Hôm nay,  

Đã Hai Mươi Năm…

27/09/202114:38:00(Xem: 4799)

Sau bài “New York, Một Năm Sau” viết về chuyến đi New York kỳ rồi gởi ra được vài hôm, nhận được email của một người bạn học cùng trường nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Anh nói có đọc bài viết, muốn chỉ cho mình biết mấy lỗi chính tả cần sửa nhưng cứ ngần ngại bởi anh muốn mình “nghĩ tốt cho tôi mà không cho tôi khó tính”. Anh đọc rất kỹ, ghi xuống những chỗ sai sót nằm ở trang nào, dòng nào. Làm sao mà không nghĩ tốt cho một người đọc bài mình viết, rồi chân tình chỉ cho mình biết những chỗ sai để sửa chữa, để học hỏi thêm, nhất là những chỗ mà chính mình cũng biết là khiếm khuyết. Vì là người Huế, nói nặng nề, mà lại chỉ muốn viết như nói nên chỗ nào cũng chỉ thấy toàn là dấu nặng với dấu hỏi. Trả lời là sẽ sửa ngay những chỗ anh chỉ, bây giờ đã trễ rồi nhưng sẽ khá hơn cho những lần sau. Nói thêm với anh là mình thường nhờ một người bạn tài giỏi chữ nghĩa coi lại trước khi gởi đi, nhưng lần nầy người bạn đi xa, không chờ được, mới ra nông nỗi, nhưng từ đây thì có thêm một người giúp.   

Đi làm “sở Mỹ” cũng thế thôi, khi phải viết email hơi dài dòng rắc rối gởi ra cho cả công ty mấy trăm người là luôn luôn nhờ vài người sẽ nhận email đọc trước xem có sai sót chi không, có make sense không. Bởi vì viết thì viết gì và viết cho ai?

Đã từ lâu, thử thách và niềm vui lớn lao nhất là khá hơn bản thân của chính mình ngày hôm qua. Chuyện gì mình làm cũng thấy khiếm khuyết nên chỉ ao ước được còn trí tuệ, dành thêm thời giờ, còn sức khỏe, phương tiện… để học, học và học… Vì thế mà làm sao không cám ơn, không nghĩ tốt cho những người chân tình giúp mình tốt hơn.

**


New York đang hồi sinh. Những cửa hàng, tiệm ăn, cơ sở thương mại tồn tại qua cơn dịch đã bắt đầu mở cửa lại.  Nhưng các tiệm ăn vẫn còn e dè đòi khách phải trưng bằng chứng đã chích hai mũi
vaccine mới được ngồi bên trong, còn không phải ngồi ngoài. Tiền thuê nhà tăng vọt vì nhiều người đã lục tục trở về. Không còn mấy ai quan tâm tới ông Thống Đốc Cuomo, người được giải thưởng International Emmy vì đã “masterful” trên TV hằng ngày nói về tình hình COVID ở New York, vừa phải từ chức vì bị tố cáo xâm phạm tình dục. Việc nào ra việc đó!

blank


Construction
khắp mọi nơi.  Vài tháng trở lại đã nghe có công trình mới vừa mở cửa. Lần nầy là Little Island Park, nằm trên mé sông Hudson, nghe đâu tốn đến hơn 260 triệu đô-la để xây cất. Góc bên trái là một sân khấu nhỏ cho những buổi trình diễn ca nhạc bỏ túi. Bên phải là sân khấu chính, có những đêm thứ sáu đọc thơ.

 
blank

“Ấn tượng”, hiện đại, mới mẻ… nhưng không có cái “duyên dáng”, “trưởng thành”, “mượt mà” của Central Park. Cần thời gian!

 
blank


Buổi sáng sớm đi bộ ra Seaport dưới chân cầu Brooklyn. Mùi thơm của cà-phê từ mỗi góc đường nơi những quán cà-phê đã bật đèn mở cửa, có nơi lại còn thoảng mùi bánh mới nướng. Nhớ mùi sả, ruốc, mỡ bò… ngưởi được từ khoảng xa cả mấy quãng đường từ những nồi bún đang nấu khi trời còn mờ tối ở đường Lý Thường Kiệt ngoài Huế.

blankblank


Mua một ly cà-phê rồi tìm một chỗ trống trên những băng ghế cao hướng ra bờ sông, nhìn nước chảy mây trôi. 

Chung quanh đã có vài ba người ngồi một mình đọc sách, hay nhìn mấy chiếc tàu qua về hai phía sông. Vô cùng bình yên và thanh thản. Có người bạn Huế hay nói, ăn chi cũng đuợc, ở mô cũng được, nhưng cho tui xin chút nước chút sông.  Mình thì còn xin thêm vài ba cây cầu. Thử tưởng tượng Paris mà không có sông Seine, Huế mà không có sông Hương!

**


Lấy
subway đi chợ Tàu. Khác với New York sống động, không ngừng đổi mới, chợ Tàu ở đây ngày càng ảm đạm, “xuống cấp”. Ngoài những tiệm cà-phê, bánh ngọt mà quãng đường nào cũng chen chúc vài ba cái, hay mấy siêu thị, là mở cửa sớm, phố xá mệt mỏi đóng cửa tới gần trưa. Những người dựa cột đèn bán đồ giả cho du khách cũng thưa thớt. Tiệm dumpling mà mình cho là ngon nhất thế giới cho đến khi Din Tai Fung tìm đến Orange County đã vĩnh viễn đóng cửa. Những tiệm mì, cơm, gà, vịt, heo quay nổi tiếng một thời nay vô cùng thất vọng. May mà tìm ra một tiệm Popeye Chicken gần chỗ xuống subway, thế là từ nay có thể ăn trưa bằng một cái fried chicken sandwich mà mấy ông bà fast food critic cho là the best thay vì để bụng trống về nhà. 


Đi bộ về nhà, chừng hơn ba mươi phút, ngang qua mấy tòa nhà quanh khu vực World Trade Center. Thấy có chỗ đang dựng rạp, sắp bàn ghế, ghé lại hỏi họ đang làm gì. Họ nói chuẩn bị cho buổi tưởng niệm 20 năm ngày 11 tháng 9 vào ngày mai. Ngày mai, mười một tháng chín. Đã hai mươi năm!!!

Ai mà quên được buổi sáng kinh hoàng hôm đó! Ông chủ công ty tụ tập nhân viên trong phòng họp lớn cùng nhau cầu nguyện. Ông cho những cửa hàng có gốc gác ở New York được đóng cửa, rồi đóng luôn cửa văn phòng để, như ông muốn, ai theo Chúa thì đi nhà thờ, ai tin Phật thì đi chùa, tiếp tục cầu nguyện cho những nạn nhân và, quan trọng không kém, reflect bản thân. Time to reflect!

Chiều hôm đó có email của người bạn ở New York khuyên bạn bè nên chuẩn bị mua stock, cơ hội bằng vàng…


blank

9.11 Memorial


Nơi hai tòa nhà sụp đổ nay là hai thác nước nằm sâu dưới lòng đất bao quanh bởi bốn bức tường thấp bằng granite đen, khắc tên của gần ba ngàn nạn nhân, đôi lúc có cành cẩm chướng trắng gắn cạnh bên. Vòng ngoài là những hàng cây xanh mướt, xa hơn là các tòa cao ốc. 


Chỉ có thế thôi! Không “tượng đài”, không khẩu hiệu, không cờ quạt, rất đơn giản và vô cùng tĩnh lặng. Không có cái vẻ âm u ghê rợn của một nghĩa trang nhỏ thường thấy, đừng nói chi tới có cả gần ba ngàn người chết ngay ở chỗ nầy. Sự khác biệt văn hóa biểu lộ rõ ràng ở đây! Cho đến bây giờ đi ngang qua vẫn có cái cảm giác ngậm ngùi. Vẫn muốn đến gần mấy bức tường nhìn xuống những dòng nước chảy, đọc năm bảy tên, tưởng như mình có quen biết, thân thiết với họ. 

Hôm sau, ghé lại chỗ đang tưởng niệm hai mươi năm ngày 11 tháng 9. Chỉ chừng hơn trăm người ngồi, đứng trước một khán đài nhỏ, có cái màn ảnh chạy tên nạn nhân và một người đọc lên tên của họ. Đường phố vẫn bình thường. Không có cả trăm cảnh sát đầy súng ống đầy đủ, lớp trong lớp ngoài phong tỏa toàn khu vực, như người ta vẫn thường làm để “bảo vệ” cho nhưng phiên tòa xử “công khai” những người đấu tranh đòi hỏi tiến bộ cho đất nước, cho dân bớt khổ… Những cột đèn đường quanh đây treo trên cao tấm vải xám với mấy hàng chữ trắng phải để ý mới thấy “NYC 20 YEARS 9.11.01 NEVER FORGET”.  Không thấy có lá cờ đỏ nào để tôi đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ. Không có bài diễn văn. Không có lời kêu gọi gợi lên lòng căm thù, chỉ tên thù địch để “ăn gan, uống máu”, để “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ “ (TH). 

Đây phải chăng là sức mạnh thật sự, như Leylah Annie Fernandez, cô gái Canada mười chín tuổi, nói trong lúc nhận giải thứ nhì US Open. Không bày tỏ sự thất vọng, trách móc, chua chát…vì đã thua, mà nhìn về phía trước: “tôi hy vọng là sẽ mạnh mẽ như New York trong hai mươi năm qua”.   

      

**


Chuyến nầy dự định là sẽ ở mười ngày, nhưng vì có chút công chuyện mà phải đổi vé về sớm mấy hôm, tốn hơn trăm bạc. Hôm đi về, nói với mọi người trong nhà thôi chia tay trước cửa được rồi, vì không muốn họ thấy mình kéo
vali đi về phía subway. Nhưng rồi mọi người cũng đi theo ra ngoài đường chính, người con lại vẫy một chiếc taxi, nên phải leo lên. Thế là, thêm một lần nữa, mộng không thành!

Theo đúng như sách vở đã dạy, mình mở đầu câu chuyện bốn mươi lăm phút với người tài xế taxi gốc Haiti sáu mươi ba tuổi, có bốn con, năm cháu, bằng tin thời tiết, để thăm dò, rồi qua chuyện thể thao. Vì anh nầy thích “bóng đá” nên cũng có nhiều chuyện để nói với nhau. Chuyện Messi rời Barcelona đầu quân cho Paris St. Germain. Ai mà đá nổi với đội banh đã có hai tiền đạo hay nhất thế giới, Neymar và Mbappé, nay lại thêm Messi! Qua chuyện Welcome Home concert ở Central Park hôm tháng tám mà mình tiếc không nghe được vì lúc đó đã về lại California. Buổi concert phải ngừng lại nửa chừng vì sấm sét…Có người viết bày tỏ lòng cảm ơn thành phố đã tổ chức buổi concert nầy cho mọi người lên tinh thần dù chỉ được một nửa, nhưng không thiếu người than phiền vì buổi concert chỉ có một nửa. Ly rượu nầy nửa đầy hay nửa vơi? 
 
blank


Câu chuyện rồi dẫn dến những khó khăn mà anh tài xế
taxi và gia đình phải chịu đựng trong hơn năm rưỡi qua. Uber, Lyft rồi tới COVID, trên đe dưới búa. Nhưng khó khăn của anh cũng đã sắp qua, còn những người lao động nghèo nàn ở Việt Nam thế nào từ ngày phong tỏa? Bỏ làng mạc lên thành phố kiếm sống, nay dìu dắt nhau về lại nơi xưa. Có người đói lả trên đường đi về cả trăm cây số! 

Trước khi dừng xe thả mình xuống trước terminal, anh tài xế triết lý anh mong COVID-19 nầy là một wakeup call, và 20 năm ngày 11 tháng 9 là một good reminder để mọi người nhìn lại đời mình, hiểu điều gì là quan trọng nhất và phải nên sống như thế nào!

Sống thế nào và sống với nhau ra sao, không dễ.  Cả một quá trình tập luyện kiên trì… Ai cũng biết giữ cho “thân hình thon gọn” vừa “đẹp” vừa tốt cho sức khỏe, nhưng mấy ai có thể ăn uống kiêng khem, vận động hằng ngày năm nầy qua năm khác. Hay bước tới trước một bước thì bước lùi sau hai bước!

Nguyen Q


**


Trả lời
email cho một người bạn học ở Sài-Gòn, luôn thể nói với anh là mình nôn nóng sớm yên ổn để về Việt-Nam, đi từ Bắc vô Nam, tận hang cùng ngõ hẻm. Để thấy, nghe, viết và ghi lại cái đẹp của đất nước mình. 

Đất nước mình cực kỳ xinh đẹp, không thấy hết sẽ hối tiếc về sau…   
 

blankSapa


Nguyen Q

Tháng 9, 2021


 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.