Hôm nay,  

Ngày Tết

10/02/202109:49:00(Xem: 5771)

Hôm nay thứ Sáu, còn đúng một tuần nữa là Tết, vì thế mà ra khỏi sở sớm để ghé chợ mua vật dụng về nấu bánh chưng cuối tuần nầy. Coi đi coi lại cái list đã làm không biết bao năm trước. Cũng chừng đó thứ thôi: nếp Nhật hạt tròn, đậu xanh, thịt ba rọi, lá chuối, đủ nấu chừng mười lăm cái mà khi nào cũng dư lại một ít đậu xanh. Nhưng cũng nhờ thế mà nấu được thêm mấy chén chè bông cau, để nhớ ngày xưa…

Đã mấy mươi năm nay chưa bao giờ mua một cái bánh chưng ngoài chợ và không nhớ lần cuối ăn một miếng là lúc nào. Có người em năm nào cũng cho một cặp bánh chưng từ một  tiệm nổi tiếng ngoài Bolsa, rất to, vuông vắn, lá xanh tươi, nơ thắt ngay ngắn… nghe đâu bây giờ tới hơn hai mươi đồng mỗi cái, nhưng mở ra, thấy rồi thì hết muốn thử. Năn nỉ anh nầy đừng cho nữa nhưng Tết nào cũng nhận một cặp, chắc anh sợ mình tủi thân vì trong nhà ai cũng có mà mình thì không. Không có những thứ người khác có chưa chắc là chuyện không hay!

Năm nào cũng nấu. Có năm nói thôi, có ăn uống chi đâu mà phải mất công, nhưng rồi gia đình, bạn bè nhắc, nay lại thêm hai người con đang “về nguồn”, biết “quý” cái bánh chưng ngày Tết vì thế mà cứ tiếp tục. Có cô em người bạn ăn bánh chưng ở nhà anh chị, gặp mình nói em biết là anh chỉ nấu ít thôi nên em không dám xin nguyên cái, năm tới anh cho em nửa cái cũng được. Cô nầy đam mê nấu ăn, nhất định phải nấu đêm nấu ngày nồi bún bò Huế cho đến khi nào “tới” mới thôi. Chắc bây giờ “tới” rồi nên hai vợ chồng ra mở tiệm. Cô biết thức ăn “ngon” không nằm ở lượng mà ở phẩm. Thức ăn dù ngon đến mấy cũng chỉ ngon vài ba miếng đầu, càng ăn thêm càng dở. Tiệm ăn càng cao cấp thì portion càng nhỏ, dọn ra một cái dĩa rất lớn mà chỉ có vài ba miếng lèo tèo ở giữa.

Nói là mất công nhưng không phải là không có phần trông ngóng. Im lặng hằng giờ, thong thả vò nếp, vò đậu, lau lá, nấu bánh, vớt bánh, ép bánh…mà lòng nhẹ như mây!  Thiếu cái cảm giác ấm áp khi ngồi canh lửa cạnh nồi bánh, có khi suốt đêm, như ở bên nhà, nhưng vẫn còn cái tỉnh lặng nhẹ nhàng trong lòng. Những lúc như thế nầy, bên tai như vẫn còn nghe tiếng mưa rơi trên mái tranh lẫn trong tiếng chuông chùa sáng sớm, khi ngồi bên bếp lửa chờ nghe tiếng kêu leng keng của cái xách cơm bằng nhôm đụng lên cái ghi-đông xe đạp vọng đến từ rất xa, biết là người bạn học sắp đi ngang, để ra chờ sẵn cùng đạp xe tới trường. Có những chiều tan học đạp xe về nhà thì trăng sớm đã lên, con đường làng êm ả sáng dưới trăng, thơm mùi rạ từ những thửa ruộng vừa xong mùa gặt.

**    


Nấu bánh chưng có chi là khó! Vo nếp, đậu như cách người Nhật vo gạo. Phải nói là “rửa” gạo mới đúng. “Rửa” nhiều lần, mỗi lần phải quay qua quay lại quanh cái thau ba mươi hai lần (?) cho dến khi nước trong như nước mưa. Rồi phải đợi cho nếp và đậu thật ráo nước. Gói không chặt quá để nếp và đậu có chổ nở ra và dính lại với nhau, nhưng không lõng quá để nước thấm vào làm nhão bánh. Sắp những miếng thịt như thế nào để khi chín, có chút mỡ chảy ra nhưng không dính tràn ra ngoài nếp. Úp mặt ngoài miếng lá chuối vào là cái bánh chưng xanh như ngọc khi mở ra. Có điều vì làm thế mà mặt ngoài chiếc bánh không xanh như bánh ngoài chợ. Nếu được đẹp cả trong lẫn ngoài thì quá quý, nhưng nếu chỉ có một thì mình chọn giữ cái đẹp phía trong. Để bánh có màu xanh nhiều nơi dùng phẩm màu trộn vào nếp, có khổ tâm không. Một người có nhan sắc, khôn ngoan và tự tin thì bôi son quét phấn, mang vòng vàng cà rá đầy người làm chi cho nhiều!
Trúc xinh trúc đứng một mình cũng xinh!

Cái khó của bánh chưng nằm ở chổ tìm ra cái balance giữa nếp, đậu và thịt. Người thích nhiều nếp, người thích nhiều đậu. Người thích có chút mỡ, người tìm bỏ ra. Sở thích ăn uống là chuyện rất “cá nhân”, không có chuyện “rành ăn” hay không “rành ăn” ở đây. Chín người mười ý. Thôi cứ nấu theo ý mình, bởi vì nấu ăn cũng là chuyện “cá nhân”. 

Một bà làm cùng sở có chồng người Nhật mở một tiệm ăn chuyên về thịt gà rất nổi tiếng trên Los Angeles, một ngày kia Jane Fonda đến ăn. Jane Fonda muốn lấy da gà ra trước khi nấu và người bếp làm theo, nhưng rồi ra gặp Jane Fonda sau khi xong bữa ăn và nói vì bà lần đầu đến đây nên tôi chìu bà mà lấy da gà ra, nhưng lần tới tôi không làm như thế nữa vì đó là cách tôi nấu thịt gà, nếu bà không thích thì bà không cần phải trở lại. 

Mấy mươi năm trước khi cuộc chiến Việt Nam bùng phát dữ dội, “chị Jane” qua thăm Hà-Nội, mặc đồ bà ba, đội mũ cối, tươi cười ngồi trên dàn súng phòng không. Dĩ nhiên là chị được chiêu đãi hoành tráng, nhưng không biết có thịt gà không và “chị Jane”có bảo họ bỏ da gà ra vì ăn da gà không tốt cho sức khỏe của chị! 

Ngày xưa, người ta nhớ tới Ông Đồ Già mỗi lần Tết đến, ngày nay mình nhớ mấy cái YouTube của những nhóm sinh viên ở Sài-Gòn, tụ lại với nhau nấu bánh chưng bánh tét rồi đêm đến đem phân phát cho những người không nhà không cửa sống lây lất trên vĩa hè. Thấy người nào cũng vui, cũng đẹp và gói bánh cực kỳ giỏi. Chỉ mong một ngày nào về cùng gói bánh với họ, rồi theo họ đi “giao hàng”. Mình không biết gói bánh tét nhưng chắc học cũng mau thôi vì đã có “căn bản” rồi. Và chắc là sẽ rất “vui”.

**


Ông
manager phụ trách một shopping center của công ty vừa ghé lại hỏi tại sao không ghé lại lấy cái nồi đã để sẵn ở office của Ông. Có một tiệm ăn ở shopping center nầy dọn ra nhiều năm trước để lại nhiều vật dụng, trong đó có cái nồi nấu xúp rất lớn mà Ông giữ lại để dành cho mình, đủ để nấu mười mấy cái bánh chưng mà không sợ nước tràn ra ngoài và khỏi phải canh chừng để châm thêm nước mỗi vài giờ. Ông tử tế vì ông là người…tử tế, không phải vì có lần ông ghé qua bàn công chuyện, thích tấm ảnh hai vợ chồng đang bắt ốc giữa giòng sông Irrawaddy ở Miến Điện mình phóng lớn treo trên tường và muốn một tấm, rồi mấy hôm sau ghé lại cám ơn tấm hình nhận được, thấy cái khung hình trống trơn nằm trong góc phòng. Ông nói năm nầy cho ông một cái để biết nấu cái gì mà năm nào cũng hăm hở nấu. Chắc gói riêng cho ông một cái nhỏ thôi, vì nghe đâu ông ở một mình sau ba lần ly dị.


blank

Sông Irrawaddy, Miến-Điện.


Tuần rồi mấy ông tướng Miến-Điện lại đảo chánh. Đây là xứ sở Phật Giáo, với những ngôi chùa đồ sộ thay lớp vàng dát trên tháp mỗi bốn năm, với cả hàng ngàn ngôi đền chen chúc ở Bagal. Thế mà, bên ngoài những bức tường cao kiên cố vây bọc dinh thự của mấy ông tướng là những người phụ nữ ốm yếu, đội trên đầu thúng đá vá đường với mức lương nghe đâu khoảng bốn mươi xu Mỹ mỗi ngày và còn cho là
overpaid! Những ông tướng nầy và gia đình họ chắc là đi chùa, tụng kinh niệm Phật thường xuyên, thế thì họ cầu nguyện, tu tập điều gì? 



Giữa sân một khách sạn ở Mandalay, xứ sở của những ngọn núi đá cẩm thạch mà những viên tướng nầy đang cấu kết với thương lái Trung Quốc cướp bóc, có một tảng đá lớn với tấm bảng bên cạnh ghi trị giá hơn hai triệu đô la Mỹ. Nếu không cắt ra thì đó chỉ là một tảng đá thô, không ai biết cẩm thạch. Phải chi thay tảng đá vô dụng xấu xí, choán chổ nầy bằng một trường học, trường dạy nghề hay bệnh xá thì phước đức biết bao. 

Đến thăm người bạn có công ty du lịch ở Miến Điện và nhiều nước Đông Nam Á.  Anh nói anh thích người Miến nhất vì họ rất thông minh và hiền hòa. Mấy năm trước qua đây hơn một tuần mà ở trên tàu chạy dọc theo ông Irrawaddy mất mấy ngày rồi, nhưng cũng có dịp tiếp xúc với nhiều người Miến, trở về sống trên đất nước mình sau thời gian làm việc ở Singapore dù có chức vụ cao và lương bỗng hậu hĩ. Một xứ sở như thế mà chịu quá nhiều tai ương. Sau một thời gian dài tự phong tỏa, vừa khá lên chút là bị thế giới lên án vụ Rohingya, rồi COVID và nay đảo chánh…Những người làm việc cho người bạn vô cùng khốn đốn.  Mình quá hoang mang, hay là Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người…(t.c.s.)



 blank

Bagal, Miến-Điện


**


Ông
manager tử tế nhớ đến ngày Tết để cho mình mượn cái nồi nấu bánh chưng còn dạy mình không biết bao nhiêu điều: nuôi cá koi ra sao, làm cái biological filter như thế nào mới đúng để nước cho trong. Có lần làm cây cầu bắt qua hồ cá, chỉ mua gổ, design chút ít rồi đem vào nhờ ông cắt, mình chỉ đem về đóng lại, sơn lên là xong. Nhưng ông đâu phải là người tử tế duy nhất ở đây. Ở đây ai cũng tử tế. Mình ngồi thấp mà nước thì chảy chổ trũng nên may mắn mọi bề. Ra khỏi cửa bên tay phải là mấy ông kiến trúc sư, có ông giúp design cái studio của mấy người con thành hai cái sleeping compartment. Bên trái là mấy người CPA, có thắc mắc gì việc thuế má, vay nợ mới, đầu tư…cứ “vô tư” hỏi. Cách mấy phòng là chổ của mấy người luật sư, có người giúp sửa lại tờ thỏa thuận với người tông xe mình để bảo đảm là mình không gặp rắc rối về sau. Bên kia parking lot là nông trại, cần ít đất trồng cây là họ xúc vào mấy cái container đễ sẵn cho. Có lần rũ người làm vườn trồng thử dưa hấu vuông như nên Nhật coi ra sao. Ai cũng giỏi trong lãnh vực của mình mà không lấy việc hơn người khác làm mục tiêu ở đời. Nhiều khi không khỏi lo bởi mình chẳng có chi đền bù cho sự tử tế của họ. 

Chính vì thế mà đã mấy mươi năm qua, ít có ngày nào thức dậy lại không muốn vào sở làm. Có quá nhiều điều mới để được hỏi, được học, được làm hằng ngày, để cải thiện bản thân, để hơn chính bản thân hôm qua, như cái mantra một người bạn vừa text cho và đã in ra treo trên cái pc monitor: Don’t try to be perfect. Just try to be better than you were yesterday!

Đến tuổi nầy “mà lòng phơi phới dậy tương lai (t.h.)” thì mất nết quá. 


**


Mấy tháng ở trại tỵ nạn sau khi tàu chìm tạt vào Thai Lan là dịp Tết. Thấy có gia đình bên cạnh sửa soạn nấu bánh chưng nên hỏi xin mượn cái thùng khi họ nấu xong. Cái khuôn thì đã có rồi, làm bằng một miếng gổ lấy từ chiếc tàu mình đi vượt biên bị vỡ chìm nằm nửa trên nửa dưới trên bờ và vẫn còn giữ tới bây giờ. Người hàng xóm có cái nồi nấu bánh chưng, nghe giọng mình nặng nề trọ trẹ, nói: “thôi cậu ơi, bày đặt học nấu bánh chưng làm gì cho mất công. Bánh chưng là của chúng tôi. Để tôi nấu xong cho mấy cô cậu một cái ăn cho biết…” Không thể không đồng ý với ông hàng xóm nầy, ẩm thực là vấn đề văn hóa. Thử tưởng tượng mình học được cách nấu phở, bạn bè đến ăn khen ngon khuyên nên mở tiệm kẻo bỏ phí “tài năng”, thế là mở tiệm phở, lại còn treo một cái bảng quãng cáo “
Phở Bắc chính gốc” thì có chướng không. Như có người đã nói như thế nầy khi so sánh phim cao bồi Mỹ với phim cao bồi Ý: “Phim cao bồi Ý súng nổ nhiều hơn, đào đẹp và sexy hơn, ngựa phi nhanh hơn…nhưng thiếu một thứ không bao giờ có thể có: bụi Texas…”

Nhưng bánh chưng thì có thể là chuyện khác, ngoại lệ. Người hàng xóm nấu xong gọi qua lấy thùng và cho một cái bánh chưng. Tới phiên mình nấu xong đem thùng qua trả và “lại quả” ông một cái. Không nghe ông nói chi về bánh chưng từ đó…  


 **


Đi ra
park có sân tennis đánh vào tường kiếm chút mồ hôi trước khi tới sở làm. Mừng gặp lại hai anh Việt-Nam hiền lành, vui vẻ.

Đây là hai người mình gặp lần đầu ở đây mấy tuần trước. Một anh đứng nhìn mình tự tập một hồi lâu rồi bước đến nói mình đánh sai ở chỗ nào, tại sao sai. Chi cũng sai cả: forehand, backhand, volley, drop shot, down the line…Té ra, đánh đã mấy chục năm, đọc bao sách vở, coi bao nhiêu video mà vẫn không biết cái sai, cái dở của mình. Từ đó, mỗi khi ra đây may mắn gặp anh, anh chỉ dạy tận tình. Có khi mình đánh trả lại bị hư, banh ra ngoài hay dính lưới, anh lại còn xin lỗi, nói là tại anh đưa banh qua không chính xác! 

Anh kể vừa mới đươc chích COVID vaccine dù anh chưa tới sáu mươi lăm tuổi vì anh đưa đón bệnh nhân tới phòng mạch hay nhà thương  nên có phòng mạch nào đó cho anh chích. Chắc anh làm thiện nguyện thôi, có lần anh nói anh về hưu rồi vì không có “nhu cầu”. Nói chuyện vaccine rồi qua chuyện Pfizer, Moderna stock. Anh nói mỗi ngày anh mua bán năm bảy cổ phần cho vui thôi. Mới đây, anh có một niềm vui lớn hơn. Anh mua Moderna $140 một cổ phiếu và bán lại $120, chỉ lỗ có $20 một cổ phiếu thay vì lỗ $35 vì trước đó một ngày Moderna xuống còn $105.

Cần đi đâu cho xa để tìm Bồ Tát!


**


Từ nhiều năm nay, chổ làm luôn tổ chức một “sự kiện” rất lớn cho ngày Tết,
Lunar New Year, không phải Chinese New Year. Năm ngoái có cả một ngàn năm trăm người được mời. Rất may mắn vì COVID sập tới chỉ một tuần sau đó. 

Năm nay, vì không thể tổ chức “sự kiện” nên họ làm một cái virtual show và người phụ trách hỏi là nên làm gì cho phần của  cộng đồng Việt-Nam. Đề nghị họ mời vài ca nhạc sĩ Việt-Nam ở đây trình diễn bài Ly Rượu Mừng.  Có phần phụ đề tiếng Anh, để người của các nền văn hóa khác nghe người Việt chúng tôi chúc gì nhau trong ngày Tết, ngày thiêng liêng nhất trong mỗi một người chúng tôi.


Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
Muôn lòng xao xuyến duyên đời
Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người vì Nước quên thân mình
Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.