Hôm nay,  

Ngắn Dài Chi Đâu

04/07/202010:50:00(Xem: 3985)

 


Đã tự nhủ lòng không xem giờ, nhưng thỉnh thoảng con mắt vẫn cứ liếc nhìn vào cái góc màn hình, thời gian trôi qua sao mà chậm dễ sợ, cứ như rùa bò sên chạy. Hải lấy mảnh giấy nhỏ dán lên góc màn hình, che con số hiển thị để khỏi phải uể oải sốt ruột.

Thời gian trong hãng dài lê thê, dù chỉ là giờ hành chánh chứ có phải làm thêm chi đâu, những lúc bận bịu thì còn đỡ, công việc khoả lấp thời gian, những lúc rảnh rỗi thì thời gian chẳng biết làm gì cho hết. Người ta thường lý luận: "Thời gian tâm lý không khớp với thời gian vật lý” là vậy. Không ngờ Hải laị “nếm vị" của nó một cách thấm thía như thế.

Mới thứ bảy tuần rồi chứ đâu lâu lắc gì, nó và lũ bạn kéo vào hộp đêm chơi, chừng chưa hết chai Chivas mà đã gần đến giờ đóng cửa rồi. Nhiều khách lần lượt ra về, cả đám tiếc rẽ:” Trời, thời gian sao qua nhanh quá, mới chơi chút xíu chưa đã gì mà gần hết giờ rồi!” 

Bữa cơm chiều chủ nhật, cả nhà quay quần sum họp vui vẻ bên bàn ăn. Nội tóc bạc da mồi nhìn Hải trìu mến, vò đầu khen nó cao ráo đẹp trai. Nội cười móm mém:

 - Con có bồ chưa? dẫn về cho nội coi mắt, kẻo nay mai chết mà chưa kịp thấy cháu dâu.

Hải cười  mắc cỡ chưa kịp trả lời thì mẹ nó đỡ lời:

 - Cháu còn lo học hành, chắc chưa có bồ đâu, thời gian còn dài, ông lo gì không kịp thấy cháu dâu.

Ông cười hềnh hệch:

- Coi bộ vậy chứ thời gian qua nhanh lắm, nhiều khi chợt nhìn laị mà giật mình. Mới hồi nào ông còn trẻ khoẻ giống y như thằng Hải, ông lấy bà về, sanh ra ba thằng Hải, vui buồn với con cháu chưa bao nhiêu mà giờ sắp xuống lỗ rồi, thời gian qua mau quá! 

Ba nó góp lời:

- Ừ, tía nói phải, thời gian qua nhanh thật đó! mới ngày nào thằng Hải còn lon ton chạy theo ôm chân con mỗi khi con đi uống cà phê, vậy mà giờ đã có bồ dẫn đi quán cà phê rồi.

Bữa cơm thật ngon và đầm ấm, tình cảm gia đình thân thiết biết bao. Hải thương nội, thấy nội già suy hao mà lòng xốn xang, thời gian qua nhanh thật đấy, hồi nào nó còn quấn quít bên nội, nội như cây thông, nó như con thỏ dưới chân. Giờ thì nội già nua thấy thương làm sao. 

Cả nhà vui vẻ trò chuyện, chợt bà Tư hàng xóm qua xin chén nước tương. Bà Tư xởi lởi, tiếng nói rổn rảng, chưa thấy mặt đã nghe gịong rồi, người ta nói:” Âm thanh nhanh hơn vật chất” là vậy:

- Thiệt tình con nhỏ, sớm mai nó đi chợ, tui biểu nó mua nước tương. Nó dạ dạ ngọt xớt, vậy mà giờ tới bữa ăn thì hổng có, bực mình hết sức vậy, tánh tình tâm lơ tâm lất, nói trước quên sau.

Má nó cười:

- Hơi đâu bực dì Tư, chai nước tương này còn lưng lửng, dì cầm về bển ăn. 

Bà Tư cảm ơn và nói hôm sau đi chợ sẽ mua chai khác trả. Má nó cười:

- Trả treo gì dì Tư, chút xíu nước tương có đáng gì, xóm giềng với nhau mà.

Bà Tư cười rộn ràng:

- Con nhỏ nhà tui nó chậm như rùa, sai nó đi chợ hay làm việc gì mình cũng phát sốt cả ruột, biểu nó xuống xóm dưới mượn cái xửng về hấp bánh, mình chờ nóng nước đỏ gọng cũng chưa thấy nó dzìa.

Nội kêu bà Tư ngồi chơi, làm chén cơm rồi về. Bà Tư kéo ghế ngồi quất một hơi hết ly trà đá chứ hổng ăn, bả nói chút nữa về ăn với tụi nhỏ cho vui. Bà Tư chép miệng:

- Thiệt tình tui thấy muốn đứt ruột nát gan, hôm qua đi thăm bà Bảy xóm chợ mà thấy thương. Bả bị ung thư gan giai đoạn cuối, nhà thương trả về, giờ nằm nhà chữa trị bằng đông y với ngoại phương, hôm nào có tiền thì chích mocphine cho đỡ đau, khi không có tiền thì kêu khóc rên la vì đau đớn. Bà Bảy mong chết cho đỡ đau thân xác nhưng thời gian cứ như ngừng trôi. Bà Bảy mới ngoài năm mươi chứ nhiêu đâu, con cái còn chưa kịp dựng vợ gả chồng hết. 

Nội tặc lưỡi:

- Đời vô thường, bệnh tật có oan gia, sống chết bất kỳ, kiếp người khổ thật. Có người muốn sống thêm để hưởng nhưng vẫn cứ chết, có người khổ quá muốn chết thì cứ sống nhăn ra đấy. Thời gian cứ trêu ngươi, người thì thấy chậm chịu hổng nổi, kẻ thì thấy nhanh quá trời.

Bà Tư giọng vẫn rổng rảng:

- Tui xin lỗi anh Ba và cả nhà, đang ăn cơm ngon lành mà tui nói chuyện bệnh tật nghe mất ngon, thôi tui hổng nói chuyện này nữa, nói xong bà quay qua nhìn Hải. Bà Tư ngày nào chẳng thấy nó, vậy mà hôm nay bà laị tỏ vẻ ngạc nhiên như đã lâu chưa gặp:

- Chèn đét ơi, thằng nhỏ lớn dữ đa, mới ngày nào con ôm chân tiá nó, đòi theo tía đi uống cà phê, vậy mà giờ nhổ giò ra dáng thanh niên rồi! thời gian qua lẹ quá anh Ba ơi, tụi nhỏ lớn lên còn tụi mình già khú đế. 

Nội cười hề hề:

 - Thì mình già để tụi nhỏ lớn chứ chị, chị có tính gì chưa? Mình tính trước chứ lỡ ngủm bất tử mà không cụ bị gì thì khổ con cháu.

Bà Tư cười thoải mái hết sức:

- Tui cũng tính toán trọn gói rồi anh, Tui mua hai huyệt đất và xây kim tĩnh rồi, tui với ông nhà có chết bất ngờ thì con cháu chỉ việc đút vô là xong, khoẻ re như bò kéo xe. Mà tui nói anh Ba nghe nè, hai huyệt đất tốt lắm, mấy thầy địa xem xong khen nức nở, mấy ổng nói hạp tuổi, hạp mạng và phong thủy thạnh lắm.

Nội nói:

- Chị tính vậy cũng phải, tui thì tính khác, nếu có chết thì thiêu cho khoẻ. Tuị nhỏ mang tro ra biển mà rải hoặc bón cho cỏ hoa trong vườn cũng được. Khi sống thì mình mượn cơm gạo từ đất, khi chết thì mình trả laị cho đất thôi, cái xác chết có gì qúy mà phải xây mộ to lăng lớn phải không chị Tư? đời coi vậy chứ vô thường lắm chị Tư ơi, sống chết hổng ai biết trước được, thời gian qua mau lắm, vun vút như tên bay đạn nổ.



 Giấc tối, tụi thằng Tùng, Khải, Đức gầy độ nhậu. Hải phải chở con ghệ đi mua mấy món đồ nên đến trễ. Thằng Tùng nóng nảy:

- Mày làm gì mà đến trễ vậy? chậm như rùa, thời gian vui vẻ có nhiêu đâu? Tụi tao chờ mầy đã làm hết nửa két bia rồi, giờ phải phạt:” Vào ba ra bảy.” 

Thằng Khải nghi ngờ:

- Thằng Hải xưa nay tánh tình nhanh nhảu, mẹ nó thường nói:” Xóm có ai chuyển dạ, nhờ thằng Hải đi rước cô mụ là nhanh nhất”, vậy mà tối nay nó đến trễ, chắc là bị con ghệ hành!

 Cả đám bạn nhao nhao:

- Thời giờ là tiền bạc, bắt anh em chờ chỉ vì con ghệ hả mậy? lần sau hổng hú mầy nữa. 

Thằng Đức can gián:

- Nói thì nói vậy, anh em đâu nỡ bỏ mầy.

Cuộc nhậu laị tưng bừng, vui bể quán luôn. Bất thình lình thằng Đức tuyên bố:

- Cuối năm này tao lấy vợ!

Đám bạn chưng hửng, mặc dù ai cũng biết thằng Đức cặp con Lành hai năm nay. Thằng Đức nhỏ tuổi nhất bọn, giờ bóp kèn vượt qua mặt an hem. Cả nhóm cụng ly chúc mừng thằng Đức. Hải vỗ vai Đức:

- Ham vui hả mậy? cưới thì cưới nhưng liệu hồn nhe mậy, đừng để vợ đè đầu cỡi cổ nha mậy! 

Thằng Khải có máu hài và tếu nhất bọn:

- Vợ nó cưỡi ngựa thì sướng nhưng nó đè đâu cỡi cổ là không được nghe mậy?

Thời gian trôi qua thật nhanh, bao nhiêu dự tính chưa kịp làm, nhìn laị thì dở dang hết. Tháng năm chồng chất mặc dù qua như nước chảy hoa trôi. Ngày giờ đi mãi không về, chỉ có mình là chậm lụt tụt laị đằng sau, ở mãi nơi này.

Người ta nói: "Thời gian là tiền bạc” vậy mình là tỷ phú, có nhiều vô tận, xài mãi không hao hụt tí nào. Ấy vậy mà cũng có lúc thấy thiếu thảm thương, nhiều người than:”không có một giây để thở”. Những lúc trong phòng thi, chao ơi thời gian  nhanh như hoả tiễn, bài làm chưa xong thì hết giờ rồi. Những lúc quấn quít bên người yêu thì ngược laị, thời gian như thỏ chạy én bay, mới chút xíu mà đã hết giờ rồi. Với những vận động viên điền kinh cũng thế, phải tranh thủ từng khắc, từng phần trăm của giây, ấy vậy mà còn không kịp, tốc độ thời gian sao mà nhanh kinh khủng quá. Cũng là thời gian, cũng cái đồng hồ nhưng với người tù thì nó sao mà chậm chạp quá, chậm đến độ tưởng chừng như ngừng trôi, bới vậy người ta mới bảo:” Ngày ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài”. Với người khổ đau vì mất tự do, bị giam cầm thì một giây dài vô tận. 

Tháng chạp laị về, nhà vườn tất bật chăm hoa kiểng chuẩn bị mang ra chợ, đem lên thành. Những lò mứt đỏ lửa suốt ngày, mùi mứt gừng bay thơm trong gió. Những xưởng làm đồ thủ công mỹ nghệ cũng rộn ràng làm hàng cho dịp tết. Tết này nội sẽ tròn trăm tuổi, nhân gian này người được trăm tuổi chẳng có bao nhiêu, trăm tuổi nhưng còn minh mẫn thì laị càng hiếm. Nội sanh vào giao thừa của trăm năm trước, cả nhà và họ hàng tính giao thừa này sẽ sum họp mừng tuổi nội, sẽ đón một cái tết huy hoàng. Tiếc thay thời gian chẳng chìu người, chẳng chờ ai, hôm rằm tháng chạp, tía của Hải chở nội lên chùa lễ phật. Nội tuy minh mẫn nhưng đôi chân không còn đi đứng nổi, sau lễ chùa về, nội vẫn ăn cháo và tỉnh táo lắm. Nội ngủ trưa, thế rồi nội đi luôn. Cả nhà thương tiếc nội, dù biết thượng thọ trăm tuổi cũng là hiếm có ở đời này, thời gian qua nhanh quá, trăm năm cũng như một giấc mơ. Theo di nguyện của nội, cả nhà đưa nội đến lò thiêu, người ta bảo chỉ trong ba giờ là xong, chiều có thể lấy tro về. Ngồi chờ thiêu có ba giờ mà sao dài đằng đẳng, tưởng chừng như vượt qua cả trăm năm của đời nội, chỉ nội trong ba giờ mà thấy được vĩnh biệt thiên thu. Hồi nội sống, nội bảo sau này tro cốt của nội rải ngoài biển hay bón cỏ hoa cũng được. Tánh nội thế, phóng khoáng, tự do, không câu nệ lề thói. Nội hâm mộ Phật pháp, hiểu biết thâm sâu, hành trì tinh tấn. Có lẽ nội hiểu rõ bản chất thật sự của thân xác này, của cuộc sống này nên nội cực lực chống laị việc xây mộ to lăng lớn, đám ma rình rang. Nội thấy những cái quan tài to chà bá là nội cười:” Quan tài càng to thì càng vô minh, cái xác chết hôi thúi có gì quý mà phải tốn tiền đóng quan tài to!”. Nội còn nói:” Mai kia nội chết, đừng nhét nội vô cái quan tài kín mít ấy, cứ để xác nội trên tấm ván, đặt vài bông hoa xung quanh rồi đẩy vô lò thiêu”. Nội di nguyện laị:” Không nhận phúng điếu, vòng hoa, liễn… nếu có thể thì đặt một cái hộp quyên góp mỗi người ít đồng, đem tiền đó giúp đỡ bà con có hoàn cảnh bệnh tật khó khăn trong xóm làng, coi như chút quà cuối cùng của nội khi về bên kia thế giới”. Nội nhắc tiá Hải cúng thất cho nội một cách đơn giản thôi!

 Sau bốn chín ngày, cả nhà thuê tàu mang tro cốt nội ra biển. Sóng nước trùng dương mênh mông và xanh thẳm, mây trời thong dong bay trắng cả bốn phương. Thầy trì chú, tụng Tâm kinh lần cuối cho nội. Những nắm tro bay trong gió, những nắm tro hoà vào làn nước biển xanh thẫm. Trăm năm của nội còn laị một chút tro dính trong tay nó, trăm năm của một kiếp người giờ là cái hũ cốt trống không. Trăm năm của nội giờ nhập nhanh vào đaị dương, không đầy phút giây, trăm năm nhanh thật!

Tía của Hải xúc động mạnh trong tâm, Hải biết tiá thương nội lắm nhưng tía không khóc, tía thả nắm tro cuối cùng và thì thầm:

- Nhanh quá tía ơi! Tiá về với Phật nha tiá, xác thân tro bụi này vui với đaị dương, trăm năm nào có ngắn dài chi đâu, chỉ nội trong phút giây n

Ất Lăng thành, 072020

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.