Hôm nay,  

Thầy Tôi, Năm Mươi Năm Trước

16/09/202012:02:00(Xem: 4877)
GS Le Huu Muc
Giáo sư Lê Hữu Mục



Tưởng niệm Giáo sư Lê Hữu Mục.

Riêng tặng Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, và Ngọc Ánh đã trợ giúp tôi hoàn thiện bài viết này.


I. 

Năm mươi năm, nửa thế kỷ tròn, biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra thăng trầm biến đổi, mà sao tôi cứ tưởng mới hôm qua !!??


Thời đó con gái được vào Đại học là niềm vinh dự lớn của gia đình, nhất là ở những gia đình nghèo, như gia đình đông con của ba má tôi vùng Quận Tư - Khánh Hội. Tôi sẽ không dông dài câu chuyện về xã hội, chính trị.. thời đó luôn luôn xáo trộn như cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968, hay cuộc chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972, mà tôi chỉ muốn nhắc đến  Thầy giáo của mình năm học 1969-1970 ở Đại học Sư phạm – Saigon.


Tôi là người rất may mắn trong đường học vấn, và học rất dễ dàng. Trong khi anh em trong nhà đều theo học Ban A, B (Ban Hóa, Sinh, Ban Toán, thời bấy giờ), thì tôi lại theo học Ban C, tức Ban Văn chương Việt nam.

Những năm cuối của bậc Trung học, tôi học ở một ngôi trường có tên là Trường Sơn, Quận Ba, Saigon do nhà văn, cũng là thầy Nguyễn Sỹ Tế làm Hiệu trưởng. Trường Sơn là trường chuyên ban C, nên lớp tôi có nhiều học sinh chuyển qua từ các trường Taberd, Marie Curie, tức là học sinh trường Tây. Tôi học chung với đám “con nhà giàu” “nói tiếng Tây” nên cũng có phần “chới với” về ngoại ngữ.

Giáo sư Trường Sơn phần nhiều là những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng... như Thi sĩ Nguyên Sa-Trần Bích Lan, Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Giáo sư Hoàng Cung… Lên Đại học chúng tôi may mắn được “tiếp cận” với những giáo sư lừng lẫy như Linh mục Thanh Lãng, Giáo sư Lê Ngọc Trụ, Giáo sư Phạm Cao Dương, Giáo sư Nghiêm Toản, Giáo sư Nghiêm Hồng …để có cơ hội học tập cái cao quí, tài hoa của họ.

Và, giáo sư mà tôi có nhiều sự nể trọng, kính phục, kỷ niệm, và cũng có nhiều tâm tình gửi gấm về ông, đó là Giáo sư Tiến sĩ, Thầy Lê Hữu Mục.


Cuối năm 1970, chúng tôi tốt nghiệp khóa học cấp tốc dành cho giáo sư Trung học Đệ Nhất cấp, tức là giáo sư dạy từ Đệ Thất (lớp Sáu) cho đến Đệ Tứ (lớp Chín). Có lẽ do tình hình cả nước thiếu giáo sư Trung học diện này, nên Bộ Giáo Dục mở khóa cấp tốc mười hai tháng, thay vì đào tạo cho diện Cao đẳng Sư phạm hai năm. Kỳ thi tuyển đó có kết quả vào ngày 17/11/1969 với bốn mươi bảy sinh viên, mà tôi may mắn, vinh dự đạt điểm ưu hạng, và điểm số của năm học kết thúc vào ngày 16/11/1970 vẫn với kết quả dẫn đầu.


Như vậy, đúng trong mười hai tháng ở Đại học Sư phạm với Giáo sư hướng dẫn, chịu trách nhiệm trực tiếp lớp tôi là Thầy Lê Hữu Mục, và tôi là sinh viên ưu tú của Thầy. Sau này, cũng mới đây thôi, khi đọc tiểu sử, tôi mới được biết Thầy sinh năm Ất Sửu 1925, tức Thầy hơn tôi hai con giáp. Lúc đó Thầy bốn mươi lăm, còn tôi hai mươi mốt tuổi.


Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm đi dạy học được ký ngày 23/01/1971, và tôi trình diện Trường Phổ thông Trung học Cần Giuộc – tỉnh Long An, cách trung tâm Saigon hai mươi lăm cây số. Đây là nhiệm sở gần nhất cho sinh viên tốt nghiệp đỗ đầu bảng… Vừa đi dạy, vừa tiếp tục học ở Đại học Văn Khoa, tôi hoàn thành Cử nhân Văn chương Việt nam vào ngày 18/10/1972…


Trong mười hai tháng học liên tục không nghỉ hè của khóa học, lớp chúng tôi gần như là một gia đình. Chúng tôi gặp nhau mỗi ngày, cũng bao nhiêu gương mặt đó, và dĩ nhiên hiểu luôn tính nết của nhau. Thầy Mục có nhiều giờ dạy nhất với chúng tôi, vì ngoài môn chính là Văn chương Quốc Âm, Thầy còn dạy về Tâm lý học, và Nghệ thuật Giảng dạy. Những giờ đi thực tập với Thầy ở các trường Phổ thông Trung học Saigon là những giờ căng thẳng nhất. Thầy luyện tập cho chúng tôi về giọng nói, cử chỉ, bước đi, cách nhìn khi đứng trước học sinh. Thầy rất gần gũi, yêu mến sinh viên, học trò của mình. Thầy gọi chúng tôi bằng tên, hoặc bằng “Mi” và xưng với học trò là “Ta”.


-Ta là Hữu Mục, Hữu Mục là có mắt, có mắt là Hữu Mục !

Về sau này, khi đọc được quyển “Giáo sư Lê Hữu Mục, và những cây bút thân hữu cùng Đồng Tâm” được Văn đàn Đồng Tâm (Houston-Texas) in năm 2010, tôi mới vỡ lẽ ra nhiều thứ, và day dứt không nguôi về sự thiếu sót tắc trách, sự vô tình của mình đối với Thầy.

Giáo sư Lê Hữu Mục là giáo sư “Lê Có Mắt”, đồng thời là giáo sư “Lê Có Tai”, mà tôi mạn phép tỏ bày với quí vị ở cuối bài.


Bây giờ, đã năm mươi năm qua, tôi vẫn nhớ như in hình dáng của Thầy. Dáng người đậm, cao to, hay mỉm cười, giọng nói ồm ồm như lệnh vỡ. Lớp tôi chỉ có bốn mươi mốt học sinh nên Thầy không cần micro khuếch âm ; chỉ khi nào đến giờ học Y tế học đường, hay Quản trị học đường chung với học sinh các lớp khác của khóa, các giáo sư mới dùng. Thầy Mục đi đứng, nói chuyện nhanh nhẹn ngay cả lúc giảng bài. Thầy không có cours cho lớp, sinh viên phải tự ghi chép. Thầy rất thích sự sáng tạo từ học trò.


Thầy Mục với văn tài nổi trội từ những năm Thầy còn trong tuổi thanh xuân, “đã có những công trình làm ngẩn ngơ người đọc” (Giáo sư Nguyễn Văn Sâm). Đó là bản dịch hai quyển truyện ký bằng chữ Hán là Lĩnh Nam Chích Quái, và Việt Điện U-Linh Tập. Thầy Mục có bằng Cử nhân năm hai mươi lăm tuổi (1950), do cơ cấu giáo dục Đại học của Việt Nam Cộng Hòa thời đó ưu tiên cấp bằng Tiến sĩ cho những ai du học nước ngoài về. Vì thế Thầy Mục phải chờ đến hơn hai mươi năm sau mới có dịp thi bằng Tiến sĩ Quốc gia năm 1973 tại Đại học Văn Khoa – Saigon. Kỳ thi Tiến sĩ Quốc gia này duy nhất được tổ chức chỉ một lần (vì hai năm sau đó, Saigon bị thay “người chủ” mới), và người đỗ Thủ khoa chính là Thầy Mục, và Á khoa là Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, Thầy Đồ trên đất Mỹ hôm nay ; hiện đang nghỉ hưu ở California.


Kỷ niệm sâu sắc nhất mà tôi còn nhớ mồn một sau năm mươi năm với Thầy Mục, là lần thầy trò du ngoạn suối Lồ Ồ-Thủ Đức. Nhân cuộc du ngoạn ngoại khóa này, Thầy chỉ dạy cho cả lớp chúng tôi kỹ năng “nói trước công chúng”. Sáng hôm ấy, chúng tôi khệ nệ mang theo đủ thứ thức ăn, nước uống, lều trại, tấm trãi. Thầy Mục mang theo món cơm nắm, muối vừng. Thầy nói :


-Vì muốn cơm nắm dẻo, ngon, bà xã của thầy phải dậy từ sớm nấu cơm, nắm cơm cho tụi mi đó.

Chúng tôi cảm động cám ơn Thầy, đồng loạt sà xuống giỏ cơm nắm còn nóng hổi. Miếng cơm trắng phau, mịn, dẻ, mềm được gói kỹ lưỡng trong lượt vải mùng tinh tươm. Mấy đứa miền Nam –trong đó có tôi- chưa bao giờ được ăn món này, nên hả hê, thích thú lắm. Món cơm nắm của Thầy phút chốc sạch veo, còn bánh mì chả, gỏi cuốn, bò bía.. phải một phen..ế độ. Chúng tôi vui đùa, nhảy nhót chung quanh Thầy như trẻ nít, Thầy cười vui, trẻ trung như tuổi thanh xuân.


Chỉ với mười hai tháng học, nên chúng tôi chưa được hiểu biết cặn kẽ về tài hoa của Thầy Mục. Các bạn khác học hệ ba năm, có lẽ có nhiều kỷ niệm, và thân tình với Thầy nhiều hơn chúng tôi có. Điều đó, ắt hẵn. Vì điều đó, đến bây giờ, sau năm mươi năm chìm, nổi, tôi đã nhiều đêm trăn trở, tự trách mình, khi nghĩ đến Thầy Mục thương kính mà đáng lẽ tôi phải tìm thăm khi Thầy còn với mọi người.



II.  

Thầy Mục thương kính!

Khi con đặt bút viết những dòng này trân trọng gửi đến Thầy, thì mùa Hè sắp dứt. Mùa Thu miền Đông-Bắc sắp trở về, và sẽ có những chiếc lá đủ mầu, sẽ đan xen cho một mùa Thu với sắc mầu tươi tắn. Niềm tiếc nhớ khôn nguôi của đứa học trò tốt nghiệp ưu hạng ngày cũ khóa 1969-1970 Đại học Sư phạm Saigon chắc có thể Thầy không thể nhớ. Nhưng có điều, con tin rằng Thầy sẽ không quên lần thầy trò ta gặp nhau ở bùng binh chợ Saigon. Hai thầy trò vào quán cơm Thanh Bạch ăn trưa – thời khắc ấy chắc khoảng giữa tháng 4/1973. Vẫn nụ cười hóm hỉnh. Trong bữa ăn, Thầy nhìn con rồi nói :


-Mi khoan lấy chồng nha, học tiếp Cao học rồi về trường dạy học với Thầy.

Lúc đó, con choáng váng mặt mày, vì không nghĩ được Thầy có cái nhìn sâu rộng, ưu ái đó với con.


-Thưa Thầy, con nghĩ mình không đủ sức để học tiếp. Con còn một bầy em khốn khó.

Thầy nheo mắt nói nhanh :


-Mi quên rằng ta là Hữu Mục, Hữu Mục là có mắt sao? 

Rồi Thầy nói tiếp luôn :


-Ta có mắt nhìn người, làm gì có một NTL thứ hai!!!

Con hết hồn, và tự nhủ sao Thầy lại đánh giá mình cao đến thế. 

Con lắp bắp :


-Thưa Thầy, con không dám nghĩ xa như vậy đâu.

…Rồi Thầy trò chia tay…, chia tay cho đến bây giờ…


Có một điều làm con thích thú, tâm đắc, con xin thưa cùng Thầy : Đó là con cùng cầm tinh con giáp tuổi Sửu, tuổi con Trâu như Thầy. Con đến với cuộc đời này sau Thầy hai con giáp, tức sau hai mươi bốn năm. Giáo sư Nguyễn Xuân Hoàng cũng tuổi Sửu, nhưng chỉ hơn con một giáp, tức Thầy Hoàng sinh năm 1937. Tới đây, con có một nụ cười ý nhị, vì nghĩ rằng những con người cầm tinh tuổi Sửu rất đổi tài hoa, nhưng cuộc đời lắm lúc cũng trầm luân, khổ hạnh, vì “Nhất phiến tài tình vương khổ lụy”, phải chăng, thưa Thầy!!??


Thầy là nhà giáo, nhà nghiên cứu, là dịch giả, là nhà văn mà còn là nhạc sĩ. Thầy đã là ngọn hải đăng để chúng con bước vào con đường giáo dục như Thầy. Như R.Tagore, Triết gia Ấn Độ đã nói : “Nhà giáo như một ngọn đuốc, nếu không thắp sáng được mình, thì làm sao mồi được cho những ngọn đuốc khác?”. 


Điều này thật đúng, Thầy ơi! Con đã không “thắp sáng” được mình, vì chỉ vài năm đầu ra trường đi dạy trẻ. Con cũng chỉ là cô giáo trẻ, vui tươi, hồn nhiên, mơ mộng nhiều về một tương lai tươi đẹp. Nhưng sau 1975, con trở thành “thợ dạy”, công việc “thắp sáng” cho thế hệ tương lai biến thành “cần câu cơm”, từng đêm nhục nhằn thảng thốt. Tâm trạng đó đúng như ý câu lục bát của Thầy Nguyễn Văn Sâm khi đạp xe ngang qua Đại học Văn Khoa-Saigon :


“Trường này đâu phải trường ta.

Liệu mà sửa soạn về nhà đi buôn”. 

Và con cũng biết rằng Thầy cũng khổ đau lắm lắm trong hoàn cảnh ê-chề đó.

Thầy yêu sách vở, yêu trường lớp biết bao! Và suốt đời Thầy cặm cụi lo toan cho việc nghiên cứu văn chương Hán-Nôm. Thầy làm việc không ngơi nghỉ ; và sách vở đối với Thầy là tài sản, là tim óc, vô giá. Điều đó con biết được do qua ngòi bút kể chuyện của chị Lê Thị Hiền Minh, con gái lớn của Thầy : “Tháng 12/1978, thăm nuôi ông ở trại cải tạo Bầu Lâm, tôi có báo hai tin dữ : Bà nội mất, và “họ” đã tịch thu hết sách vở của bố rồi. Ông òa khóc như trẻ thơ khi nghe tin thứ hai”.Thương Thầy biết bao nhiêu. Biết được việc này ruột gan con đứt hết, Thầy ơi!


Thầy là “Lê có Mắt”, cũng là “Lê có Tai”. Điều này mãi về sau này con mới biết. Sao mọi sự quá trễ tràng với con!!?? Biết Thầy ở Canada, mà từ New York tới Canada có xa xôi gì cho cam, mà gần hết cuộc đời con chưa tới được để thăm Thầy!! Điều đó là một nuối tiếc lớn cho đứa học trò này, Thầy Mục ơi! Nhưng con lại có niềm vui nho nhỏ, vì con còn biết được “bí mật” của Thầy… là một nhạc sĩ khi mới mười ba tuổi. Bài nhạc của Thầy tựa là “Chèo Đi, Bơi Đi” đã ra mắt thính giả năm 1938. Rồi sau đó lần lượt “Trở Về Mái Nhà Xưa”, “Hẹn Một Ngày Về Vinh Quang”. Căn nhà 57 Duy Tân Saigon là một thư viện, cũng là một nhà hát với tiếng đàn guitar, hay tiếng kèn saxo, đặc biệt là tiếng dương cầm của Thầy phải nói chắc là tuyệt diệu lắm. 


Năm 2007, lần gặp gỡ các thân hữu, và học trò ở Cali, lúc đó Thầy hơn tám mươi tuổi. Dù nghễnh ngãng trong giao tiếp, nhưng Thầy vẫn nhận ra từng âm sắc sai trong bất cứ câu nhạc nào. Một người già tám mươi hai tuổi vẫn say sưa dạo những ca khúc kinh điển, bất hủ thế giới như Dạ Khúc (Serenade-Schubert), Dòng Sông Xanh (Le Beau Danube Blue-Johann Strauss Jr.), hay Trở Về Mái Nhà Xưa (Come Back To Sorriento-Ernesto De Curtis), thì không phải ai cũng như thế được.


Thưa Thầy!

Con biết Thầy mới vừa từ giã thế nhân ngày 08/11/2017 ở Montreal-Canada thọ chín mươi hai tuổi. Như vậy, Thầy cũng tròn tuổi thọ. Thân mẫu con đi đến cõi đời này trước Thầy bốn năm, và cũng “đi về” trước Thầy bốn năm, vẫn với tuổi thọ chín mươi hai. Qua đó, con bỗng thấy có chút ngộ nghĩnh cho sự trùng hợp này.


Thầy đi vào cuộc đời này vào ngày chớm Đông -24/11/1925- , và “đi ra” cũng vào lúc chớm Đông. Thầy ơi!


“Thầy về với Chúa yên vui.

Giữa mùa Đông giá, ngậm ngùi riêng con”.


Dù không gặp Thầy gần năm mươi năm, con vẫn nghĩ Thầy vẫn như ngày xưa ở Đại học Sư phạm Saigon lúc Thầy bốn lăm, con hai mươi mốt. Bây giờ con bẩy mươi mốt, Thầy chín mươi lăm. Con mong ước Thầy ở chốn “BÌNH YÊN”, Thầy đang ở “NƯỚC TRỜI” ngàn đời yên bình.

Dù Thầy đã đi xa, nhưng con nghĩ ở nơi nào đó, Thầy đang nghe được tiếng lòng con, vì “Thác là thể phách, còn là Tinh Anh” (Kiều-Nguyễn Du).


Thầy ơi!

Hoàn cảnh ngửa nghiêng, vận nước nổi trôi, Thầy trò ta đã tạm quên “nghề văn, nghiệp bút”. Con cũng đã buông trôi theo phận người mấy mươi năm chìm nổi ở xứ người, chừng ngó lại tuổi già “chim bay mỏi cánh”. Mà có sá gì thân con? Thầy là sa mạc mênh mông, con chỉ là hạt cát tủi hờn. Thầy là biển lớn thênh thang, con chỉ là giọt nước long lanh, ngậm ngùi cho duyên số. Con vẫn nghĩ Thầy vẫn ở bên bao bạn hữu, bên học trò mà hiện giờ chúng con đã “Ngất dặm mù khơi, thấy trăng mà thẹn những lời non sông” (Kiều-Nguyễn Du). 


Thầy là “Lê có Mắt”, Thầy cũng là “Lê có Tai”, nghĩa là Thầy là Văn nhân, nghệ sĩ. Lòng mê say văn chương Việt, văn chương Hán-Nôm, cũng như mê say cung đàn, giọng hát, có khi nào Thầy cảm thấy mỏi mệt muốn tạm dừng chân!?


“Khi bức màn buông, danh vọng hết

Người về lòng rũ sạch sầu thương

Người vào cởi áo, lau son phấn

Trả cả vinh hoa, lẫn đoạn trường.”

 (Sân Khấu-GS Hoàng Như Mai)


Vâng, đúng thế Thầy ạ! Thầy có đủ hết mọi cung thương, nhưng Thầy đã ra đi thanh thản “phủ định sạch trơn” những phiền lụy của cuộc đời. Như Thầy đã trả lời Giáo sư Nguyễn Văn Sâm : “Bây giờ moa quên hết mọi chuyện rồi toa… Moa bây giờ thấy lòng mình là MÂY”. Và Giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã khẳng định : “Con người đạt đến độ buông thả rốt ráo thì lòng mình là MÂY, chứ không phải NHƯ MÂY”… Ôi! Bao người đạt đến cái tâm LÀ MÂY đó!!? 


Hiện giờ, dù lòng con trĩu nặng sầu thương, giống như cô học trò nhỏ Vũ Thị Gio Linh đã viết bài thơ “Thưa Thầy, Con Đi” trên đặc san Xuân Gia Long năm 1973, để nói với Thầy :


“Thôi, thưa Thầy con đi

Năm cuối cùng đã hết

Những giọt buồn thế hệ

Đưa tiễn những người đi

Bây giờ là Xuân cuối

Thôi, thưa Thầy con đi”.

Con đã đi vào cuộc sống trần thế nhọc nhằn từ khi rời Đại học Sư phạm, mới đó đã năm mươi năm. Dù chưa một lần nào gặp lại Thầy sau 1973, nhưng con vẫn nghĩ có Thầy trong tâm tưởng. Con đã học được chữ TÂM từ nơi Thầy giáo cũ, nên cả đời tâm niệm “Đâu dám xa rời chữ TÂM” (Kiều).


Con thường hay ngắm trăng giữa trời đất bao la vào những đêm rằm hoa đăng mở hội trên trời. Giờ đây, con phải hướng tầm mắt mình để ngắm mây trời nhiều hơn, vì Thầy chính là MÂY. Thầy “Lê có Mắt”, “Lê có Tai” bây giờ LÀ MÂY, MÀ MÂY THÌ CHỈ CÓ, VÀ CHỈ Ở TRÊN TRỜI.


Song Lam.

Chớm Thu 9/2020.

Cherry Hill, NJ. 

 

     

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.