Hôm nay,  

Ghè Gốm Gò Chàm

30/04/202114:06:00(Xem: 5478)
VANG HOI
Vàng Hời.(hình minh họa - nguồn: https://kenh14.vn)

Thằng Đẹn lùa bò về đến sân, giọng hấp tấp

- Má, ba đâu?

Bà Tư Đàm, má Đẹn đang ngồi nhổ cải non sẵng giọng

- Gì mà hóng hớt vậy Đẹn? Ổng mới tưới nước mấy giồng rau đây, hổng biết đi đâu nữa? Hổng chừng ổng đan lợp ở sân cát!

Đẹn không trả lời bà Tư Đàm mà chạy tọt vào nhà, đến sân cát 

- Ba, con mới thấy một mạch đá ong đỏ chót và dài lắm. Con cào cào sơ lớp đất mặt và vạch bụi cây cùm rụm là lộ thiên.

Ông Thảnh tỏ vẻ hoài nghi

- Mầy nói giỡn hay nói chơi? Tao thả bò ở gò Chàm từ hồi mười tuổi, có bao giờ thấy đá ong ở đó đâu!

- Thiệt mà ba, con đâu có giỡn, con thấy tận mắt đá ong đỏ roi rói luôn.

Ông Thảnh buông cái lợp đang dở xuống, đứng dậy ra sân vác cây xà beng rồi bảo Đẹn

- Mầy dắt tao ra đó xem thử, đá ong chỗ nào?

Đẹn lấp sấp đi trước, miệng huyên thuyên không ngớt về sự phát hiện mạch đá ong. Nó có vẻ tự hào như là một phát kiến lớn, mà không chừng lớn thiệt. Dân quanh vùng bao đời nay có ai thấy đá ong ở gò Chàm bao giờ. 

Gò Chàm nằm sau lưng chùa Ngọc Thạnh, rộng mênh mông, ùm tùm bụi lùm dú dẻ, dành dành, cơm nguội… nhưng nhiều nhất vẫn là cây xương rồng. Xương rồng gò Chàm trông giống như cái vợt ping pong, lại như cái quạt nan, gai tua tủa. Xương rồng ngỡ vô dụng nhưng sau khi trảy hết gai có thể cho bò ăn, nhìn xương rồng ai cũng ngỡ khô cằn nhưng nào ngờ lại mọng nước. Nó chắt chiu nước từ đất gò, ngậm sương đêm để hút nước vào thân, uống những giọt nước mưa ít ỏi để tích tụ mà duy trì sự sống, cuộc sống rất khô khan ở cái vùng đầy nắng gió này. Xương rồng như những cư dân ở đây, luôn phòng thủ và để giành. Xương rồng trông gai góc khó gần, khó ưa nhưng lại nở những bông hoa đỏ hoặc vàng khá đẹp mắt, trái của nó chua chua ngọt vị giống như thanh long và kiwi. Có ai đó bảo rằng, thanh long cũng là họ của xương rồng mà thôi! Gò Chàm đầy xương rồng, nơi thả bò của dân làng Ngọc Thạnh, An Sơn, Quy Hội… Thằng Đẹn kéo tay ông Thảnh lại gần bụi cùm rụm mà nó vạch lúc sáng. Ông Thảnh dùng xà beng xắn mấy gốc cùm rụm, dú dẻ giạt ra, nền đá ong thấy rõ ràng. Ông cào đến đâu thì đá ong lộ ra đến đó, tiếp tục cào và lẩm bẩm

- Cái vỉa đá ong này lớn lắm, trúng mánh rồi con ơi!

Sáng sớm hôm sau, ông Thảnh, thằng Đẹn cùng anh Bảy Thạch, anh Tám Tòng kéo ra gò Chàm chẻ đá. Đục đá ong để bán vốn là nghề lâu nay của làng Ngọc Thạnh, đá ong dùng để xây móng, xây tường, xây chuồng heo...Những giếng nước bọc đá ong, nước trong vắt và uống ngọt hơn giếng bộng xi măng. Những viên đá ong hình chữ nhật, dài cỡ ba gang tay, dày một gang tay, được đẽo bằng mũi de và búa. Suốt ngày hôm đó, nhóm ông Thảnh đẽo được năm mươi viên đá ong. Ông Thảnh nói chưa khi nào đục đá ong dễ như thế! Vỉa đá ong gần như lộ thiên, bề ngang chừng mười thước, còn chiều dài và độ sâu thì chưa biết bao nhiêu, chỉ ước chừng rất dài và sâu.

Tháng rồi ông Thảnh sắm được hai chỉ vàng, sau khi trả công thợ và những chi phí cho việc đẽo đá ong. Mấy nhóm thợ các làng khác hay tin nên bắt đầu đổ về gò Chàm. Gò Chàm tịch mịch vắng vẻ bao đời nay, giờ xôn xao như một công trường. Nhóm thợ Bảy Thao, Chín Tửng… đua nhau xí phần, tiếng đục đẽo đá chí chát đập vỡ sự tĩnh mịch gò Chàm. Giấc xế, nghỉ tay uống nước ăn vặt, Hai Thảnh nói

- Mình làm đầy chuyến xe bò này nữa rồi nghỉ, hôm nay coi như đủ sở hụi!

Lúc mọi người nghỉ giải lao, thằng Đẹn đi loanh quanh lục lạo tìm kiếm xung quanh. Tánh Đẹn hồi nào đến giờ vẫn vậy, thích tò mò, sục xạo, cái gì ngộ ngộ là nó tìm hiểu cho ra lẽ mới thôi! Đột nhiên nó quỳ trên mặt đất, hai tay cào bới quanh cái miệng tròn tròn, có lẽ cái ghè hay cái hũ chi đó. Sau khi biết chắc là cái ghè, Đẹn kêu toáng lên

- Ba ơi, lại đây coi cái này nè!

Ông Thảnh quở

- Cái thằng tánh như con nít, việc gì mà um sùm vậy Đẹn?

Nói thì nói nhưng Hai Thảnh cũng đi đến chỗ thằng Đẹn, nhìn thấy cái ghè bằng đất nung nửa chìm nửa lộ từ mặt đất. Ông Thảnh giật mình, linh tính cho biết đây không phải là chuyện tầm phào, Ông ngồi xuống lấy tay bụm miệng thằng Đẹn, thì thầm

- Đừng la lớn kẻo người ta biết!

Ông Thảnh moi thêm một tí nữa là lôi được cái ghè lên, không biết nó nằm trong đất bao lâu mà màu gốm vẫn đỏ au như mới nung, cái nùi bịt miệng ghè hổng biết bằng gì, vừa giống như gỗ lại giồng như vải nhưng đã hóa thạch cứng như cục san hô. Hai Thảnh cố gỡ nhưng hết sức cẩn thận vì sợ bể cái ghè, tuy khó nhưng cuối cùng cũng gỡ được, nghiêng ghè trút ra mặt đất thì thấy rơi ra nào là nhẫn, chuyền, cà rá, những tấm vàng lá dập nổi… Hai Thảnh lập tức hốt hết bỏ vô trở lại và bảo Đẹn ngồi đó giữ cái ghè. Đoạn ông đem xe bò lại, lấy cái ghè giấu vào giữa những viên đá ong, ông nói với Bảy Thạnh và Tám Tòng

- Tự dưng tui đau bụng quá, nay nghỉ sớm, bữa khác làm bù!

Mấy anh thợ tỏ vẻ không bằng lòng, Hai Thảnh biết ý liền nói

- Mấy anh em đừng lo, tui trả đủ công ngày hôm nay!

Nghe thế mấy anh thợ đá vui vẻ ngay, về đến nhà Hai Thảnh bưng cái ghè vào buồng riêng, sau khi đã đóng hết cửa lại. Ông trút ra sàn nhà, hai vợ chồng sáng mắt tươi hẳn lên, bao  nhiêu là vàng, đặc biệt nhất là những chùm cau và tượng thần  chi đó. Hai vợ chồng căn vặn thằng thằng Đẹn

- Đừng nói cho ai biết, họ mà biết thì mình chết đó!

Từ hôm đó, ông Thảnh không đi đục đá ong nữa, mấy người thợ làm chung ngạc nhiên lắm, đang làm ăn ngon lành bỗng dưng bỏ ngang. Bảy Thạnh đến hỏi thì Hai Thảnh trả lời

- Đá ong này tui nghi của người Hời, đục đẽo nhiều sợ bị vật, nếu lỡ trúng bùa yểm thì chết!

Bảy Thạnh không nói gì thêm, lòng đầy ngờ vực, dợm chân quay đi, ra đến cửa nghĩ sao ngoái cổ lại hỏi một câu

- Có phải bữa nọ anh được vàng?

Hai Thảnh giật mình nhưng lẹ làng đáp

- Trời đất, vàng ở đâu mà được chú Bảy?”

Bảy Thạnh cười nhếch mép

- Người ta nói vàng Hời bị yểm linh lắm đó!

Từ ngày nghỉ đẽo đá ong, nhà Hai Thảnh tự dưng phất lên. Hai Thảnh cho dỡ căn nhà cũ cất lại nhà mới, đúc năm tấm luôn. Hai thảnh còn mua mấy lô đất mặt tiền ngoài lộ mà mỗi lô nghe nói trên tỉ bạc. Mấy đứa con gái có chồng làng bên cũng được Hai Thảnh cho tiền nên bỗng nhiên sửa soạn se sua chưng diện, lái xe tay ga chạy rông rông khắp nơi. Thằng Đẹn không còn chăn bò nữa, giờ nó sáng sáng ra ngồi quán cà phê, xế chiều nhậu tới bến, tối đi karaoke… Tiếng đồn Hai Thảnh được vàng Hời lan xa khắp nơi. Người ta đoán già đoán non về số vàng Hai Thảnh được, tuy nhiều lời đồn khác nhau nhưng chung quy ai cũng tin chắc là Hai Thảnh được vàng Hời, Có người còn lý luận:” Không được vàng cớ sao Hai Thảnh cúng chùa Ngọc Thạnh trăm triệu, cúng Đình Vân Hội trăm triệu?  Không được vàng Hời sao Hai Thảnh rước đoàn hát bội về đình Luật Lễ cúng tạ, hát miễn phí suốt ba đêm liền? Ấy là chưa nói Hai Thảnh sắm lễ vật thịnh soạn ra tháp Bánh Ít cúng tạ mấy ngày liền”

 Ba lâm, Sáu Sự, Bảy Thạnh, Chín Cửu… quất hết hai lít bầu đá, người nào cũng sần sần hết trơn. Bảy Thạnh lè nhè 

- Tui đi đẽo đá ong với ổng được mấy tháng, một hôm bỗng dưng ổng nói đau bụng rồi hai cha con bỏ về, từ đó bỏ nghề luôn, từ đó bỗng dưng phất lên giàu dễ sợ. Ổng thì cất nhà năm tấm, con cái ăn diện chơi bời, mua xe, mua đất...thử hỏi tiền ở đâu? Bữa ổng bỏ về tui hổng có nghi ngờ gì ráo trọi, sau này liên kết nhiều việc lại thì tui mới vỡ lẽ ra là chả được vàng Hời.

Tiếng bàn tán um sùm của bạn nhậu. Sáu Sự chêm vào

- Khi ba tui còn sống, tui thường nghe ổng kể chuyện có người thỉnh thoảng được vàng Hời. Bà trùm Mễ được con ngỗng vàng, ông Tư Đẩu được chùm cau vàng…

Chín Cửu khề khà

- Tui cũng nghe tía tui kể chuyện gò Chàm, ổng nói mấy cái gò quanh đây đều thuộc về người Chàm ngày xưa. Mấy mả Hời có nhiều vàng và đồ cổ nên bị bọn trộm đào phá chanh bành.

Một lát sau Bảy Thạnh nói thêm

- Hai Thảnh được vàng Hời mà hổng biết điều, chơi hổng đẹp. Được vàng thì cũng chia cho anh em chút ít lấy thảo, đằng này ăn hết một mình. Người ta nói vàng Hời bị yểm nên linh lắm, được vàng mà không biết giải dễ bị vật như chơi!

Kế đến thiên hạ đồn râm ran khắp nơi, nhóm thợ đá làng Lộc Thọ xóm Cối Đá đào được tượng thần Shiva bằng vàng, bán được tỉ rưỡi bạc chia nhau nên giờ bỏ nghề hết rồi. Tiếng đồn đâu sai, bọn buôn đồ cổ lảng vảng quanh các xóm ở gò Chàm dọ hỏi mua đồ cổ. Chính quyền sở tại bắt đầu chú ý đến gò Chàm và những người có liên quan, quận đã cử người về tra hỏi vụ việc. Sở cũng cử chuyên viên khảo cổ về gò Chàm. Báo chí truyền thông lập tức nhảy vào đưa tin, khổ nổi một đồn trăm, bọn báo chí và mạng truyền thông tha hồ thêm thoắt thêu dệt vô số chuyện ly kỳ để câu khách.

Buổi tối nhà Hai Thảnh đèn neon sáng trưng, ti vi màn hình mỏng đời mới ra rả tin tức nóng bỏng về gò Chàm. Hai Thảnh và vợ thích thú thấy cảnh gò Chàm của quê mình được lên ti vi. Chương trình thời sự phát cảnh phỏng vấn giáo sư Dương Hồng Sinh. Giáo sư đưa ra kết quả sơ bộ cuộc điền dã gò Chàm

“ Chúng tôi đã khảo sát vỉa đá ong gò Chàm, đồng thời đào thám sát nhiều hố chung quanh. Sơ bộ chúng tôi nhận thấy vỉa đá ong dày mười mét sâu năm mét, còn độ dài thì chúng tôi chưa có số liệu chính xác. Sở dĩ vỉa đá ong lộ ra là do tháng năm mưa nắng bào mòn lớp đất mặt, móng chân thành này có lẽ bị vùi lấp từ sau thế kỷ mươi ba, khi mà kinh thành Vijaya bị triệt hạ. Tòa thành này cùng chung số phận như những tòa thành khác.  Đòan khảo cổ chúng tôi còn thu được rất nhiều hiện vật có giá trị lớn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật như: ghè gốm, thống gốm, tượng chim thần Garuda, đặc biệt một tượng thần Vishnu vô cùng tinh xảo. Chúng tôi tạm kết luận vỉa đá ong gò Chàm vốn là một đoạn móng của một tường thành thuộc vương quốc Champa cổ xưa, có thể đây là một tiền cung của vua Chiêm, bởi vì từ gò Chàm đến kinh đô Vijaya không xa mấy. Chúng tôi tiếp tục khảo sát, làm đến đâu công bố kết quả đến đấy, sau khi kết thúc thì làm báo cáo  khoa học trình lên chính phủ. Điều đáng tiếc là cư dân quanh vùng không hiểu giá trị của di tích khảo cổ qúy giá này. Họ đục đẽo lấy đá ong về xây tường rào, làm giếng nước, thậm chí xây chuồng heo… Họ vô tình phá hoại di chỉ độc đáo quý giá này. Một số kẻ trộm cắp đào bới để tìm cổ vật, họ chỉ biết giá trị tiền của cổ vật mà không biết gì giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật của cổ vật! Mong sao chính quyền ra tay bảo vệ di tích lịch sử độc đáo của quốc gia!” 

Cả ông Hai Thảnh và bà Tư Đàm đều giật mình nhìn nhau, tuy không nói ra nhưng hai ông bà đều có cùng suy nghĩ và nỗi lo lắng. Bà Tư Đàm lặng lẽ bỏ vào buồn nằm, ông Hai Thảnh với tay lấy điều khiển tắt ti vi, ông ngồi trầm ngâm và liên tục đốt thuốc, cái gạt tàn đầy ắp mẩu thừa và tro của điếu thuốc, lòng ông Hai Thảnh thì ngổn ngang những nỗi lo mơ hồ từ mấy ngày qua.

Sáng hôm sau mấy quán cà phê của trấn Phù Dung quanh gò Chàm xôn xao hẳn lên. Những nhóm thanh niên ngồi đồng ở quán bàn tán chuyện đồ cố gò Chàm. Người các làng thấy chính quyền cắm bảng cấm đào bới gò Chàm. Nhiều người còn khẳng định “ Rồi đây bọn mua bán cổ vật gò Chàm sẽ bị sờ gáy cho mà coi”. Thằng Đẹn uống cà phê về nói với ông Thảnh

- Ba, người ta đang đồn rân chuyện gò Chàm, hổng biết mình có bị sao không nữa?

Hai Thảnh lo lắng mấy ngày qua, càng lo hơn khi thấy bảng cấm ở gò Chàm, giờ thì thiên hạ thêm mắm dặm muối càng làm cho câu chuyện thêm to. Hai Thảnh sợ có ngày người ta sẽ hỏi chuyện ông, tuy vậy Hai Thảnh cũng cố trấn an

- Không sao đâu con, mình có trộm cắp chi đâu! Mình đào đá ong trước khi có lệnh cấm kia mà!

Thằng Đẹn lại nói

- Ngoài quán cà phê người ta đồn nhóm thợ đá làng Lộc Thọ bị bắt rồi, họ còn thu lại được tượng thần Shiva bằng vàng từ tay bọn buôn đồ cổ.

Hai Thảnh chẳng phải lo lâu hơn nữa, bữa cơm trưa vừa dọn ra thì thấy Khanh khùng xăm xăm bước vào nhà. Sở dĩ y có biệt hiệu Khanh Khùng là vì tánh tình y tửng tửng , hờn giận bất thường. Y vốn là công an xã, năm kia làng có ngườii gả con cho Việt Kiều. Y không thấy người ta đến xin xỏ hay báo cáo như lệ thường. Y bèn tự thân đến nhà người ta, xồng xộc xông vào dò xét nhưng không thấy gì lạ. Y hỏi một câu ngớ ngẩn

- Tôi nghe người ta nói nhà bà gả con cho Việt kiều, bà làm đám cưới dấu sau bếp? Sao không báo cáo xin phép chính quyền?

Bà chủ nhà ngớ người ra, sau này chuyện lan truyền khắp các làng, từ đó ai cũng kêu y là Khanh khùng. Hai Thảnh thấy Khanh khùng thì lòng đã sờ sợ nhưng cũng cố tươi tỉnh chào hỏi y. Y chẳng đáp mà hoạnh họe

- Có phải ông được vàng Hời? Tại sao không báo cáo cho chính quyền?

Hai Thảnh run bắn lên nhưng trấn tĩnh chối

- Trời, ai đồn chi ác vậy? Làm gì có chuyện đó! Người ta ghen ăn tức ở đồn thổi bậy bạ đó!

Khanh khùng vặn

- Thế tiền đâu ông xây nhà năm tấm, lại còn mua mấy lô đất ngoài lộ?

Hai Thảnh nhanh nhảu

- Tui trúng mánh, đào được vỉa đá ong gò Chàm nên mới có tiền cất nhà.

Khanh khùng buông lời đe nẹt trước khi quay đi

- Ông bà liệu sao đó thì liệu, trên quận mà xuống thì không chối được đâu!

Hai Thảnh bàn với bà Tư Đàm nên có lễ vật gì cho y để y làm lơ cho, bàn tới bàn lui chỉ có tiền mặt là tiện lợi nhất và y cũng thích nhất. Mấy hôm sau quả thật người trên quận xuống thật, họ khám xét nhà Hai Thảnh và bắt Hai Thảnh đem về trên quận. Khanh khùng uống cà phê quán lộ thiên tiết lộ:” Quận khám nhà Hai Thảnh, tịch thâu ghè gốm cổ, một số vàng lá dập nổi thần Shiva và nhiều hiện vật bằng vàng khác. Quận cũng sung công quỹ mấy lô đất ngoài lộ vì là mua bằng tiền bất hợp pháp...” 

Bảy Thạnh hay tin hả dạ lắm, gặp bạn thợ đá liền hả hê báo tin

- Đáng đời Hai Thảnh, nếu hồi ấy ổng chia cho anh em một ít lấy phước thì giờ đâu đến nỗi mất sạch. Vàng Hời bị yểm nên linh lắm, nếu may không bị vật thì cũng mắc họa nọ kia”

Thằng Đẹn đổi thay từ ngày Hai Thảnh được vàng. Nó không còn đi thả bò nữa, bắt đầu đua đòi theo trào lưu K.Pop như con trai thành thị, quần áo se sua mốt Hàn, tóc nhuộm vàng hoe chứ không còn cháy nắng hoe hoe đỏ như râu bắp. Nó kết bạn với đám bạn vô công rỗi nghề  suốt ngày cà phê, bi da, nhậu nhẹt, Karaoke, rồi còn đua đòi bia ôm gái ghú… Có lần say sưa giành đào với nhóm khác ở quán Karaoke Ô Mê Ly, hai nhóm xông vào đánh đấm chém nhau. Một đứa trong nhóm kia bị chém trọng thương. Bà Tư Đàm phải bỏ ra một món tiền rất lớn để bồi thường cơm thuốc cho nạn nhân và  biếu họ nhiều lần nữa để họ bãi nại, phần phải dúi cho Khanh khùng để y làm lơ cho 

Chỉ sau mấy năm nằm ăn không và phá tán, của cải tài sản trong nhà dần đội nón ra đi sạch trơn. Hai Thảnh ở tù vì tội phá hoại di tích khảo cổ và mua bán cổ vật trái phép, nhờ có tiền nên chỉ hai tháng được thả ra. Hai Thảnh nhìn cảnh nhà cửa và thằng Đẹn nên phát rầu, nói với vợ

- Giá hồi đó đừng được cái ghè gốm thì chắc nay đâu đến nỗi này! Những tưởng được vàng sẽ lên hương nào ngờ bạc thế!

Bà Tư Đàm nằm võng đưa kẽo kẹt, hò

...Ầu ơ… ví dầu chàng được vàng Hời

            Ngỡ đâu lộc đất ơn trời chi đây...ầu ơ…

  Ầu...ơ… Ví dầu họa phước đổi thay…

 ầu...ơ...họa phước đổi thay

 ầu...ơ...Hôm qua mới được bữa nay mất rồi. 

Hai ông bà còn rầu rĩ thở than, thằng Đẹn từ đâu khệnh khạng xô cửa bước vào, dáng điệu loạng choạng chân nam đá chân chiêu, hơi thở nồng nặc rượu bia

- Ba má bán cái nhà này đi, lấy tiền cho tui làm ăn.

Hai Thảnh sững sờ, bà Tư Đàm ngồi bật dậy chưng hửng

- Đẹn, mầy nói sao? Bán cái nhà này rồi tao với ba mầy ở đâu? Không lẽ ra chợ gò Loi?

Thằng Đẹn hùng hổ

- Tui hổng biết, phải bán cái nhà này, tui cần tiền làm ăn!

Ông Hai  Thảnh nạt

- Làm ăn gì mầy! Ăn nhậu chơi bời thì có!

Thằng Đẹn sấn tới như muốn oánh ông già. Bà Tư Đàm la to

- Đẹn, mầy tính hỗn với ba mầy sao? Đồ bất hiếu! Muốn bán thì bán, sau này đầu đường xó chợ thì đừng trách.

Thằng Đẹn chỉ cần nghe bán là xuống nước liền

- Phải vậy chứ! Ba má bán nhà đưa hết tiền cho tui đặng tui làm ăn.

Nói đến đó nó ụa ọe nôn thốc nôn tháo xuống nền gạch bông, đoạn nó nằm vật ra giữa nhà ngủ ngáy như bò rống. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 02/2021

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.