Hôm nay,  

Nghe Dịu Cả Thân Tâm

8/7/202111:03:00(View: 4413)


 Tiếng tích tắc của đồng hồ trên tường vần đều, cái âm thanh như những giọt nước nhỏ vào hồ tâm thức. Từng giây trôi qua không nhanh không chậm, chẳng trước chẳng sau cũng chẳng có chặng giữa. Tiếng tích tắc báo hiệu cái thời khắc thế thôi, nó có đến có đi bao giờ, chẳng qua là y lầm tưởng, cái lầm tưởng bao lâu nay, mà nào chỉ mỗi mình y, phần  nhiều đều lầm tưởng như y cả. Y cứ ngỡ có một giây trước đã đến nên có một giây sau sẽ qua. Y không biết cái giây đang hiện hữu, cái lầm tưởng, cái ảo giác này làm cho y nôn nao bấn loạn giữa giòng đời.

 Tích tắc, tích tắc âm thanh đều đều rơi loãng trong không gian, nó đọng lại thành lịch sử, nó bảng lãng mờ mờ tương lai. Hiện tại nó là cái thời khắc, cái thời khắc tích tắc mà con người định ra, đặt để cho nó, gọi nó là giây phút, ngày giờ, tháng năm… Bản thân nó chẳng là giây phút, ngày giờ chi cả. Khổ nỗi con người quên mình đã định đặt cho nó rồi quên béng đi, và từ đó sanh ra ngóng nó, hy vọng nó thế này thế kia, thậm chí còn gán cho nó những sứ mệnh mà nó chẳng có, nào là: ngày tốt, giờ linh, tháng xui, năm hạn…

 Y thấy mình chìm dần trong dòng thời gian vô hình ấy, cứ như người lún dần từng tí một trong vũng sình lầy hay bể cát sa mạc, càng vùng vẫy thì càng lún sâu hơn. Y cảm nhận sự ngột ngạt ngộp thở và tối đen đang từng giây bọc lấy y, đè lên y, bó chặt y. Y hả họng ra để hét thì lập tức cát, sình lầy ngập cả họng, tiếng thét chưa kịp thoát ra khỏi cổ họng đã bị chèn cứng tạo ra cái âm ặc ặc dồn xuống phía dưới. Cả thân thể bó buộc lèn chặt bởi những hạt cát li ti, những giọt bùn mềm nhũn, không còn ngọ nguậy được, mắt cũng không thể mở ra, màn đêm đen đặc. Tai cũng nào phải tai, sự im lặng ngột ngạt căng tức, không một âm thanh nào xuyên thủng được cái im lặng đen đặc để vào tai. Mũi không khác gì bùn đất, có làn hơi nào ra vào được đâu, khi mà cát và bùn lèn kín đến độ không có một kẽ hở đủ cho một phân tử oxy đi qua. Lưỡi không có vị, thần kinh vị giác đã tê liệt, giờ thì vị cát hay vị bùn cũng không khác gì nhau. Thân vốn đã bất động từ lúc sa vào vũng lầy, bể cát này. Duy chỉ có ý thức thì vẫn tỉnh táo, chẳng suy suyển tí nào. Ý biết rõ cái thân đang sa lầy bị bó chặt, mắt đang bị bịt chặt, mũi bít nghịt, tai đóng chặt, lưỡi đặc sệt.

Ý nhận thức toàn thân đang chìm dần trong cát lỏng, bùn lầy. Ý biết cái chết đang từ từ tiệm tiến chiếm lấy thân này, cái chết chậm nhưng chắc chắn. Ý biết cái chết không thể tránh khỏi, cái thân kia đang dần dần hóa thành cát bụi, cái thân vốn là cát bụi, bó buộc trong cát bụi và nay đang trờ về cát bụi. Ý nhận biết được tất cả nhưng nó không hề tĩnh lặng và điềm đạm như tiếng tích tắc của quả lắc đồng hồ. Ý đang hoảng loạn sợ hãi đến tột cùng, ý muốn khiển dụng tay chân nhưng hòan toàn tuyệt vọng, toàn thân không thể cử động được. Ý lồng lộn, quằn quại trong sự ngạt thở, sự đau đớn của thân xác, cái bít của tai, cái bưng kín của mắt, cái đặc sệt trong miệng lưỡi, cái nghẹt cứng của mũi. Ý chưa biết ngục Vô Gián là gì, nhưng nó nghĩ có lẽ cũng như thế này là cùng. Cái hoảng sợ kinh hoàng và sự đau đớn của ngục Vô Gián đang diễn ra đây này! Có khoảnh khắc nào tạm ngưng sự hoảng sợ hay đau đớn đâu? có  còn sát na nào để mũi thở, mắt mở, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm , thân xúc chạm đâu? Vô Gián là đây chứ còn đâu!
 

 Ý trong lúc mịt mờ tăm tối này sanh lòng hối hận về những lúc đã xúi thân làm những việc sai quấy, bất chấp lời khuyên răn cảnh tỉnh. Ý hối hận lắm vì đã từng hưởng thụ ăn chơi lẫy lừng, đàn đúm. Ý đã xúi thân ăn uống vô tội vạ, ăn phải ngon và cầu kỳ mới chịu, mặc cho những con vật chết thảm trong sự đau đớn tột cùng, ăn phải bổ dưỡng, cường dương, sung sức, bổ dưỡng mặc cho những con vật bị giết tàn bạo đau đớn thảm khốc. Ăn đến độ tì tay lên bàn mới đứng dậy nổi. Uống thi bia rượu tràn lan, uống đến say bất tỉnh nhận sự mới thôi. Ý xúc xiểm cái lưỡi nói trắng thay đen, nói bậy bạ, nói đằng đông làm đằng tây, nói cho sướng miệng, phải nếm cho bằng được những vị mà y yêu thích. Ý giục mũi phảo tìm kiếm những cái mùi yêu thích để ngửi, những cái mùi mà nó cho là thơm tho, dù rằng cái mùi ấy có xuất phát từ cái đãy da hôi hám, nó thích thì nó cho là thơm thế thôi, nó ghiền đến độ thiếu cái mùi ấy thì buồn, nhớ. Ý đã chìu mắt hết cỡ, mắt bập vào sắc, hễ cái nào nó cho là đẹp thì bấu víu bám lấy, còn tai thì thích nghe những lời êm ái dù là giả dối, lời đường mật dù là phỉnh phờ, bỏ ngoài tai những lời thật, lời đúng. Suốt cả quãng đời chấp chặt vào lời nói, mặc dù học nói từ lúc mới lên ba nhưng cho đến giờ phút cuối vẫn bị lời nói sai xử, mà đâu chỉ đời này, đời trước cũng thế, ngay cả đời sau chắc vẫn vậy. Ý đã chìu cái thân hết mình, cho nó ăn ngon mặc đẹp, mặc cầu kỳ quái đản. Ý để mặc cho thân hưởng thụ xúc cảm nhục dục khoái lạc, ghét những hoạt động khó nhọc nhưng cần thiết và chính đáng. Thân suốt đời cứ tìm cầu xúc chạm êm ái nên đã buông lung phóng túng mà không cần biết đến sự giới hạn mực thước. Ý đã chìu theo những đòi hỏi của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ý đã xúi bọn chúng làm theo sự yêu ghét miệt mài, chấp cái này bỏ cái kia, lúc mừng lúc giận, khi hy vọng khi thì thất vọng… Ý và bọn ấy tuy cùng trong một thân, tưởng chừng là hai nhưng lại là một, tuy một nhưng lại rành rẽ ra hai. Thân không thể thiếu ý mà ý cũng không thể thiếu thân, cả hai liên đới nhau, không thể tách rời nhau. Ấy vậy mà giờ thì sắp chia lìa nhau, giờ thì sắp vĩnh viễn xa nhau. Bọn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đang đọa, chúng sẽ trở về cát bụi bùn lầy và ý thì bị dẫn dắt đi tìm một cái thân khác để kết hợp với một loại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân khác; khác về hình dáng, khác về hành động, khác về tập quán và lúc ấy thì ý không còn là ý của cái thân cũ nữa.



 Cái thân đang lúc chìm dần vào bùn lầy cát bụi, cái thân đang chịu sức nóng như lửa đốt lại cảm nhận lạnh như giá băng, cái thân đau như xé ra hàng trăm mảnh lại như bị đè nặng dưới hòn núi. Cái thân đang đau đớn khổ sở vô cùng trong lúc ý hoảng loạn cực độ. Ý biết tất cả, biết cái thân đang bất động, ý tiếc về dĩ vãng một thời lại vừa mơ tưởng một tương lai vô định hão huyền nào đấy. Ý hối hận đã chìu cái thân, xúi cái thân trong những năm tháng dài. Ý chợt nghĩ;” Giá lúc trước ta không chìu cái thân này làm những việc quấy quá thì giờ chắc không phải bị tình cảnh này?”. Giờ ý muốn khóc nhưng mắt không thể mở ra trong cái màn đen đậm đặc. Ý muốn nghe một lời đạo lý hay lời thật nhưng tai đặc nghẹt trong cái đen vô tận. Ý muốn nói lời sám hối, muốn đọc một câu kinh nhưng miệng lưỡi không còn theo ý. Ý muốn chắp tay lễ bái hay quỳ lạy đấng thiêng liêng nhưng không làm được, tay chân bó buộc trong cái đặc quánh của sình lầy, toàn thân bị ràng chặt như con cua bị buộc bằng dây, như con heo trong rọ. Ý muốn ngửi chút hương trầm thơm trong điện Phật nhưng mũi vô dụng. Ý muốn thế nào cũng không được nữa, toàn thân, mắt, tai, mũi, lưỡi giờ không còn theo ý nữa. Ý vùng vẫy trong tâm nhưng nó không có lựa chọn nào khác, nó không thể thoát ra được, nó chỉ có một cửa là chờ cho cái thân cát bụi này hoại đi và bị dẫn dắt đi hợp với bọn đất, nước, gió, lửa để hình thành một sinh mệnh khác. Ý giờ như con trâu bị xỏ mũi, con trâu đôi khi tự bút được sợi dây xỏ mũi, nhưng ý thì không thể! Ý bị sợi dây nghiệp vô hình buộc chặt từ thuở ban đầu. Ý hoàn toàn mù tịt, nó không biết cái hình hài sinh mệnh mới sẽ như thế nào, những mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mới sẽ cao hơn hay thấp hơn, thăng hay đọa. Ý chỉ biết chắc chắn là cái thân nào rồi cũng phải tan hoại và phần lớn đều đọa, có một số ít ỏi tái tạo và hòa hợp lại được thân người như cũ. Một số  cực kỳ quý hiếm, đếm không hết mười ngón tay thì thăng lên, không còn cần đến cái xác thân vật chất đất, nước, gió, lửa nữa. Ý giãy dụa vùng vẫy như lươn trong nước sôi, như đỉa trong vôi. Chợt nó nhận thấy có một lực nào đó nắm tóc lôi kéo cái thân nhích lên, bản năng sinh tồn khiến nó lập tức khiển dụng hai tay quờ quạng ngoi lên nắm lấy sợi dây thừng ai đó quăng đến bên cạnh. Cái thân từng tí một nhích lên, trồi lên khỏi vũng sình lầy đặc quánh. 

Y chòi đạp lung tung, tay chân quờ quạng, miệng ú ớ, hơi thở hổn hển, trán lấm tấm mồ hôi, toàn thân nóng bừng, mở mắt ra thì thấy màn đêm tối đen, tai nghe rõ mồm một tiếng tích tắc đều đều vọng trong đêm. Y giật mình thảng thốt, thì ra y vừa trải qua cơn ác mộng kinh hoàng, tuy ác mộng nhưng rất thật, ai rồi cũng phải trải qua đoạn đường này. Cái thân nào rồi cũng phải bị hoại, dù là nam phụ, lão ấu, trí ngu, tây ta tàu… Cái ngày mà cái thân tan hoại để hòa vào bùn lầy cát bụi chắc chắn sẽ đến, chỉ có điều là không biết đích xác khi nào, bao giờ và ở đâu mà thôi! Thế gian muôn vẻ, đời sống muôn màu, thân có muôn kiểu đam mê dính mắc thì thân cũng sẽ có muôn cách tan hoại để trở lại đất, nước, gió, lửa.

 Y nhướng mắt nhìn xuyên màn đêm, thân thể bất động, cổ khô khát, tiếng tích tắc của đổng hồ quả lắc vẫn đều đều như gõ vào cái chuông tâm thức của y. Chợt có tiếng cù rúc của con cú kêu ngoài vườn. Y bất chợt lạnh sống lưng, người ta vẫn bảo rằng, khi cú kêu là có người sắp chết. Y vốn không tin, cho đó là quan niệm mê tín của dân gian, nhưng trong cái khoảnh khắc vừa trải qua cơn ác mộng. Y bất giác đưa tay rờ rẫm mặt mũi. Y lẩm bẩm: Mũi vẫn còn thở, mắt đang mở, tai nghe được, mũi ngửi tốt, lưỡi ngọ nguậy trong miệng, tay chân còn cử động, vậy là ta chưa chết! Vây là cái thân này chưa tan hoại và ý vẫn còn trong tâm. Cái thân này còn nằm trên giường nệm, nó biết êm ái, biết nóng lạnh và ý còn khiển dụng bọn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này. Y ngồi dậy, với lấy ly nước trên bàn tu một hơi, cái mát lạnh của nước nghe dịu cả thâm tâm.


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 07/2021

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.