Hôm nay,  

Mộng Làm Văn Sĩ

10/07/202110:30:00(Xem: 4945)

 


Thế là một ngày đẹp trời y bỗng nảy ra ý nghĩ: "Sao mình không thử làm văn sĩ?”, nói là làm ngay. Y vội lấy giấy bút và ngồi vào bàn hẳn hoi. Y lại nghĩ: "Phàm làm việc gì cũng phải có lễ, khai trương bá cáo cho thiên hạ biết, huống chi đây là việc quan trọng của đời người và còn ảnh hưởng đến đời sau”, nghĩ thế bèn đứng lên chỉnh sửa y phục thẳng thớm trang nghiêm, chải tóc, rửa mặt cho trông dễ coi một tí, đoạn nói lớn:

- Tôi tên Mộng Thường Sinh, người đất Mắc Sê, nay tôi khởi sự viết văn, hòng ghi lại những sự kiện lớn nhỏ của đời người, những tâm tình tư tưởng của kiếp nhân sinh. Mộng Thường Sinh này không nệ đề tài lớn hay nhỏ, cao cả hay tầm thường. Tôi cũng không hẳn vì nghệ thuật cũng chẳng hoàn toàn vì nhân sinh. Tôi sẽ dung hòa cả hai thái cực, hy vọng sẽ cho ra những tác phẩm để đời…

Tuyên bố xong y lại ngồi vào bàn viết, vuốt tờ giấy trắng tinh vốn đã thẳng thớm lắm rồi, không thể nào thẳng hơn được nữa, cầm bút lên toan viết ra nhưng lúc ấy đầu óc lại nảy ra câu hỏi:” Mình sẽ bắt đầu bằng ngôn từ gì đây, bình dân hay bác học? Đề tài nào? Chính luận hay phiếm? Nghiêm túc hay trào lộng? Truyện hay tản văn?, giọng bắc hay nam?...” cả ngàn lẻ một câu hỏi quay như những con số lô tô trong lồng. Thường Sinh không tài nào chọn được lời giải nên đặt bút xuống, lòng nhủ thầm:”Thế này thì không xong!phải tĩnh tâm, phải lắng đọng thì mới có thể tập trung viết được.

Phàm việc gỉ cũng phải toàn tâm, toàn ý thì mới thành công. Phải dụng công như thiền sư miên mật, dõng mãnh như võ sĩ giác đấu, kiên trì như người mài gươm đặng phục quốc thì mới có thể sáng tác được và tác phẩm mới hay, lời văn sẽ sắc sảo, ngôn từ bóng bẩy, câu cú rõ ràng, ngữ nghĩa đúng quy tắc...”. Sau vài phút tập trung tư tưởng. Y cầm bút lên toan hạ thủ, tiếc  thay lòng y lại có khúc mắc nên lẩm bẩm:

- Mình thật rõ đểnh đoảng, trước khi khởi sự chưa chịu suy nghĩ chính chắn nên có lắm việc phát sinh. Đã làm văn sĩ thì ắt phải có đề tài nhất định, văn chương chữ nghĩa vốn mênh mông như biển cả, không chọn đề tài thì mình sẽ như con tàu lênh đênh giữa muôn trùng sóng nước, không có đề tài thì tác phẩm viết ra sẽ lạc lõng, rời rạc và nhạt lắm. Chính trị xã hội là một đề tài lớn, tác động đến mọi người và mọi giới trong xã hội. Nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội và quốc gia, thậm chí liên quan đến thế giới… Đề tài chính trị xã hội cũng là đề tài gai góc, rất dễ đụng chạm đến các thế lực chính trị của xã hội đen lẫn xã hội đỏ, dễ gây yêu – ghét trong quần chúng, đặc biệt sẽ tạo ra những làn sóng bênh – chống trong xã hội. Đã có không ít văn sĩ bị búa rìu dư luận phang tới tấp, bị ném đá thô bạo, bị giang hồ xã hội đen lẫn côn đồ xã hội đỏ tấn công, hành hung, truy sát, triệt đường sống… Mình đã quyết dấn thân làm văn sĩ nhưng liệu có đủ bản lãnh để đương đầu chăng?

Lẩm bẩm một mình như thế, nội tâm y có cuộc nội chiến quyết liệt, hoặc là né tránh đề tài này hoặc là can đảm lao vào? Có lẽ sự suy nghĩ đã chín muồi nên y bật đứng dậy hét to:

- Hooray! Ta nhất định dấn thân, ta phải đối đầu với cái ác, chiến đầu vì xã hội văn minh và nhân ái, tranh đấu cho dân quyền, dân sinh.

Lòng y đang phấn khích bừng  bừng khí thế như một dũng sĩ ra trận, tinh thần hăng hái như chiến binh ở tuyến đầu. Y viết liền một mạch đầy mấy trang giấy, văn chương lai láng, chữ nghĩa tuôn trào ào ào như triều dâng thác đổ. Y viết về nạn quan quyền cướp đất, nhũng nhiễu dân, quỳ gối thờ giặc; nào là nạn tham nhũng như nội tặc; nào là đạo đức phong hóa xã hội suy đồi; giới trẻ lệch lạc lối sống, đam mê hưởng thụ và sống tầm thường; giới showbiz chỉ biết ăn chơi khoe thân, khoe của, làm trò đú đởn, nói xàm… Vấn đề quan trọng và có liên quan đến mộng của y là nạn văn chương chữ nghĩa nhảm nhí, ngôn ngữ lai căng, chính tả và ngữ pháp thì quá tệ hại….Y viết liền một mạch thêm mấy trang giấy cho đến khi mỏi tay, ý tứ vơi bớt mới chịu tạm dừng. Sự đời cái gì lên cao độ thì sẽ xuống thấp, lửa cháy đến đỉnh thì sẽ lụi tàn. Y cũng thế thôi, không thể nằm ngoài quy luật tự nhiên, nhiệt huyết lên đến cao trào tột đỉnh thì hạ nhiệt, sau khi viết được mươi trang thì bắt đầu kẹt ý. Y chột dạ:

- Hay là mình đổi đề tài? Văn chương mà đụng đến chính trị thì mất hay, mất sự trong sáng và cái duyên dáng đẹp đẽ. Văn chương là hiện thân của cái đẹp, không thể để dính với chính trị,vả lại đề tài chính trị xã hội đã có các nhà hoạt động xã hội lo, để cho các nhà bất đồng chính kiến viết. Có lẽ mình chỉ viết về tình cảm con người hay những vấn đề liên quan đến tình gia đình, anh em, tình trai gái lứa đôi… Hiện nay đề tài tình yêu đồng tính rất hấp dẫn và là thời thượng. Tình yêu đồng tính cũng là vấn đề nhân văn, mình phải góp phần xóa bỏ những kỳ thị bất công đối với giới đồng tính. Mình phải đánh thức lương tâm con người, đối xử bình đẳng với họ. Họ cũng là con người, có quyền yêu thương như mọi người. Họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân sao không được hưởng đầy đủ quyền lợi của công dân? Đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển giới… luôn chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử thậm chí bị hành hung. Họ có nỗi đau của họ, vì vậy mình phải tranh đấu cho sự công bằng. Nghĩ đến đây y bùi ngùi xúc động bèn xé hết những trang giấy vừa viết về đề tài chính trị xã hội. Y cắm cúi viết lại từ đầu với đề tài tình yêu và giới tính. Y dự định sẽ viết một truyện dài cỡ ba trăm trang, trong đầu y mường tượng ra một mối tình đồng tính rất đẹp và cũng bi thảm kiểu cách như Romeo và Juliet. Y viết:”… Hạo Quân trên sân khấu say xưa hát bài hát:” Vầng trăng thố lộ thay tim tôi”. Anh dồn hết tâm tư vào bài hát, sự diễn xuất của anh rất nhập vai, rất thần thái. Giai điệu bài hát vừa nồng nàn, tha thiết lại vừa sâu lắng lay động lòng người. Khán giả bên dưới dường như lặng cả người. Người ca sĩ trên sân khấu như mơ như thực nhưng ánh mắt tràn đầy tình cảm đắm đuối dành cho vị khách ngồi ở hàng ghế danh dự hàng đầu đã bị những ống kính thâu hình ghi nhận và phát lên trên những màn hình khổng lồ. Cả nhà hát dường như ngưng thần trong phút giây này. Bài hát hay, giọng ca trầm ấm truyền cảm, dáng vóc ca sĩ đẹp khiến cho khán giả yêu thích anh vô cùng. Khi Hạo Quân định công khai tình yêu dành cho Hạc Thanh thì bị ông bầu ngăn cấm, ông ấy sợ khán giả phản ứng tẩy chay sẽ làm doanh số thất thu. Hạo Quân cũng lo nghĩ điều này nhiều lắm, nhưng rồi anh cũng thố lộ ra. Nào ngờ khán giả không tẩy chay mà lại còn yêu quý anh hơn, ủng hộ anh còn nồng nhiệt hơn. Mối tình đồng tính của anh và Hạc Thanh đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của báo chí xứ này. Hương Cảng chịu ảnh hưởng văn minh Tây Phương nên cái nhìn cũng thông thoáng phóng khoáng. Hạc Thanh là một doanh nhân thành đạt, anh đã dành trọn tình yêu cho Hạo Quân, chăm sóc và nâng đỡ Hạo Quân suốt cả mười năm ròng và anh thệ nguyện sẽ yêu Hạo Quân suốt đời. Hạo Quân mượn bài hát để công khai một cách chính danh và lãng mạn tình yêu của mình đối với Hạc Thanh...”. Y viết liền một hơi dài cả mười trang giấy, với cái đà này thì truyện dài ba trăm trang có thể hoàn thành trong tháng sau. Y hy vọng các nhà xuất bản sẽ in ngay lập tức vì đây là đề tài nóng bỏng hiện nay, vả lại đề tài này cũng không đụng chạm gì đến các thế lực chính trị nên các nhà xuất bản thích lắm. Y tin chắc như đinh đóng cột, như cua gạch, như bắp rang tác phẩm của y sẽ bán chạy, sẽ nằm trong nhóm sách ăn khách hàng đầu kiểu như bestseller! Điều này cũng có nghĩa là y sẽ có một khoản nhuận bút không nhỏ. Y sẽ đưa vợ con đi nghỉ mát một tuần bù lại quãng thời gian cắm cúi dồn sức viết lách. Quan trọng là y sẽ chứng minh cho vợ biết bọn viết lách không hề vô tích sự như cô ta vẫn nghĩ. Y sẽ mua một món quà có giá trị tặng cho vợ và bảo rằng:” Đây là quả ngọt của việc viết lách, món quà này từ chữ nghĩa đem lại để anh tặng em”.

Nghĩ thế y thấy sung sướng vô cùng, tim đập thình thịch, máu huyết nhộn nhạo chảy rần rần trong huyết quản, tâm ý bay bổng như mây trời. Y không chích xì ke, không hít bạch phiến cũng chẳng chơi thuốc lắc nên không biết cảm giác phê của những món ấy như thế nào, thế mà y cứ nằng nặc bảo cái phê do chữ nghĩa mang lại cũng như thế! Quả thật y đang sống trong những giây phút phê tột đỉnh do ý tưởng về chữ nghĩa mang lại. Khi ngón tay mỏi quá, y dừng lại nghỉ mà ý tưởng cứ phọt ra như đài phun nước, chữ nghĩa múa may như ảo giác, những nhân vật và các tình tiết xuất hiện trước mắt y. Y mơ màng như đang xem một vở tuồng. Những nhân vật mà y dự định tạo ra đang diễn xướng và y ngồi giám sát chúng. Y ngồi ngây cả buổi quên cả đói khát và đi vệ sinh. Y bẻ đốt ngón tay kêu rôm rốp, vặn vẹo người vài phát rồi lại tiếp tục viết. Lúc mới viết y định tháng sau sẽ xong nhưng giờ y chốt hạ là phải xong trong tháng này. Câu chuyện tiếp tục:”… Ca sĩ Hạo Quân như một thiên thần trên sân khấu, một vòng tròn sáng từ trên cao rọi xuống. Hạo Quân di chuyển đến đâu thì vòng tròn ánh sáng di chuyển theo đến đó. Vòng tròn sáng ấy cứ như là bóng trăng, bóng trăng huyền hoặc đầy sức quyến rũ hòa cùng nội dung bài hát làm cho khán giả ngất ngây. Bài hát kết thúc, toàn bộ khán giả đứng dậy vỗ tay như sấm động triều dâng; rất nhiều hoa tươi, gấu bông được ném tới tấp lên sân khấu. Hạc Thanh lên sân khấu với bó hoa hồng đỏ thắm, anh trao cho Hạo Quân và hai người ôm chầm lấy nhau, trao nhau nụ hôn nồng cháy. Ống kính truyền thông quây cận cảnh và phát đi lập tức, khán giả tại nhà hát vỗ tay không ngớt, khán giả truyền hình khắp xứ Hương Cảng, Ma Cao, Đài Loan, Singapore… như dậy sóng với sự kiện này...”



Y viết say sưa suốt ba giờ không ngưng nghỉ, quên cả thời gian và không gian, giờ chỉ có chữ nghĩa và những nhân vật trong truyện với y mà thôi. Y bất chợt giật mình khi nghe tiếng vợ gọi:

- Anh, nghỉ tay một tí để ăn cơm, quá bữa hai giờ rồi!

Tiếng vợ làm cho y bừng tỉnh thoát ra khỏi ảo ảnh với những nhân vật trong truyện. Y cụt hứng, dòng tư tưởng bị cắt ngang tựa như cây chuối bị một nhát dao phạt ngang thân. Hình ảnh và lời thoại của những nhân vật tắt ngúm, y chưng hửng đành buông bút và đi ra phòng ăn. Giờ thì y thấy đói bụng và mắc tiểu dễ sợ. Ăn cơm với vợ nhưng y vẫn nghĩ những tình tiết sắp tới của câu chuyện, do cụt hứng nên y cố moi trí óc nhớ mài mại hòng khơi lại nguồn mạch truyện. Thấy y lơ ngơ, vợ y mỉa mai:

- Thưa ông văn sĩ, tạm ngừng suy nghĩ lúc ăn cơm kẻo không bệnh đau dạ dày lại tái phát, chữ nghĩa vớ vẩn, thời buổi này mà còn lao tâm khổ tứ mày mò viết lách thì còn gì khờ bằng!

Y cắm cúi ăn không trả lời, vợ y được thể làm tới:

- Nếu gái làng chơi nó nhọc thân còn có tiền nuôi thân, bọn văn sĩ cực thân chỉ tổ tốn cơm nhà quà vợ, rõ khổ!

Bị so sánh với gái làng chơi nên sanh tự ái, y xẵng giọng:

- Em đừng xía vào chuyện văn chương chữ nghĩa, em chẳng hiểu cái quái gì đâu! Bọn viết lách lắm đứa còn chưa hiểu nổi bản thân thì em sao hiểu nổi? Em đừng có so sánh gái làng chơi với bọn anh, gái làng chơi lấy lỗ làm lãi, bọn viết lách như anh thì chấp nhận lấy lãi làm lỗ. Gái làng chơi tuy có khổ tâm vì bị người đời khinh khi coi thường nhưng thân còn có chút sướng. Bọn văn sĩ thì thân chẳng những không sướng mà tinh thần lại khổ, khổ vì tự khi dễ bản thân mình và khi dễ lẫn nhau; tự cười mình rồi cười cợt lẫn nhau. Nhiều kẻ vừa tự ti lại vừa tự tôn quá khỏi đầu, cứ ngỡ mình nhất thiên hạ theo cái kiểu tự sướng ảo tưởng đầy ngạo mạn và ích kỷ, tỷ như câu nói:”văn mình vợ người” vậy! Bọn họ vừa tự cười mình vô tích sự nhưng mặc khác lại ngông ngênh cho thiên hạ không ai bằng mình. Văn sĩ là bọn thủ dâm tinh thần, là những kẻ khổ dâm, càng khổ càng đau thì càng sướng tợn, sướng đến cực điểm thì phát tiết tinh anh.

Y nói một hơi dài như thể xưa nay chưa từng được nói, nhất là những lúc nói với vợ, bao nhiêu tâm tư dồn nén y xả hết giống như cái nồi áp suất được mở van. Vợ y khựng lại vì ngạc nhiên, ăn ở với nhau bao nhiêu năm nay, có bao giờ thấy chồng mình nói thao thao bất tuyệt, nói một hơi mút chỉ cà tha như thế? Có bao giờ anh ta bộc bạch tâm tư, dốc hết ruột gan ra như vậy? Cô ấy biết chồng đang bị kích thích tăng động nên im lặng không dám nói gì thêm. Bữa cơm dường như nguội lạnh mất hết mùi vị, cả hai lặng yên ăn cho xong. 

Sở dĩ y chọn viết tay mà không viết trên máy vi tính là vì y nghĩ viết tay mới quý. Thời buổi này không ai viết tay cả, mình chịu viết tay là số ít hiếm hoi, mà ở đời cái gì ít thì quý, có khổ mới thành tựu rực rỡ. Viết trên máy vi tính tuy dễ và tiện lợi nhưng mất đi một sản phẩm quý đó là bản thảo. Y còn thầm ảo vọng, biết đâu mình trở thành một văn sĩ nổi tiếng thì bản thảo ấy sẽ là vật vô giá, chẳng những có giá trị cao về mặt tiền bạc mà còn là báu vật tinh thần, sẽ được lưu giữ ở thư viện danh tiếng hoặc trong bộ sưu tập của những nhà sưu tầm vật quý hiếm...Y tận lực viết hai giờ nữa được mưởi lăm trang, quá mệt nên ngủ gục ngay ở bàn viết. Giấc xế chiều, vợ y xem ti vi thấy tin tức nóng vừa phổ cập bèn la toáng lên:

- Một vụ án mạng  kinh hoàng vừa xảy ra tại trung tâm thành phố. Ông Mai Văn Tình, một cán bộ cấp sở vừa bị cướp tài sản và bị giết chết, cán bộ điều tra đang nghi ngờ bạn tình đồng tính của ông ta ra tay. Bấy lâu nay truyền thông vốn nghi ngờ giới tính ông ấy, nhiều lời đồn đại nhưng ông ấy bác bỏ, nay thì sự việc rõ rồi.

Nghe thế y chột dạ:” Ấy chết! Thế này thì không ổn rồi, mình viết đề tài tình yêu đồng tính nhỡ bạn bè đọc rồi nghi ngờ giới tính của mình thì biết làm sao đây? Tích “ sửa dép ruộng dưa” vẫn sờ sờ ra đấy, làm sao mà thanh minh? Ấy là chưa nói gia đình và vợ mình đọc được thì họ lại phàn nàn thì rắc rối to!không được, phải dẹp đề tài này tìm đề tài khác thôi!”. Y đứng dậy cầm lấy xấp giấy viết mấy ngày nay đem ra ngoài hiên đốt sạch, ngọn lửa bừng lên trong phút giây thiêu hết công sức mấy ngày liền, một làm khói trắng bay lên để lại trên thềm vết nám cháy đen. Y quay lại phòng viết bóp trán suy nghĩ đề tài khác, không biết có phải vì gặp được ý tưởng thích thú nên reo lên:

- Có lẽ đây là đề tài hay, tôn giáo gắn bó với con người từ thuở xa xưa đến nay, là một phần của cuộc sống, vừa là chỗ dựa tinh thần vừa làm thăng hoa đời sống tâm linh của con người. Tôn giáo hướng con người đến mục đích cao cả: chân – thiện – mỹ – tuệ. Tôn giáo xoa dịu những nỗi đau về mặt tinh thần. Con người mà không có tôn giáo thì đời sống sẽ băng hoại, đạo đức suy đồi, nhân luân phế bỏ… Tuy nhiên tôn giáo cũng có nhiều loại khác nhau, có vài tôn giáo quá cực đoan, kích thích thù hận chém giết hoặc có tôn giáo mê muội làm người ta lạc vào đường tà. Y nhận thấy Phật giáo là ưu việt hơn cả, vừa có đủ trí huệ và tình thương, không buộc người ta phải nhắm mắt tuân theo giáo điều, đã thế còn khuyến khích người ta hãy học hỏi và kiểm nghiệm chứ không tin theo một cách mù quáng. Phật giáo rất khoan dung, dân chủ và hòa bình tuyệt đối không có lên án hay trừng phạt. Ai tin thì theo không tin thì thôi. Phật giáo kêu gọi hiểu biết và yêu thương, không phân chia màu da, sắc tộc, chánh kiến, quan điểm, giới tính… Y quyết định viết một thiên tiểu luận về các tôn giáo, phục vụ tâm linh cũng có ý nghĩa nhân văn cao cả, không cứ gì chính trị xã hội hay tình cảm giới tính. Tôn giáo cũng là một đề tài lớn, một vấn đề gắn bó mât thiết với loài người. Conn người ngoài vật chất còn có tinh thần, tinh thần vô cùng quan trọng, “Tâm bình thế giới bình” hoặc “ Nhất thiết duy tâm tạo” cơ mà! Viết về đề tài tôn giáo cũng là phụng sự con người, nghĩ đến đây lòng y thênh thang như đất trời, ý chí cao ngất như Thái sơn, cảm hứng lại dạt dào tuôn như sông suối mùa xuân. Y kiên quyết viết cho xong thiên tiểu luận về tôn giáo chứ không thay đổi đề tài nào nữa. Y tập trung tư tưởng, vận dụng kiến thức và sự hiểu biết của mình viết liền một mạch cho đến khi trời chạng vạng. Những ngày kế tiếp y viết ào ào, viết cấp tập xem ra đề tài này hợp với y. Y nôn nóng viết cho xong thiên tiểu luận, vì y sợ nhỡ có sự việc nào đó bất ngờ xảy ra sẽ làm mất hứng. Lần này xem ra suôn sẻ, y viết về cái hay cái đẹp của tôn giáo nhưng cũng không ngần ngại vạch trần những trò mê tín dị đoan, những phạm luật phá giới của tu sĩ, liệt kê những hành vi mang tính “ mượn đạo tạo đời”. Y cũng đề cập đến một bộ phận dân chúng mê muội tin những điều phi lý hay a dua theo những trò phù phiếm của những tu sĩ thiếu đức hạnh. Phải công nhận y táo gan dám phê phán quan quyền lũng đoạn tôn giáo, lợi dụng tôn giáo cho mục đích chính trị… Y viết rõ ràng minh bạch những gì mà y biết.

Ngày cuối tuần lại đến, y tạm nghỉ viết một buổi để đưa vợ đi ăn sáng. Quán cafe Mimosa thật đẹp và thức ăn ngon có tiếng, Thực khách toàn nam thanh nữ tú và tất nhiên không thể thiếu những thành phần nhiều tiền lắm của tìm đến. Trong lúc chờ đợi, y nhâm nhi ly cà phê Ý và mở máy tính cá nhân để xem email. Một tin nhắn từ người bạn văn chương lâu năm viết:

- “ Này bạn mình ơi, tôi gởi cho bạn cái tin nóng và quan trọng, mong bạn đọc và suy nghĩ cẩn thận. Tôi vừa bị nhà cầm quyền phạt một khoản tiền lớn và thu hồi để hủy toàn bộ số sách mới in. Họ kết tội tôi làm chính trị, bội nhọ quan quyền, bêu xấu những vấn đề chính trị xã hội, phá hoại sự đoàn kết tôn giáo, gây sự hiểu lầm về tôn giáo. Họ kết tội tôi kích động lối sống đồi trụy phương tây bằng cách đòi bình đẳng giới tính, xúi giục lớp trẻ sống lệch lạc giới tính, làm suy yếu tính chiến đấu. Bạn cũng biết đấy, họ lập ra cái hội viết lách để quản lý và định hướng tư tưởng người viết. Họ rình mò kiểm duyệt một cách nghiệt ngã, soi từng câu chữ, vạch lá tìm sâu đến từng ý nghĩ được viết ra, còn rất nhiều điều muốn nói nhưng không tiện viết ra, khi nào có dịp gặp lại mình sẽ nói nhiều hơn.

 Bạn mình ơi! Quả thật oan uổng và cay đắng quá! Công trình mình viết mấy tháng trời giờ bị đem đốt bỏ. Làm sao có thể tưởng tượng họ suy diễn được như thế này? Bạn mình hãy cẩn thận, muốn viết gì thì viết, viết nhăng viết cuội, viết bá xàm bá láp, viết những trò ăn chơi đú đởn, khoe của khoe thân… vậy mà an toàn lại còn bán chạy, đừng đụng đến ba đề tài mà tôi vừa bị dính chấu!  Kẻo không lại mang họa vào thân. Ở đời muốn làm việc tốt không phải dễ, muốn nói lời thật cũng rất nguy hiểm. Thiên hạ có trăm nghề nhưng đâm đầu vào viết lách là cái nghề khốn khổ nhất, thật ra thì đấy chẳng phải là nghề, nói chính xác là nghiệp chữ của bọn ta. Một lần nữa mình muốn nhắc bạn, hãy tránh ba cái đề tài nhạy cảm và dễ gây nên tai họa ấy!”

Nguyễn Trần Lê

Bạn thân  

Đọc xong thư của người bạn y thấy chưng hửng, ly cà phê Ý vốn thơm ngon bỗng dưng đắng chát lạ lùng, bao nhiêu hứng thú và nhiệt huyết viết lách tan như viên đá lạnh bỏ vào ly trà nóng. Mộng văn sĩ xem ra lơ lửng như cộng lông hồng bay trước gió, thế là dự định thiên tiểu luận cũng bay theo làn khói thuốc lá mà y tập tễnh phì phà.


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 04/2021 

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.