Roland Bellugue sẽ hướng dẫn qua Pháp.

            Chương trình sẽ học văn học sử buổi sáng, ở đại học Sorbonne với các giáo sư của đại học này; buổi chiều giáo sư phụ trách nhóm nào sẽ hướng dẫn nhóm đó tham quan Paris và những vùng phụ cận. Riêng 3 ngày cuối tuần, mỗi nhóm sẽ tự chọn, tham quan xa hơn, tùy quan điểm của giáo sư hướng dẫn và sinh viên trong nhóm.

            Một, trong những cuối tuần rời Paris 3 ngày, chúng tôi đã được thầy Roland Bellugue cho cơ hội ngàn năm một thuở, là hướng về Normandie, thăm bãi biển Omaha mà ngày D-Day lịch sử năm 1944 hàng trăm ngàn quân đội đồng minh đã đổ bộ cho nền Tự Do Nhân Bản của thế giới.

       Hôm đó, trời bất ngờ đổ mưa tầm tã. Đa số chúng tôi không chuẩn bị đủ áo ấm. Tới Caen, cách bãi biển Omaha không xa, trời ngớt mưa nhưng gió và mây xám vẫn vần vũ. Chúng tôi được ghé vào bảo tàng viện ở Caen để chờ trời quang đãng hơn, và cũng là dịp thăm nơi trưng bày và lưu giữ những hình ảnh về cuộc đổ bộ vĩ đại của quân đội đồng minh ngày 6 tháng 6 năm 1944.

            Tại đây, tôi và các bạn cùng nhóm đều mua nhiều loại postcard về ngày lịch sử đó.

            Chúng tôi chỉ dừng ở Caen khoảng 2 tiếng đồng hồ, rồi lại lên xe bus để tới thăm nghĩa trang quân đội Mỹ ở bãi biển Omaha. Chính nơi đây, hơn nửa thế kỷ trước, rạng sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944, khoảng 120 ngàn quân nhân đồng minh và hơn 20 ngàn chiến xa đã đồng loạt đổ bộ tại 5 địa điểm đã chọn sẵn.

           
Hue Tran 02
Con đường dẫn tới địa danh lịch sử đó là làng Vierville, ngôi làng nhỏ với những cánh đồng cỏ thả bò, cừu, những mái nhà thấp, những đền thờ rêu phong, nhưng trên tinh thần thì đây chính là linh hồn Normandie vì làng Vierville đã đi vào lịch sử thế giới cùng với bãi biển máu Omaha.

            Khi xuống xe bus ở trước nghĩa trang, trời lại mưa nhẹ hạt nên tôi chưa vội chụp hình, chỉ kiểm lại xem máy còn bao nhiêu phim. Nhìn thấy con số 26, tôi yên trí đây là cuộn phim 36 tấm.

            Rồi mưa cũng ngưng và trời đã sáng sủa hơn.

            Đứng trước tượng đài, nơi vinh danh những người đã chết cho Tự Do, tôi giơ máy lên, bấm một tấm. Đối diện tượng đài là một cái hồ lớn, với các loại hoa đang nở. Cuối hồ là nghĩa trang quân nhân Hoa Kỳ với 172 mẫu trải cỏ xanh ngắt mênh mông, trên đó 9,386 cây Thánh Giá trắng toát khắc tên những người đã được an táng và 307 mộ bia vô danh.

Tôi lại giơ máy lên, bấm một tấm, với lòng trân trọng người xưa.

            Dọc theo nghĩa trang này là bãi biển Omaha nơi bao người đã ngã gục trước những họng đại bác của Đức Quốc Xã!

            Tôi bỗng cảm thấy cực kỳ rung động khi nhận biết mình đang đứng trên nền đất lịch sử thế giới. Để cảm nhận đầy đủ, tôi đã cúi xuống, tháo giầy.

Khi đôi chân trần vừa chạm trên nền đất lạnh thì trời bỗng nổi gió lớn. Gió lộng ào ào như cơn lốc bất chợt từ đâu tới. Mọi người vội vã chạt rạt vào trong. Tôi nghe các bạn gọi tôi cùng chạy nhưng tôi không bước nổi! Hình như có ai đang giữ tôi lại. Không những không chạy vào, tôi còn bình tĩnh nhắm mắt lại, chờ đợi.

            Lúc đó, tôi chỉ cảm thấy mình nên đứng yên, chờ đợi, mà không biết là chờ đợi cái gì!

            Gió vẫn hú từng cơn, nhưng tôi không sợ hãi. Hình như có nhiều người xung quanh đang xô đẩy nhau. Nhiều ngôn ngữ trộn lẫn trong tiếng gió hú. Gió càng lớn, người càng đông, ngôn ngữ càng đầy … Tới một lúc, tôi nghe được tiếng thúc giục rộn rã, rất rõ ràng, lại như có ai đang phiên dịch trực tiếp cho tôi: “Tiến lên! Tiến lên đi! Tự Do ở trước mặt kia! Hãy tiến lên! Hãy tiến lên đi! …”

            Một vòng tay ôm lấy tôi.

            Tôi mở choàng mắt ra.

            Đó là một người bạn cùng nhóm. Bạn vừa lắc mạnh vai tôi, vừa hỏi:

-         Are you OK?

-         Yes, I am

Nhưng không thể kìm giữ cảm xúc, tôi ôm mặt, òa khóc.

-         Are you sure you OK?

-         Yes,

-         Why are you crying?

-         I am really moved by their courage.

Người bạn gật gù, lẩm bẩm “It is sad!”

Tôi biết chắc rằng, cái cảm giác “sad” của bạn mình không thể nào so sánh  với cơn lốc mà tôi vừa trải qua. Cái cảm giác “sad” nhẹ nhàng quá, mà cơn lốc thì mãnh liệt vô cùng. Cơn lốc đó là tim óc, là máu xương của bất cứ ai còn biết khát khao Tự Do và Nhân Quyền khi hai thứ đó bị tước đoạt.

Trước khi rời bãi biển Omaha, trời đã chạng vạng tối. Tôi giơ máy, bấm một tấm. Không thấy ánh flash!  Nhìn vào máy thì hỡi ơi, phim vẫn nằm ở số 26, có nghĩa, đây là cuộn phim 24 tấm, số tăng tới 26 chỉ là 2 tấm phụ trội thông thường mà tôi đã xử dụng rồi!

Trời hỡi, trong chuyến đi, tôi đã chụp biết bao cuộn phim, sao lại có thể sơ sót đến thế! Sao lại có thể không có một tấm nào ở nơi đầy di tích lịch sử như thế này!

Rời Normandie, mọi người đều nao nức vì điểm tới là St. Malo, một thành phố cổ kính ven biển mà chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại một khách sạn trong tỉnh.

Lấy phòng xong, ai cũng vội vã ra phố chơi. Chỉ có tôi ngồi lại, buồn bã giở xấp card postal mua ở Caen ra xem. Ngay tấm đầu tiên, trong một xấp lộn xộn đủ loại, là tấm card ghi lại 2 phần, phần trên, cảnh tượng đài trước hồ và phần dưới là cảnh nghĩa trang với những cột Thánh Giá trắng toát, lạnh lẽo.


Hue Tran 03
Đây chính là hai nơi tôi muốn lưu lại hình ảnh trong máy của mình trước khi lên xe bus, mà máy đã hết phim!

Một tấm cart postal, ghi đúng 2 cảnh này, không thêm, không bớt, không gì khác nữa!

Tôi buông cả xấp cart còn lại xuống mặt giường, không xem gì nữa! Đã quá đủ! Đã quá đủ rồi!

Có phải đây là tín hiệu cho tôi? Có phải những người năm xưa, trong một phút giây thiêng liêng mãnh liệt đã bắt gặp tấm lòng trân trọng nơi tôi?

Sự trùng hợp quá lạ lùng khiến tôi càng nhìn tấm card, càng tin như thế. Chính tấm carte postal này là thông điệp thầm lặng cho tôi biết rằng, cơn lốc bất chợt trên bãi biển Omaha và những tiếng thúc giục huyền bí không phải là ảo tưởng…

Khi đi qua cửa phòng tôi, thấy còn ánh đèn, giáo sư Roland Bellugue đã gõ nhẹ. Thầy luôn quan tâm tới những gì thấy hơi bất thường ở đám học sinh.

Tôi mở cửa, mời thầy vào, đưa thầy xem tấm postcard và nói với thầy về những xúc động đầy ắp trong tôi.

Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thầy cho rằng tôi quá nhạy cảm mà tưởng như thế. Nhưng tôi đã sửng sốt khi thầy dịu dàng nhìn tôi, nói rằng, có thể, tôi đã vừa được “gặp” họ.

Tôi mở lớn mắt, khiến thầy phải bổ túc thêm điều thầy muốn chia sẻ, là những người năm xưa đó, cũng như vạn hữu này, không có sinh, cũng chẳng có diệt. Nếu nhìn bằng sự trong suốt của tâm linh, ta có thể thấy được sự sinh diệt, còn mất chỉ là chuyển hóa, Sự chuyển hóa không ngừng nên đủ duyên gặp đồng tâm thì giao cảm, qua sát na đó, lại nhẹ như mây, hòa vào vạn hữu, theo giòng chuyển hóa.

Ngay khi đó, tôi không hiểu rõ lời giáo sư Roland Bellugue vì tôi đã để cái lăng kính phân biệt của mình bận rộn với những ngạc nhiên và thắc mắc, rằng giáo sư là người Tây Phương, sao cũng mang những tư tưởng sâu sắc về Đông Phương như vậy? Nếu tôi không quá nông cạn và khờ khạo thì cơ duyên hôm đó, có thể tôi còn được giáo sư chia sẻ bao điều thâm thúy hơn là những đề tài giới hạn trong bài học ở trường lớp!

Từ Pháp Quốc dẫn đám học trò về lại Hoa Kỳ, giáo sư Roland Bellugue không còn đứng lớp nữa. Thầy bị ho nhiều và được chẩn bệnh là ung thư phổi, thời kỳ chót!

Tang lễ thầy có mặt hầu hết những học sinh đã được thầy tận tụy giảng dạy. Trước linh cữu thầy, tôi nghe đáy lòng mình thầm thổn thức “Thầy đang chuyển hóa! Thầy đang chuyển hóa thôi mà!”

Và một buổi chiều, ngồi dưới gốc bưởi trong vườn sau, tôi đã chợt mỉm cười với một bóng mây bay qua.

Vì đó có thể không chỉ là bóng mây.

Vì đó có thể là giáo sư Roland Bellugue.

Thầy sẽ ôm tập bài soạn bìa xanh quen thuộc, bước vào lớp, vui vẻ bắt đầu buổi học bằng câu “Bonjour tout le monde”.

76 năm lịch sử đã qua.

20 năm tình cờ lưu dấu.

Nhìn lại thì dường như:

“Không năm, không tháng, không ngày

Thời gian là hạt bụi bay vô thường”

 

Huệ Trân

(dăm sát na tưởng niệm)

 

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.