Hôm nay,  

Kể Chuyện Mà Chơi

01/08/202010:58:00(Xem: 4102)

 


Chẳng biết y trở thành tay kể chuyện tự bao giờ? Y vốn là người chẳng có tài cán hay năng lực chi cả, chỉ được mỗi cái thật thà như đếm và chịu đọc sách, thỉnh thoảng cũng đi đây đi đó nên thu thập khá khá chuyện để mà kể. Thiên hạ nhiều khi cũng khóc cười theo chuyện của y, cũng có kẻ chửi, khi dễ cho là chuyện của y nhạt như nước ốc. Y cười hì hì như thằng khờ chẳng chấp chi, vì y vốn tâm niệm: “Kể chuyện chơi thôi mà!”

Y sanh ra và lớn lên ở một trấn nhỏ thuộc vùng quê xa xôi, ở đây tuy nghèo, dân cư mộc mạc chất phác đến độ quê mùa, nhưng laị đầy ắp những huyền sử hấp dẫn, chuyện cổ sử hào hùng và tàn khốc vào hàng bậc nhất của xứ sở này, thỉnh thoảng có người laị khẳng định đã gặp những nàng ma nữ đẹp thiên kiều bá mị thường khóc dưới đêm trăng. Cái trấn nhỏ ấy đã qua bao đời chủ, tuy khác giòng giống nhưng oanh liệt không ai bằng. Trấn nhỏ nhưng trầm tích chứa trong lòng không hề nhỏ chút nào! Không biết nhân duyên thế nào mà y laị lang bạt bỏ trấn cũ nọ để đến sinh sống ở trấn Mộc Lan này. Kẻ mau miệng bảo may mắn nhưng cũng có người laị hàng hai: “ Chắc gì may mắn? có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Y nghe thế nhưng cũng cười xuề xòa thôi, thời thế nó thế, số phận đẩy đưa, có mấy ai làm chủ được số phận đâu?  Người đời nói gì thì nói, trước sau y cũng chỉ ngoác miệng ra cười hềnh hệch như thằng đần, có khi thì nhếch mép cười ra vẻ khinh bạc, hoặc giả cười giả lả nói đa tạ thế thôi.

Y lên rừng, xuống bể, vào thành ra trấn, về đồng chơi nội…có đôi khi dừng chân ở góc phố nào đó, làm ly cà phê kiểu Ý, ngồi ghi ghi chép chép. Người ta chẳng biết y viết gì mà cắm cúi viết hoài, có người ngứa miệng:

- Lão gàn ấy mà! viết gì mà mải miết viết hoài? rượu không uống, gái đẹp không nhìn, đời vui không hưởng…gàn sao mà gàn thế! cái lão viết ra có làm cho lão sướng chăng? Nó có thú bằng uống rượu chơi gái chăng? Có giúp lão no bụng chăng?

Nghe thế, y ngước mặt lên, cái bản mặt sao mà ngờ nghệch cười tủm tỉm:

- Cái sướng của ta làm sao ngươi biết được? 

Gã kia nghe thế bèn vặn:

- Lão sướng thế nào? Hí hoáy viết là sướng sao? thế lão có điên không?

Y không cười tủm tỉm nữa mà cười thành tiếng khanh khách.

- Cái điên của ta ngươi có muốn điên theo cũng không thể điên được đâu! 

- Vậy thì lão cứ sướng với cái điên của lão nhé! Tôi đi hưởng cái sướng của tôi.

- Ta có bảo ngươi xía vào cái điên của ta đâu? ta điên với cái sướng của ta, ngươi cứ việc sướng với cái tỉnh của ngươi, chưa biết cái điên của ta và cái tỉnh của ngươi cái nào hay  hơn?  Ngươi không thể nào biết cái điên của ta sướng ra làm sao và ta cũng không làm sao biết được cái tỉnh của ngươi sướng như thế nào.

Người kia nghe thế bèn bỏ đi, y laị tiếp tục rị mọ viết, lúc thì y đi chỗ này chỗ nọ kể chuyện cho người đời nghe chơi. Chuyện y kể bên Tây bên Tàu cũng có, chuyện cổ chuyện kim cũng có, đôi khi laị kể chuyện nhơn tình đạo lý, những lúc bực bội quan quyền nhận giặc làm cha thì y kể chuyện sử, chuyện dân tình quốc sự… Những người thường nghe y kể chuyện thì nhận thấy y khoái kể chuyện thiền môn, chuyện chữ nghĩa, những lúc y kể chuyện ấy thì mắt y sáng long lanh, nhìn xa xôi diệu vợi, thân xác y ngồi đó mà tâm thần y như chơi vơi nơi xa khơi, hoặc là nhập thần vào câu chuyện chứ chẳng còn sống với thực tại nữa. 

Y đã từng có ý định “ Thấy người sang bắt quàng làm họ”, gởi thiệp xin cầu kiến kết thân, ký sách tặng những bậc cây đa cây đề… hy vọng bọn họ để mắt đến, hoặc mong được bọn họ cho nhập hội, tiếc thay chẳng thấy bọn họ hồi âm, có thể bọn họ vất vào sọt rác, hay coi như những loại quảng cáo rẻ tiền, cũng có người thương haị nên khen vu vơ, trổng trơ vài lời khách sáo cho có lệ. Có lẽ nhờ thế mà y có được phút giây giật mình tỉnh ra, từ đó  y bỏ ý định kết thân hay nhập hội. Y an phận vui lòng với phần số của mình, ngày ngày rong chơi kể chuyện  với người đời.

Thiên hạ vốn thiên sai vạn biệt, có người không ưa nhưng cũng có một số người thích, chịu cái điên của y, thậm chí vui với cái điên của y, mến mộ và có vài lời khen tặng chân tình. Không biết có phải vì quá cảm kích nên y càng kể chuyện hăng say hơn, cái điên của y càng ngày càng nặng hơn. Không ít lần y dốc cạn những đồng tiền ít ỏi để mua giấy hoa tiên chép thơ tặng khách qua đường. Người ta cười cợt, có người vất ngay tại chỗ, cứ như mấy miếng giấy quảng cáo trĩ mạch lương, keo dính chuột, sơn Nippon… Cũng có người chịu đọc lướt qua rồi nhét vào túi. Một hôm kia, có gã trung niên đi qua. Y kính cẩn tặng mấy tờ hoa tiên chép thơ, người ấy trân mắt nhìn y rồi chăm chú đọc, đọc xong lật qua lật laị xem xét tờ hoa tiên kỹ lắm. Kế người ấy bảo:

- Anh có thể vào vào rượu bên kia đường cùng ta?

Y gật đầu và bước theo người ấy, an vị và một chai rượu Tây ra, gã trung niên ấy vặn hỏi:

- Anh làm thơ như thế liệu có hối hận chăng? thời buổi hôm nay không có chỗ cho kẻ làm thơ, laị càng không có đất cho những người kể chuyện mà chơi như anh đâu.

Y thật thà giải bày:

- Không hề hối hận, âu cũng là nghiệp chữ. Xin cảm ơn tân khách đã có lòng hạ cố, xin nhận đây một lễ bái làm huynh. Thật tình mà nói, mười mấy năm nay ai cũng bảo đệ điên, ai cũng cho đệ không xứng đáng góp mặt cùng mâm cùng chiếu, chưa có ai đối xử với đệ như huynh cả. Đệ xin đa tạ tấm lòng trân quý của huynh

Gã trung niên dường như có vẻ hữu tình liên đới:

- Cảm ơn hiền đệ, ta lang bạt phong trần cũng hơn nửa đời người, gặp đủ hạng người trong thiên hạ, nay gặp đệ ở đây coi như cũng có duyên phần. Ta qúy con người đệ, cung cách đệ và nhất là những giòng chữ đệ viết ra,  mời đệ một chén này!

Y bất chợt lung túng:

- Đệ đã thọ giới, mười lăm năm nay môi chưa chạm một giọt rượu nào.

Gã trung niên cười ngất:

- Thảo nào thiên hạ bảo đệ điên, thế hôm nay vì tình huynh đệ cũng không dám một lần vượt qua sao?

Y thật sự lung túng, chữ nghĩa bay biến mất, không tìm được lời nào để chống chế bèn bưng chén rượu uống cạn. Buổi sơ ngộ thật viên mãn nhưng rồi cũng đến lúc phải giã từ, gã trung niên dúi vào tay y một tấm danh thiếp và bảo:

- Sau này có việc, hãy theo địa chỉ này mà đến.

Y cầm tấm danh thiếp nhưng cũng chẳng nhìn trên ấy viết gì, chỉ nhét vào cái đãy vải đeo bên mình. Kể từ buổi tao ngộ lạ lùng ấy, y càng ngày càng điên hơn, kể chuyện chơi mà quên cả bản thân, quên cả thời gian và quốc độ, càng kể chuyện thì càng điên, điên đến độ như lên đồng nhập cơ, như phê thuốc phiện, như nghiện xì ke. Một hôm y kể chuyện quan quyền bức hiếp, hạnh hoẹ dân lành; chuyện giặc Tàu xà xẻo non sông, biển cả; chuyện triều đình qùy gối ôm chân…Y còn đang say sưa thì nhận được tin nhắn của mật vụ hăm dọa:

- Hãy cẩn thận! chuyện của ông sẽ làm cho ông gặp rắc rối đấy! 

Bạn bè y biết chuyện, bèn khuyên y:

- Thôi, né tránh chuyện nhạy cảm đi! việc đó để triều đình lo! 

Y thấy lòng trống trải dễ sợ, đành cảm ơn cho có lệ chứ thật tình y chẳng muốn nói gì thêm. Bạn bè y phần nhiều đều công thành danh toại, có nhiều đứa làm quan lớn, địa vị cao, tài sản kếch xù. Có đứa trở thành thương gia nghiệp chủ, có kẻ thành bác sĩ, kỹ sư… Nói chung bọn họ đều là ông nọ bà kia cả, bọn họ rất lanh, rất khôn và nhạy bén chứ hổng có điên và hậu đậu như y. Trong đám bạn ấy, có đứa lấy tình đồng môn, kêu y ra quán nhậu nhắn nhủ:

- Kể chuyện tiếu lâm, chuyện tục, chuyện hài có phải vui hơn không? kể chuyện chân dài, đaị gia, gái ghú có phải hấp dẫn hơn không? chuyện thời thượng bây giờ là khoe thân, khoe của, ăn chơi, trai trẻ lái máy bay bà già, trâu già gặm có non, chuyện tình tay ba, tay tư…cả khối chuyện ấy không kể. Lão kể ba cái chuyện dân tình quốc sự chi cho nguy hiểm, lão đừng động đến nữa nhé! Không chừng gặp tai nạn bất ngờ, bị giang hồ chém lầm, bị đuổi khỏi chỗ trọ…lão cứ kể mấy chuyện mà tôi vừa gợi ý đó, tên lão sẽ nổi như cồn laị còn có chút cháo. 

Nghe bạn khuyên thế, y ngoác miệng cười hề hề như thằng ban khỉ, y không trả lời nhưng bụng y đang thầm thì:” Bố khỉ nhà anh, khôn lanh có thừa! thiên hạ đầy những người như anh thảo nào giang san này sứt mẻ, xã hội suy đồi, đạo đức hư hỏng, giềng mối lơi lỏng, văn hoá thụt lùi, ngôn ngữ lai căng, chữ nghĩa nhảm nhí…” Nghĩ thế thôi chứ y không nói ra. Y biết nói với những người như thế thì thà nói với đầu gối của y còn hơn, dù sao y cũng cảm ơn anh ta. Hôm nọ y lại quay về với sở trường của mình, y kể chuyện thiền môn. Xứ sở cố cựu của y ngày nay chùa chiền mọc lên như nấm, toàn những ngôi chùa to lớn đồ sộ cả ngàn lượng vàng, vàng son lộng lẫy, cái thì như cung vua phủ chúa, cái thì như tử cấm thành Bắc Kinh. Tà sư ma tăng quanh năm bày trò cúng sao, giải hạn, mở ngải, trừ tà , phong thủy, cúng đám… giá cả niêm yết rõ ràng, thậm chí cho trả góp. Mấy vị ấy rủng roẻn bạc tiền, ăn uống lu bù, du hí khắp nơi, hội hè tung tẩy… Y thấy thương cho những tín đồ mê muội, cung phụng quá đáng  cho những kẻ lợi dụng lòng tin. Thế rồi giọng của y chùng xuống, y kể về ông tăng nơi am vắng, mắt trừng suốt ba ngàn thế giới, thân gầy guộc mà vững như bàn thạch, gió giông chẳng suy suyển, lợi lạc không lung lay, uy quyền không khuất phục. Bàn tay sư gấy, tấm cà sa mong manh mà chắn cả cuồng phong để hộ pháp, hộ dân, hộ quốc. Ông tăng âý ngày đêm chịu sự uy hiếp của quan nha, đồng đạo  pháp lữ dèm pha, cô lập…Y còn say sưa kể thì có kẻ chen ngang:

- Lão dư hơi rảnh háng, kể chi chuyện khô khan vậy? hãy kể chuyện đaị gia cặp chân dài, chuyện thiếu gia ăn đặc sản cường dương, chuyện tranh ghế ra đòn độc…có phải bốc lửa hơn không? 

Y đập tay xuống bàn cười sằng sặc, cười văng nước bọt, cười rơi nước mắt:

- Ta vốn điên, giờ bảo ta kể những chuyện ấy hoá ra ta tỉnh ư? đem cái điên của ta đổi cái tỉnh ấy thì ta nhất quyết không đổi! Ta sướng với cái điên của ta, một mai hết điên thì liệu ta có còn sướng? ai bảo sao kệ họ, ta quyết sống chết với cái điên của ta, kể chuyện mà chơi, điên lắm! nhưng không điên không được đâu! một mai không điên nữa thì ta có còn là ta không? 

Người kia nghe thế bèn lầu bầu trước khi bỏ đi:

- Đồ điên, điên thật tình rồi! ai laị sướng với cái điên? Sao không vui với cái tỉnh như thiên hạ? điên mà đòi hơn tỉnh được à? 

Thế rồi một hôm kia, có ả má đỏ môi hồng, mắt long lanh đong đưa đến bên y thỏ thẻ:

- Lão  khá bảnh trai, kể chuyện cũng hay! Em thích nghe lão kể chuyện chơi, trái tim em có phần xao xuyến vì lão, ngặt lão điên quá, giá mà lão đừng điên nữa, hoặc bớt điên đi, mình yêu nhau hưởng cái vui của cuộc đời. 

Y nghe xong, bần thần chột dạ:” Ta vốn xấc bất xang bang, không chức tước danh vị, không tiền bạc của cải, chỉ có mỗi cái bụng chữ vớ vẩm ẩm ương, thân ta vốn từ tứ đaị giả hợp mà thành, vậy nàng yêu cái gì ở ta? Nàng bảo thích nghe ta kể chuyện chơi nhưng laị bảo ta đừng điên, nếu không điên thì làm sao ta kể chuyện chơi được? rốt cuộc nàng yêu cái gì đây? phải chăng con gái nói có là không, nói không là có? Sao mà giống hệt Tâm Kinh vậy? sắc tức là không, không tức là sắc đây mà! Ta có nên đừng điên nữa để mà yêu nàng? “ đầu óc y quay cuồng với muôn vàn câu hỏi, những câu hỏi xoáy vào, xoắn xuýt mà không có lời giải. Y ngồi thừ ra đấy, lát sau y mới khẽ khọt:

 - Cảm ơn nàng đã hạ mình chiếu cố đến ta, cảm kích cái tình của nàng lắm, nhưng ngặt nỗi một khi ta không điên nữa để yêu nàng thì lấy ai mà kể chuyện chơi với đời? một khi ta không điên nữa, không kể chuyện mà chơi với đời thì liệu nàng có còn xao xuyến? chính nàng bảo nàng xao xuyến vì ta kể chuyện chơi với đời cơ mà! 

Ả nghe xong, ngúng nguẩy mông, chu mỏ mà bỏ đi. Tối ấy, nằm trong căn nhà gỗ cũ kỹ giữa vườn hoa. Y đang vẩn vơ tìm tứ để kể chuyện cho những ngày sắp đến, chợt có tiếng cười trong trẻo như pha lê thánh thót văng vẳng ngoài hiên. Y lắng nghe, không phải một giọng cười mà có nhiều giọng cười khác nữa, có giọng thì khanh khách giòn tan như trẻ con, có giọng thì ngân nga như khánh ngọc, laị có giọng như suối róc rách giữa rừng và lẫn trong đấy có giọng trầm ấm của nam nhân. Y khẽ vén rèm nhìn ra thì thấy một nhóm đồng nam và đồng nữ bên thềm hoa, hình như bọn họ có thần thông nên biết y nhìn lén:

- A, lão điên vẫn chưa ngủ, mời lão ra ngoài này thưởng hoa ngắm trăng với bọn em, cớ sao đêm trăng thanh hoa quỳnh nở, quang cảnh tuyệt vời như thế này mà lão nằm ru rú trong căn phòng tù túng như thế? 

Y thoáng mắc cỡ với bọn đồng nam đồng nữ, ra đến cửa thì y cảm thấy như hoa cả mắt. Y nghĩ bụng:” Bọn chúng xinh đẹp quá, thơm quá, mơn mởm quá”. Y chống chế:

- Ta đang tìm tứ cho những chuyện sắp kể trong những ngày sắp đến.

Một cô trong bọn đồng nữ cười nắc nẻ:

- Lão khờ quá! người ta bảo lão điên quả thật không sai tí nào, trăng sáng, hoa nở, gái đẹp như thế này không hưởng laị lo tìm chuyện để kể. Lão bỏ cái điên của lão đi! hãy mang nậm Hoàng Hoa tửu ra đây, cùng say với bọn em đêm này!

Y khoái chí ra mặt nhưng lòng còn ngần ngại vì sợ phạm giới:

- Ta thọ giới với lão sư phụ năm xưa, tuy muốn uống rượu nhưng không dám!

Gã đồng nam mặt mày tuấn tú khôi ngô, đưa tay rẽ mái tóc loà xoà trước trán và cười khanh khách

- Lão điên quá mấy em ơi! Lão kể chuyện mà chơi cho thiên hạ nghe bao năm nay, thế mà lão không thông, lão “y ngữ bất y nghĩa”, lão chấp chặt văn tự, đáng thương cho lão. Này lão điên kia! Nhà Phật chế giới cấm là để ngăn ngừa sự say sưa quá đáng, sự đắm đuối hư hỏng chứ nào phải để cấm tri kỷ tương phùng. Nhất hoa, nhất diệp nào khác nhất thế giới, nhất Như Lai! Lão tự phụ một bụng chữ mà lão không thông lý, không rõ lẽ, lão  kẹt vào chữ nên không thoáng nghĩa… thảo nào thiên hạ bảo lão điên. Lão vui với cái điên của lão kể cũng nhất rồi, giá mà lão vượt qua chính lão thì cái điên này mới thật là sướng không gì bằng, thật không chữ nghĩa nào tả được! lúc bấy giờ cái điên của lão mới thật là thượng thừa điên! 

Y nghe gã đồng nam nói thế, giật mình toát mồ hôi đầm đìa, mặc cho không khí đêm khuya đang lạnh hơi sương, bao nhiêu chữ nghĩa bay biến như mây trên đầu núi, đầu óc y lâng lâng, bàn chân cơ hồ như không còn đứng trên mặt đất. Y quay vào căn nhà gỗ lấy bầu Hoàng Hoa tửu giấu trong góc tủ mười mấy năm nay, mang ra thềm hoa, y rót một chén, hai tay nâng rất trịnh trọng:

- Tạ ơn Phật, tạ ơn trời đất, tạ ơn lời cảnh tỉnh của qúy huynh đệ. Ta lâu nay quờ quạng trong cái màn hư ảo mà ngỡ mình sướng vì điên, cứ ngỡ mình điên thật, thật sự chưa phải điên, chưa sướng đúng điệu với cái điên, chẳng qua là mới ngấp nghé cái bờ mé mà thôi! Kể chuyệm mà chơi cho người đời nghe, nếu mình còn dính mắc cái tôi, có người đi kể, có kẻ ngồi nghe, có chưyện để kể đó là hạng xoàng! Đêm nay trăng sáng, hoa quỳnh nở, bọn đồng nam, đồng nữ đến thềm hoa hiên nhà đã giúp ta mở mắt ra và thấy rõ rằng cái điên của ta chưa thật sự điên, chưa thật hưởng cái sướng thật sự của cái điên này!

Y dứt lời, bọn đồng nữ, đồng nam vây quanh kéo tay bẹo má lão, cù lét lão. Bọn chúng cười như nắc nẻ, tiếng cười lay động cả ánh trăng, khuấy động cho làn hương hoa quỳnh tỏa ngan ngát.

- Lão điên thật rồi! giờ lão điên thật sự rồi! Bọn ta yêu cái điên của lão, đến đây vì cái điên này! kể từ đêm nay, lão thật sự sướng với cái điên thượng thừa của lão.

Rượu ngọt, tay mềm, hương thơm làm cho y ngất ngây:”Ta mơ hay tỉnh đây? Ta điên thật sự? ta sướng với cái điên? Bao năm qua kể chuyện mà chơi, tưởng mình có vốn liếng chữ nghĩa khá khá, nào ngờ đêm nay tan biến sạch làu, lòng trống như không gian mênh mông này! Kể chuyện mà chơi, văn chương ấm ớ, chữ nghĩa nhì nhằng, văn tự lôm côm hoá ra không bằng hơi rượu đêm trăng. Ta là ai trong cuộc đời này? ta đến đây để làm gì và mai này sẽ về đâu?”  Y còn ngơ ngẩn như người mặt đất lên cung trăng. Bọn đồng nữ, đồng nam kéo y ngồi xuống ghế, các cô bẹo má, bóp vai. Có kẻ còn mơn trớn hôn lên môi y. Cả bọn cười như thể chưa được cười bao giờ:

- Lão điên thật sự rồi các cậu ơi! Lão đang tận hưởng cái điên của lão. Lão làm cho bọn ta cũng sướng lây vì cái điên của lão. 

Gã đồng nam rót chén rượu mời y, chén rượu sóng sánh lấp loáng ánh trăng tan. Y uống cạn chén rượu, mùi hoàng hoa phảng phất , cái nồng cay cay tê đầu lưỡi, làn sóng đê mê xuyên suốt châu thân y, lan toả vào tận tâm can phế phổi.  Y thấy sảng khoái lạ thường, tinh thần hưng phấn, tâm trí rạng rỡ, bao nhiêu dự tính chuyện kể mà chơi cho ngày mai tan biến sạch trơn như chén rượu cạn. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 072020

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.