Hôm nay,  

Hệ Quả của 30 Tháng Tư

4/30/202113:44:00(View: 4841)


Sáng ngày 30 tháng 4, bà Nội ôm Huyên, nước mắt bà rơi trên tóc Huyên, bà thì thầm "Khổ rồi các con, các cháu ơi!".

Huyên hồn nhiên hỏi "Tại sao khổ vậy bà ?"

Bà im lặng, trả lời bằng những giọt nước mắt tiếp nối nhau rơi xuống tóc, xuống tay Huyên. Đó có lẽ là ngày khác thường, và dài nhất trong đời của Huyên, của rất nhiều người miền Nam .


Vài năm sau, càng lớn, Huyên càng nhận ra lời bà vào sáng tháng 4 năm 1975 đúng vô cùng. Bà nói bằng kinh nghiệm của một người quê Nam Định, di cư vào Nam năm 1954, bỏ lại cả một tài sản ông bà chắt chiu gầy dựng. Khi người ta nhận xét bằng kinh nghiệm, nhất là bằng kinh nghiệm sống của một người đã đi dạy từ năm 18 tuổi, đã "bỏ của chạy lấy người" thì vô cùng chính xác .


Tối ngày tháng 30 tháng 4, mâm cơm trên bàn còn nguyên, không ai còn lòng dạ để ăn uống. Mấy anh chị em của Huyên còn thơ dại, không hiểu nhiều, nhưng có linh cảm đời sống sẽ hoàn toàn thay đổi theo chiều hướng xấu đi,không còn nụ cười, mà chỉ còn nước mắt. Nhiều, nhiều năm sau này, Huyên nhận ra linh tính của con nít trước những biến cố lớn cũng đúng như kinh nghiệm của người từng trải.

Với con nít như Huyên, linh cảm cho thấy, mọi người đều phải chịu đựng rất nhiều, nên không dám đòi hỏi điều gì. Và như thế tuổi thơ của anh chị em Huyên, của cả một thế hệ sinh vào thập niên 60, và thập niên 70 bị biến cố 30 tháng 4 năm 1975 cướp mất. 

 

Giờ ra chơi cuối thập niên 70, trước những "con mắt mang hình viên đạn" của nhóm học sinh "bạn từ ngoài Bắc vô đây.." luôn để ý đến những thành phần có nguồn gốc từ những “gia đình có nợ máu với nhân dân", Châu phải kéo tụi bạn thân đến gốc cây bàng già ở sân sau của trường, thầm thì về chuyện cô Diệp, vốn dạy Cổ Văn trước 30 tháng 4 năm 1975, phải bán từng cái áo trong nhà để lấy tiền nuôi con trong khi chồng cô, một cựu Sĩ quan QLVNCH đang bị tù đày trong các trại "học tập cải tạo".

Cả bọn tìm cách giúp Cô, đi mời gọi mọi người mua giúp Cô. Cô Diệp thường "hết hàng" sớm, không hề biết đằng sau lưng mình có cả một đội ngũ "marketing" hùng hậu là học trò cũ thầm lặng giúp Cô .


Lâu lâu, có đứa nào có quà bánh đặc biệt, đều chạy bay đến nhà Cô Diệp, cho hai con nhỏ của Cô. Đứa lớn 7 tuổi, coi nhà, nấu cơm, và trông chừng em trong khi Cô giáo Việt văn ("mất dạy" vì có chồng đi "học tập cải tạo") trở thành một bà Tú Xương của thời đại, tần tảo kiếm sống giữa chợ đời.


Tưởng mình đã khôn ra nhiều vì một ngày cuối tháng 4 u ám của đất nước, nhưng hai đứa bé con cô Diệp còn khôn hơn. Hãy nghe em lớn đối đáp với chúng tôi :


- Em cảm ơn các anh chị đã cho tụi em bánh. Em sẽ để dành cho bé Út, nó nhỏ hơn cần ăn hơn em, vì nó không được uống sữa.


- Em có nhớ Ba không?

- Nhớ chứ, nhưng Ba đi tù không biết bao giờ mới về!


- Em giỏi lắm biết giúp đỡ Mẹ khi người lớn vắng nhà.

- Em chỉ ao ước mình mau lớn để có thể giúp Mẹ nhiều hơn.

- Em có mơ ước gì không?

- Em chỉ mong Ba sớm được về để Mẹ đỡ cực khổ....

Thời đó, những người cầm quyền ở địa phương "có nét chữ như gà bới" nhưng biết "phê duyệt" vào lý lịch của các thí sinh thi vào Đại học có cha đang sống đời "tù không tội ở các trại tù đầy sơn lam chướng khí:

"Có cha đang học tập cải tạo, thuộc thành phần thứ 14 của xã hội"

(Tưởng cũng nên biết xã hội VN thời đó chỉ có 15 thành phần)

Đâu đó trên những nẻo đường của miền Nam, có những thanh niên mắt sáng môi tươi, bỏ dở học trình, thay cha, giúp Mẹ nuôi em. Thời đó, người ta sẽ thấy những anh lơ xe mặt mũi sáng láng, ăn nói hòa nhã lễ độ; những anh thanh niên xung phong đội "mũ tai bèo che khuất tương lai,chong đèn dầu mỗi đêm đọc sách.


Như thế đó, nên đã 46 năm trôi qua, mỗi năm vào mỗi độ tháng 4, chúng tôi không thể có được nụ cười khi nghĩ về chuyện chung của đất nước, và chuyện riêng của gia đình. Chúng tôi đã tha thứ cho những người đã gây ra tai họa cho đất nước, cho gia đình từ lâu. Nhưng quên thì thú thật, những tổn thương chúng tôi đã chịu đựng sau 30 tháng 4, và các thế hệ kế tiếp vẫn đang chịu đựng, vẫn là một vết hằn không bao giờ nhòa trong tâm hồn. 


Trong nỗi buồn sâu lắng mỗi cuối tháng 4. Chúng tôi vẫn tin sẽ có một ngày quê hương sẽ có tự do, dân chủ, để không một em bé Việt Nam bị cướp mất thời mới lớn như chúng tôi, và để chất xám Việt Nam ngưng chảy ra quê người.


Nguyễn Trần Diệu Hương

APR  30 2021

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.