Hôm nay,  

Bàn Tay Nhân Ái

29/05/202110:08:00(Xem: 5513)

 

Câu chuyện thứ nhất: Một người đàn ông da trắng đứng trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu. Người đi qua đi lại, không ai để ý đến ông. Ngay cả khi ông kèo nài người qua đường. Could you spare me some change for something to eat. Khuôn mặt có nhiều nét hằn của thời gian. Thân hình ốm o. Chiếc áo rộng thùng thình chắc là món quà của Salvation Army. Chiếc quần jean bạc màu và đôi giầy màu nâu không bí tất. Hình ảnh quen thuộc của những người vô gia cư trong thành phố.

Một thanh niên Á Châu sau khi xếp đồ vào xe, đẩy chiếc xe chở đồ lại chỗ trả xe. Ông già vô gia cư - cứ tạm cho rằng ông già là người vô gia cư đi – đăm đăm nhìn người thanh niên. Hai mắt mở lớn. Hai con mắt mệt mỏi nhưng sao tôi vẫn thấy từ đó ánh lên cái gì như tia hy vọng. Có thể là tôi để trí tưởng tượng rong ruổi như con ngựa được nới lỏng dây cương. Người thanh niên đẩy chiếc xe chở đồ chợ lại chỗ trả xe. Ngày trước, thiên hạ dùng xe chở đồ xong, thường hay bỏ đại trong bãi đậu xe, cửa tiệm phải thuê nhân viên đi gom những chiếc xe đẩy ấy về tiệm. Rồi người ta nghĩ ra cách gắn sợi dây xích vào xe. Muốn dùng xe, bạn phải gài một đồng bạc cắc vào cho sợi xích tuột ra. Dùng xong, trả xe lại chỗ cũ, gài sợi dây xích vào bộ phận khóa xe, đồng bạc rơi ra. Bạn lấy lại được đồng bạc và cùng lúc bạn trở thành người lịch sự vì đã trả chiếc xe đẩy hàng về chỗ cũ.

Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm. Đồng tiền mất hút khỏi tầm nhìn. Ông già khom lưng tìm. Nhưng dù có trông thấy đồng bạc cũng chẳng cách nào lấy ra được trừ khi tháo hết từng chiếc xe một để chừa ra khoảng trống. Ông cụ cứ loay hoay hết đứng thẳng lại cắm cúi tìm kiếm.

Một người đàn bà và một bé gái đi qua chỗ ông già. Bé gái chăm chăm nhìn ông già đang lom khom tìm kiếm kia. Bé gái níu tay người đàn bà. Và hai mẹ con - chắc là hai mẹ con - dừng lại. Em bé buông tay mẹ chạy đến bên ông già hỏi ông già tìm gì. Ông già chỉ vu vơ xuống khoảng nền xi măng phía dưới những chiếc xe đẩy dành cho khách hàng. The loonie. My loonie. Đồng bạc của tôi. Loonie là tiền cắc một đồng ở Canada, có hình con loon, một loại chim có thể lặn dưới nước như vịt, sống nhiều ở bắc bán cầu. Đồng loonie lăn tận xó kẹt nào đó. Và ông già lom khom tìm kiếm. Bé gái cũng khom người nhìn theo hướng ngón tay chỉ của ông cụ. I don’t see anything. Bé gái nói, giọng trong trẻo. Ông cụ lắc đầu. Có chứ. My loonie. A nice man gave it to me moments ago. Bé gái hỏi: Chỉ có một đồng cắc loonie thôi phải không. Ông cụ gật đầu. Bé gái chạy lại chỗ bà mẹ đang chờ. Mommy, can I have a loonie. Người đàn bà lục cái túi xách đeo bên vai, lấy ra một đồng loonie đưa cho bé gái. Bé gái cầm đồng tiền trong tay, chạy lại bên ông cụ. Cô bé giúi đồng tiền vào bàn tay ông cụ. Here’s your loonie!

Buổi sáng, trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu, tôi ngồi đếm những tấm lòng. Tôi thầm tiếc người thanh niên đã có lòng cho ông cụ một đồng bạc mà không dám đưa tận tay ông già để đồng bạc lăn đi mất. Và bất chợt, tôi nhận ra rằng đó là hành vi thường thấy ở những nơi thiếu sự tôn trọng người khác. Ngay cả đối với loài vật cách cư xử của con người cũng khác biệt tùy nếp sống văn hóa của chính họ. Ở các nước như Việt Nam, người ta ném xương cho chó chứ ít có người đặt miếng ăn một cách từ tốn trước mặt con vật. Ở những nền văn hóa tôn trọng đối tượng (con vật hay con người) người ta đặt thức ăn trước mặt con vật, xoa đầu nó, nhiều người còn bon appétit! với nó. Với kẻ bần hàn, người ta đặt đồng bạc từ tâm vào lòng bàn tay họ chứ không quăng đồng bạc - một cách khinh mạn - như người thanh niên trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu mà tôi gặp. Và tôi nhận ra sự khác biệt giữa hành vi chia sẻ và hành vi bố thí, dẫu cả hai cùng phát xuất từ một chút từ tâm. Phát sinh từ lòng trắc ẩn, đồng loonie của người thanh niên kia là đồng tiền bố thí cho kẻ khốn cùng, còn đồng loonie của cô bé là đồng tiền chia sẻ với một người nghèo khó.

Câu chuyện thứ hai: Người tù được thả vào buổi sáng tinh mơ, khi nắng còn le lói sau những ngọn cây. Đám người thăm nuôi vây quanh. Những câu chào xen lẫn những lời hỏi thăm tíu tít. Có gặp anh A, anh B, ông C… trong đó không. Có, tôi có gặp ông C nhưng không gặp ông A. Hình như ông A đã được chuyển trại cách đây mấy tuần rồi. Thế còn ông B. Ông B cũng vậy. Chuyển trại mà không báo cho người nhà biết à. Dĩ nhiên rồi. Chuyển trại. Đem đi đày nơi khác - một nơi không ai biết - là chuyện thường tình ở đất nước này. Tôi đang nói về đất nước Việt Nam, và năm xảy ra câu chuyện này là 1979 khi cả nước Việt Nam tội nghiệp đã loe loét sắc đỏ của cái chủ nghĩa tồi tàn. Năm ấy, tôi ở cái nơi có tên Trại Tạm Giam Kiên Giang, tôi bị giam TẠM trong khám lớn vì bị tình nghi “tham gia những hoạt động chống phá cách mạng.” Buổi sáng, tôi được trả tự do sau một năm tù đày. Cái đầu tóc vừa mới cạo lởm chởm được mấy hôm. Thằng bạn tù tự nhận là ngoài đời có nghề hớt tóc. Có nghề thì có việc làm, được đứng giữa trời nắng, phơi những mụn ghẻ và hít thở không khí trong lành, nghe được tiếng chim hót, thỉnh thoảng được ngắm nhìn những con chim chọc ghẹo nhau tíu tít trên những cành cây rậm lá. Tên bạn tù tự nhận là có nghề cắt tóc. Tôi đem cái đầu chấy rận bù xù ra cho nó thanh toán. Tên thợ cắt tóc như cóc gặm. Lũ bạn đồng tù nhìn tác phẩm của nó, phê bình như thế. Cái đầu cóc gặm. Nhưng như vậy vẫn hơn để nguyên mớ tóc rối bù suốt ngày gãi xồn xột, đôi khi làm rụng xuống những con chấy kềnh no nê bụng căng máu đỏ.


Buổi sáng, tôi mang cái đầu cóc gặm, đi chân đất - bởi đôi giầy đã bị chúng tịch thu ngay khi bị bắt khoảng một năm trước đó – loanh quanh giữa đám đông, tìm người nhà. Tôi chớp mắt ngỡ ngàng với nắng. Tôi luống cuống nhìn quanh. Bao nhiêu khuôn mặt xa lạ nhưng gần gũi. Những người mẹ đi thăm con, những người vợ đi thăm chồng, những người em gái đi thăm anh, những đứa con gái đi thăm cha. Những kẻ có người thân là tù nhân, buổi sáng, tụ đầy ngoài cổng khám lớn, chờ gửi quà vào cho người nhà đang bị giam cầm. Tôi cũng là tù nhân và họ là những kẻ đi thăm (nuôi) tù. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi thấy gần gũi. Tôi ở tù, bố mẹ không biết tin nên chẳng được thăm nuôi. Và tôi đứng xớ rớ, ngẩn ngơ nhìn mọi người. Gần một năm trời co cụm giữa bốn bức tường. Hít chung bầu không khí nặng hơi người và đủ thứ mùi xú uế đã quen, bây giờ hít thở lại thứ không khí trong lành, tôi mang cảm giác của người đi lạc. Lạc tới một nơi chốn không quen, chưa hề đặt chân tới bao giờ. Tôi được trả tự do. Đôi giầy đã bị tước đoạt ngay lúc mới bị bắt. Giấy tờ tùy thân và quyết định phân công ra trường đám cai tù không biết ai giữ, tôi cũng không dám đòi vì đã từng có nhiều tù nhân khi được trả tự do, đã đòi lại giấy tờ, và vì không tìm thấy giấy tờ của họ, đám cai tù bắt giam họ trở lại để “chờ giải quyết sau.” Tóc tai lởm chởm. Mặt mũi hốc hác, xanh xao. Tay chân ghẻ lở trầy trụa. Mặt mũi ngơ ngáo. Tôi ngẩn ngơ cả với ánh nắng nóng ran trên da mặt. Tất cả như lạ, như quen. Một người đàn bà còn khá trẻ đứng xa xa nhìn về phía tôi khi tôi giải thích cho người nhà ông A, ông B biết cách người ta chuyển tù. Thế này nhé: không hề báo trước, người ta bất ngờ mở hé cái lỗ vuông vức trên khung cửa. Người ta chõ mồm vào đọc những cái tên. Trại giam đang ồn ào như phiên chợ bỗng dưng im bặt. Những cái tên được đọc lên. Người ta đọc nguyên một danh sách và bảo những người có tên trong danh sách ấy thu gom đồ đạc của mình trong vòng năm phút. Những người có tên trong danh sách ấy có thể sẽ được trả tự do, có thể được chuyển qua trại khác, có thể bị chuyển đi U Minh. U Minh là nơi người ta đày những người tù bất trị. Tóm lại đó đơn giản chỉ là một danh sách tù nhân. Có thể được trả tự do hay bị chuyển sang trại khác, có thể là đi đày. Chuyện gì xảy ra cho họ chỉ mình họ biết. Đám bạn đồng tù chỉ có thể đoán mò. Nghe giải thích xong, những người thăm nuôi tản mát về phía cổng trại giam. Chợt người phụ nữ còn khá trẻ kia tiến đến bên tôi. Tôi ngước nhìn, chờ câu hỏi thăm của chị nhưng chị bất ngờ giúi vào tay tôi mảnh giấy nhỏ. Tôi ngỡ ngàng nhìn tờ giấy trong lòng bàn tay mình. Đó là tờ giấy bạc năm mươi đồng. Bạn hãy hình dung năm mươi đồng ở nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của năm 1979. Tôi ú ớ không biết nói sao. Nhưng chị đã mau miệng nói: “Anh cầm lấy để mua vé xe về nhà. Chừng nào trả cũng được.” Và chị quay ngoắt đi, lẩn vội vào đám đông. Bạn có biết 50 đồng năm 1979 lớn cỡ nào không? Tôi hồi ấy, bác sĩ mới ra trường lương tháng trong hai năm đầu là 85% của 60 đồng tiền mới đổi (còn gọi là tiền Hồ).

Từ đó, khi nhìn thấy bất kỳ người phụ nữ Việt lam lũ, nghèo nàn nào ngoài đời sống hay trong hình chụp, trong hay ngoài đất nước Việt Nam, tôi cũng đều nghĩ là chị ấy; người đã giúi đồng năm chục vào tay anh chàng bác sĩ trẻ măng vừa mới ra tù; một kẻ không quen biết, cùng với lời dặn dò: “Chừng nào trả cũng được!”

Hôm nay tôi kể lại câu chuyện năm xưa. Biết đâu người chị không quen biết năm nào tình cờ đọc được. Chắc chị sẽ không tìm gặp người đã nhận sự giúp đỡ năm xưa của chị để nhận lại số tiền cho mượn. Tôi cũng không dám nghĩ sẽ gặp lại chị để trả lại chị năm mươi đồng bạc quý giá năm xưa, tôi chỉ mong gặp chị, để nói với chị một lời cảm ơn - bởi hôm ấy, trong lúc tôi còn ngẩn ngơ trước cử chỉ quá bất ngờ, chưa kịp nói câu gì thì chị đã biến đi. Chị biến đi như bà tiên trong chuyện cổ tích. Tôi muốn nói với chị lời cảm ơn bởi chị đã để lại trong tôi hình ảnh tuyệt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bởi không biết chị là ai nên nhìn người nữ nào tôi cũng nghĩ là chị; người mẹ, người cô, người dì, người thím, người chị, người em gái đúng nghĩa.

Mấy mươi năm sau, ở quê hương thứ hai, tôi lại gặp một người nữ, một người nữ trẻ thơ, một người nữ có tấm lòng; người đã nhét vào lòng bàn tay ông già vô gia cư trước tiệm thực phẩm Á Châu đồng tiền nhân ái. Những người nữ đã làm rực rỡ thêm hình ảnh đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ. Và cho đến bây giờ tôi vẫn tin người phụ nữ đẹp là người có tấm lòng nhân ái.

À quên, lòng nhân ái và sự ngây thơ. Bởi buổi sáng hôm ấy, bạn biết không, khi bà mẹ nói với bé gái trước cửa tiệm tạp hóa Á Châu: You’re a good girl, bé gái đã nói với mẹ một câu dài mà tôi hiểu được như thế này: “Mẹ ơi con tiếc quá, phải như ông cụ không bị mất đồng loonie của ông ấy thì bây giờ ông ấy đã có tới hai đồng rồi!”

Ơi, cái ngây thơ đầy thánh thiện!

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.