Hôm nay,  

Lại Las Vegas

07/09/202109:26:00(Xem: 5916)
Las Vegas_Pixabay
Thành Phố Las Vegas. (nguồn: www.pixabay.com)


Vùng tôi ở cách Las Vegas khoảng 4 giờ lái xe. Cũng khá gần, cho nên trung bình mỗi năm tôi đi Las Vegas một lần. Tính ra tôi đã đến đó hơn 30 lần. Năm vừa rồi không đi vì cơn đại dịch. Nay được tin Las Vegas đã “chế ngự” được đại dịch, và đã mở cửa 100%, vợ chồng đứa con trai của tôi mời bố mẹ đi Las Vegas xem thử bây giờ nó ra sao. Hơn một năm trời không gặp lại cũng thấy nhớ. Những đứa con khác thì im lặng chờ tôi quyết định có nhận lời đi hay không. 
 

Tôi phân vân. 

Cơn đại dịch này ghê gớm quá. Nhìn lại lịch sử nhân loại, ta vẫn biết đại dịch cũng có xẩy ra, một vài trăm năm một lần, nhưng không chừng lần này khủng khiếp nhất từ xưa đến nay. Nó như đám mây dày đặc bao trùm cả hành tinh ta đang sống. Có lẽ ví von như thế không đúng. Mà đấy là những đám bụi mênh mông, đứng yên một chỗ chờ chực, hay có thể bám vào một môi trường hoặc một vật thể nào đó để di chuyển và đậu vào nơi khác, hạt bụi nhỏ vô cùng nhỏ, không màu sắc, không hương vị, không hình, không dáng, không bóng. Nó lồng lộng như một thứ ánh sáng kinh dị, bí ẩn, và chứa đầy chất độc giết người. Chỉ giết người thôi. Nó có khả năng len lỏi vào mọi ngõ ngách, và tụ lại vào bất cứ nơi nào. Trên đồ vật, trên động vật. Trên và trong con người. Tất nhiên đây không phải là một cái nhìn của giới khoa học.

Nó mang bệnh tới, lan truyền từ người này qua người khác, gây chết chóc cho hàng triệu người trên thế giới. Loài người hối hả một mặt ngăn cản sức tấn công của nó bằng cách tự cô lập hay cách ly  để tránh lây nhiễm, mặt khác ra sức tìm cách kháng cự. Nhờ vậy cũng đạt được vài chiến thắng nhỏ sau những tổn thất lớn. Nhưng nó chưa chịu tha. Như một kiếm khách võ nghệ tuyệt luân thời cổ, nó luôn luôn biến chiêu khiến địch thủ của nó là loài người thoạt tiên ngơ ngác, rồi  lúng túng, hoảng hốt chống trả. Nó còn biết liên kết với tàn quân của những đại dịch trước để tạo thành một sức mạnh khó lường. Nay một vùng nào đó vừa mới tuyên bố thắng trận, thì vùng khác lại bị nó tàn sát tơi bời. Mai nó trở lại vùng nó từng chiến bại để phục thù. Trận chiến cứ thế tiếp diễn kéo dài cho đến nay là gần hai năm trời rồi. Cuối cùng, ai sẽ thắng ai? Câu hỏi chưa có câu trả lời dứt khoát. 

 

Las Vegas, một con quái vật khổng lồ do loài người tạo dựng đã biến đổi một nơi xưa kia vốn là sa mạc cằn cỗi, hoang vu, nóng bức, chết chóc, thành một quần thể kiến trúc vĩ đại gồm vô số lâu đài nguy nga nhất với đầy đủ mọi thứ tiện nghi hiện đại nhất. Đặc biệt là ánh đèn rực rỡ nhất, nhiều nơi giải trí hấp dẫn nhất, nhiều khách sạn và sòng bạc lôi cuốn nhất. 

Nhưng Las Vegas cũng không thoát khỏi sự tàn phá của đám bụi đại dịch. Sau 15 tháng bị đại dịch tấn công, Las Vegas biến thành một đô thị ma. Xe cộ vắng tanh, đèn đóm tắt ngấm, dăm ba cô hồn thập thò đây đó. Mọi âm thanh và tiếng động - tiếng pháo bông, tiếng kèn trống, tiếng nhạc, tiếng còi, tiếng nói, đều câm nín. Con quái vật đã gục ngã? Vô phương cứu chữa? Tôi lo sợ. Không có nó, nhiều người buồn, và tiểu bang Nevada sẽ mất đi một nguồn lợi lớn. Có năm nó mang về trên 50 tỷ đô la.

Một tin vui. Vừa rồi nghe nói cơn đại dịch nơi đấy đã bị khống chế, Las Vegas được phép mở cửa đón khách, kể cả khách đến từ nhiều nơi trên thế giới. Tôi tự hỏi sau gần một năm rưỡi bị cơn đại dịch hoành hành, con quái vật có còn cựa quậy được hay không. Hay nó đang dở sống dở chết. Lông lá xác xơ, mình mẩy tiều tụy, mặt mày hốc hác. Đèn đóm không ai lau chùi; những tấm thảm trùm kín trên tất cả lối đi, trên hàng vạn tầng nhà không ai chăm sóc, hút bụi, tẩy sạch; hoa cỏ không ai xén tỉa, tưới bón; máy móc không ai gìn giữ, bảo trì, vân vân.    

Vậy thì không phân vân nữa, hãy theo lũ con đi thăm Las Vegas, xem nay nó ra sao. Quen nhau mấy mươi năm thì đừng lạnh nhạt với nhau. Chúng tôi đều đã được “bảo vệ” bằng hai mũi chích ngừa. Nhưng lòng vẫn không yên. Liệu hàng trăm ngàn người đến đấy đã được chích ngừa chưa? Lại nữa, Las Vegas cũng không đòi hỏi khách bốn phương xuất trình giấy chứng nhận sức khỏe. Trên đường đi, ngồi trên xe, tôi nhận qua điện thoại những lời dặn đi dặn lại của mấy đứa con không cùng đi, rằng bố mẹ nhớ cẩn thận “rửa tay, mang khẩu trang, cách ly”. Tất nhiên tôi sẽ làm theo những lời dặn đó. Hơn thế nữa, tôi mong Las Vegas sẽ vắng như “chùa Bà Đanh” hầu tránh “tên bay đạn lạc”.  Vâng, biết đâu Cô Vít vẫn còn luẩn quẩn rình rập, mà thuốc ngừa không được công hiệu 100%. 

Chúng tôi đến nơi vào chiều Thứ Bảy, ngày 7 tháng 8, và sẽ ở lại đấy ba hôm. Đã sẫm tối. Bầu trời trên cao thì đen thăm thẳm trong khi dưới này là là trên mặt đất, mọi nơi mọi chốn đều ngập lụt trong ánh đèn rực rỡ muôn màu. Xe cộ chen chúc san sát trên đường dành cho xe, người bộ hành tràn ngập khắp các lề đường dành cho người đi bộ. Cảnh tượng rất quen mắt, chúng tôi sung sướng gặp lại cố nhân, nhưng nay coi bộ nó còn rầm rộ, chói loà hơn xưa. Chúng tôi vừa lo lắng, vừa vui mừng. Trước hết tìm chỗ ăn tối. Nhà hàng mọc lên khắp nơi, nhiều hơn hai năm trước. Bước ra khỏi xe, trời nóng như thiêu như đốt.

Lái đến chỗ đậu xe của khách sạn. Cũng thế, vừa mở cửa xe, chúng tôi bị ngay cơn nóng hừng hực trên 100 độ F bủa vây. Tại cửa vào khách sạn, gặp ngay người đứng gác nhắc mọi người đeo khẩu trang vào. Bên trong khách sạn, nhờ máy điều hoà không khí, mát rười rượi. Chúng tôi  vào thang máy lên căn phòng thuộc tầng 36 của khách sạn Cosmopolitan, nơi trước đây chúng tôi vẫn quen đến, sau khi tới quầy ghi tên, lấy chìa khóa, nhận phòng (check in).

Cùng với chúng tôi, số người tới
check in rất đông, sắp hàng dài “rồng rắn”, rồi kéo va-li có bánh xe lăn đi toả ra nhiều nơi. Tôi chột dạ. Đây không phải là Chùa Bà Đanh chút nào cả như tôi mong muốn. Đông đảo như thế này thì làm sao thực hiện được biện pháp cách ly, làm sao ngăn cản được con Cô Vít xâm nhập, truyền nhiễm. 

Những lối đi trải thảm vẫn sạch bong, căn phòng cùng giường nệm bàn ghế vẫn thơm tho, bóng lộn. Đứng trên lầu cao nhìn xa, nhìn quanh. Thành phố với cao ốc nguy nga, lộng lẫy, rực rỡ trong biển ánh đèn. Thế là trong thời gian đóng cửa hơn một năm, con quái vật Las Vegas vẫn luôn luôn được chăm sóc kỹ càng.

Sáng Chủ Nhật chúng tôi dậy trễ sau một đêm thức khuya. Xuống tầng 1, định đổi thang máy để đến  nơi đậu xe, tôi dừng lại nơi đây vì ngạc nhiên vô cùng. Trước kia người ta đến Las Vegas đông nhất vào chiều Thứ Sáu, chiều Thứ Bảy. Qua sáng Chủ Nhật, người ta lũ lượt rời nơi này. Hoạ hoằn lắm mới có một vài cặp kéo đến. Hôm nay cũng Chủ Nhật nhưng không thấy khách đi, trái lại khách đến hết lớp này đến lớp khác đông vô kể.  Họ đứng, ngồi, nằm xúm xít thành nhiều nhóm chờ “check in”. Thôi thì đủ nam phụ lão ấu, và đủ màu da. Lớp thanh niên con trai thường mặc áo thun, quần “sọt”, thỉnh thoảng cái cổ và hai cánh trần đầy hình xăm màu xanh, hoặc đen; con gái thì áo chẽn, quần cụt rách lai, hay quần dài thì rách đầu gối, hoặc rách đùi.

Bỗng từ xa tiến đến một cảnh tượng đập mạnh vào mắt: Một bà già tóc bạc phơ đẩy xe lăn trên đấy là một ông già tóc trắng xóa. Xe có máy, nhưng họ không dùng máy. Có lẽ họ chỉ dùng máy khi đi xa, khi mệt mỏi. Hai khuôn mặt đó trông rất bình thản, thư thái,  như muốn nói, Các người vui chơi thì cũng phải để bọn già cả chúng tôi xía vào chút đỉnh chứ. Lại một hình ảnh nổi bật khác. Một người cao lỏng khỏng, râu ria xồm xoàm, đi lững thững một mình, lưng mang cây đàn ghi-ta to tướng nằm trong cái bao làm bằng vải dày. Anh chàng này đi lạc đường chăng, hay tới đây định tìm nguồn hứng, tôi tự hỏi.

Mọi người như muốn cướp thời gian để vui sống. Họ không chịu ngồi yên nhìn thời gian trôi nhanh vuột khỏi tầm tay. Las Vegas là nơi họ thích đến để “hành lạc” mỗi năm một lần, hay vài ba lần (Có thể họ còn đến những nơi khác để chen vào những kẽ hở của một năm cặm cụi làm việc). Thế nhưng đại dịch đã ngang nhiên xía vào cuộc sống của họ. Nay “xả cảng”, thì họ phải vội vàng “đến bù”. Họ cùng một nòi với cụ Nguyễn Công Trứ: 


Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy

Nếu không chơi thiệt ấy ai bù. 


Las Vegas vào những hôm chúng tôi ở lại đông hơn hẳn trước kia. Trong “cơn mê” tập thể đó, chúng tôi cũng bị cuốn hút, nhiều khi quên hẳn cô-vít dù thường được nhắc mang khẩu trang. 


Có người nghĩ rằng Las Vegas là thành phố của tội ác. Người ta đến đó để đánh bạc, lừa gạt, chém giết. Thật ra không phải thế. Las Vegas có rất nhiều sòng bài, và đánh bài theo đúng luật lệ. Nhưng cũng có rất nhiều nơi để thăm viếng, thưởng ngoạn. Nhiều lắm. Chỉ xin lướt qua một số tụ điểm du ngoạn, giải trí. 

Ngay trung tâm thành phố: 

Những vòi phun nước theo điệu nhạc trước khách sạn Bellagio. Vòng quay High Roller đường kính gần 160 mét và có đến 28 ca-bin lồng kính; ngồi trong ca-bin, khi được nó đưa lên cao, ta thấy toàn thể thành phố. Con đường Linq với rất nhiều nhà hàng ăn uống, và những dòng dây song song đưa người bay trên không trung. Khu Nghệ Thuật (The Las Vegas Arts District) với bảo tàng viện, phòng tiển lãm, các trò vui chơi trẻ trung, các món ăn đặc biệt, v.v... 

Xa hơn từ 20 phút đến 40 phút lái xe, có thể đi thăm Vùng Thung Lũng Đá Đỏ (Red Rock Canyon), đập Hoover và hồ Lake Meade, hoặc khu Mountain Spring, v.v... Hoặc thuê máy bay đi xem Las Vegas từ trên không.

Nếu thích coi Trình Diễn (Shows), có thể đến David Copperfield tại khách sạn MGM; Cirque Du Soleil tại khách sạn Treasure Island; Blue Man Group tại khách sạn Luxor; V – The Ultimate Variety Show tại khách sạn Planet Hooywood; Shin Lim/Limitless tại The Mirage Theater. 

Tại những khách sạn lớn như MGM, Mandalay, Ceasars Palace, T-Bobile Arena v.v... có hòa  nhạc, hoặc ca nhạc trình diễn bởi những danh ca nổi tiếng trên thế giới, hoặc những trận vô địch hạng nặng quyền Anh, vô địch UFC v.v... 

Nếu thích thể thao, tha hồ đến những sân vận động với nhiều môn chơi khác nhau. Một sân vận động của đội banh cà na nổi tiếng Raiders (fooball) vừa mới cắt băng khánh thành vào ngày 14/8/2021, có thể chứa tới 65 ngàn khán giả. Một khách sạn trị giá trên 4 tỷ đô-la cũng vừa được đưa vào hoạt động, The Hilton Resorts World. Chúng tôi hăm hở đến xem khách sạn này. Cảm tưởng đầu tiên là nó tuy rộng lớn nhưng trông nặng nề quá. Lại thêm tường sơn màu đỏ thẩm không tươi tắn chút nào. 

Tuy nhiên, công bằng mà nói, hễ nhắc tới Las Vegas, ta nghĩ ngay đến những sòng bài nổi tiếng trên thế giới. 

Thì tất cả khách sạn tại Las Vegas đều có sòng bài ở tâng 1, và được gọi là Hotel and Casino. Chẳng hạn MGM Grand Hotel and Casino, Mandalay Bay Resort and Casino. Những món bài  bạc thường có là Slot Machine, Blackjack (Xì lát), Poker (Xì phé), Roulette. Baccarat, v.v...

Xin nói đến vài môn được nhiều người chiếu cố. 

Thường người nào không biết hay không thích lối đánh bài đòi hỏi phải có một số người cùng ngồi vào bàn tham dự, chẳng hạn poker, blackjack, thì chọn một Slot Machine để ngồi một mình với với cái máy đó. Trước kia môn nay được gọi môn Kéo Cần: nhét chip (thẻ tròn bằng nhựa dùng thay tiền) vào máy, rồi kéo cái cần kích hoạt, và máy sẽ cho kết quả thắng bao nhiêu tiền. Hoặc không thắng, thì nhét thêm chíp vào nếu muốn chơi tiếp. Về sau, khỏi cần kéo cần, chỉ bấm nút, đỡ “tốn sức lao động” và thua nhanh hơn. Chơi trò này ít khi thắng lắm. Có những ông già, bà già ngồi suốt ngày trước Slot machine cạnh những lon bia. Mua chip rẻ tiền chơi lâu, thua ít. Lâu lắm mới thắng một vố to, nhưng cũng không đủ bù cho những trận thua dài dài, bèn khoe với con cháu rằng mình có tay đánh bạc. Có những cặp chờ “check in”, hoặc đang nối đuôi rồng rắn chờ coi “show”, sốt ruột bèn để một người đứng giữ chỗ, người kia xề tới slot machines. Khi trở lại khoe với vợ hoặc chồng rằng mình “bấm” sướng tay mà chỉ thua có vài chục đô-la. 

Chơi trò blackjack chẳng hạn, thì khác. Tại Hotel and Casino Cosmopolitan này, khi ế, mỗi chip đổi 15 đô-la. Khi có nhiều người tham dự, mỗi chip được tăng lên tối thiểu là 25 đô-la. Có thể đặt từ 1 chip đến 100 chips hay nhiều hơn, tùy “cái gan” và túi tiền con bạc. Tại những bàn đánh lớn, mỗi chip tương đương 200 đô-la. 

Hôm nay đông người quá, tôi đến bàn blackjack loại rẻ tiền nhất, loại 25 đô-la mỗi chip. Đã có 5 người ngồi sẵn, may còn một ghế trống, tôi nhảy vào, ngồi giữa một thanh niên gốc Ấn Độ và một nàng da trắng khó đoán tuổi vì đeo khẩu trang. Người chia bài cũng đeo khẩu trang. Dựa theo tiếng nói và dáng dấp, tôi đoán cô này chỉ trên dưới 20 tuổi. Tôi rút trong ví ra 200 đô-la đổi được 8 chips. Nếu xui, sẽ thua mau lắm, trong mươi phút thôi. Tôi tính nếu may thì khi nào ăn tới mức 200 đô, hoặc xui thua hết tiền sẽ thôi chơi, vì tôi có kinh nghiệm rằng khi đã thắng tới một mức nào đó mà cứ ưa thắng thêm, không sớm thì muộn sẽ cháy túi; hoặc thua mà bỏ thêm tiền để gỡ sẽ thua thêm. Đứa con biết tôi thua sẽ chìa tiền bù cho tôi. Không lẽ tôi chê tiền, nhưng quả thật tôi không muốn nhận. Ai lại cứ phung phí tiền của con cái. 

Nghĩa là tôi chơi blackjack để “giải trí” cũng có, nhưng cũng muốn “kiếm chác” đôi chút. Và thua nhiều hơn thắng. Tôi để ý thường thường người da trắng ngồi bàn blackjack để vui chơi hơn là vì tiền. Chẳng hạn cô da trắng ngồi cạnh tôi lấy ra 500 đô đổi thành 20 chips. Khi thắng lớn, hoặc trúng “già dách”, biếu ngay người chia bài năm, ba đô. Trong khi chơi, cô chuyện trò tía lia, vui vẻ, với mọi người, với cả người chia bài.  

“Sao cô đi một mình?”

“Thì có sao đâu. A, mà mẹ tôi đang ngồi đằng khu slot machines.”

“Vậy bạn trai đâu? Chưa có hả?”

“Ô, lại thắng rồi.” Cô reo lớn. Reo xong, cô trao đổi với tôi ngồi bên trái, và người ngồi bên phải, mỗi người một “cú nắm đấm”. Nhẹ thôi. Vì cô-vít nên không đưa bàn tay lên đẩy vào nhau. Rồi cô biếu người chia bài vài cái chips lẻ, mỗi chip  trị giá 1 đô la. Xong cô tiếp tục câu chuyện:

“Bạn trai hả, có chứ, tôi đẹp mà. Bạn tôi thích thể thao, lái xe xuống khu kia từ sáng sớm. Chốc nữa tới đón chúng tôi. Tức là mẹ tôi và tôi. Chúng tôi sẽ lái xe về Colorado suốt đêm.”

Khi bại, cô ta tỉnh bơ, không lằm bằm cáu kỉnh như nhiều người khác. Câu chuyện tiếp tục:

“Thế cô không thích thể thao? Không đi theo bạn trai?”

“Ai bảo anh vậy? Con gái Mỹ thích và giỏi thể thao lắm. Anh không biết sao, nước Mỹ nhờ con gái Mỹ mà vào ngày chót ở Thế Vận Tokyo vừa rồi vượt Tàu về huy chương vàng. Cho nên nhất cả huy chương vàng lẫn tổng số huy chương.”

“Huy chương vàng về môn gì?”

Chưa kịp trả lời câu hỏi đó, cô thua hết các con chips, rút 300 đô-la đổi 12 chips, chơi tiếp, và chuyện trò tiếp:

 “Anh hỏi huy chương vàng về môn gì hả? Về bóng rổ, bóng chuyền, và xe đạp lòng chảo.”

“Thế cô thì chơi môn gì?”

“Tennis. Nhưng kìa, kìa, Bob. Thôi, tôi phải đi ngay. Chào các anh nhé. Chúc anh may mắn. Chào anh chia bài. Bye, bye!” 

Cô đứng dậy còn trong tay 2 chips và 4 chips lẻ. Liền biếu người chia bài 4 chips lẻ, rồi đến quầy đổi 2 chips ra tiền mặt. 


Vừa có tin Cô-vít biến thể lan truyền dữ dội tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, nhất là những nơi có nhiều người tụ họp đông đúc. Nhờ hai mũi chích ngừa, sau chuyến đi Las Vegas vừa rồi, tôi vẫn được yên thân. Chờ hai tuần vẫn không thấy cô – vít hỏi thăm, thì ngồi viết những dòng này. Tôi sẽ chích mũi thứ ba trong một ngày gần đây. Las Vegas lại có thể bị đóng cửa trong một thời gian ngắn hay dài tuỳ theo mức độ lây nhiễm.

Con quái vật khổng lồ đó sẽ nằm yên chờ đợi. Rồi sẽ trỗi dậy như nước Mỹ trẻ trung đã bao lần trỗi dậy, ngày càng hùng mạnh sau những biến động kinh hoàng. Tôi không muốn nghĩ tiếp nhưng cái liên tưởng cứ vụt xẩy đến. Người dân của những nước nhược tiểu, đặc biệt trong đó có Việt Nam, đang quằn quại dưới nanh vuốt của cơn đại dịch. Khi nào đại dịch sẽ lắng xuống? Khi nào dân ta sẽ bớt khốn khổ?


24/8/2021

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.