Hôm nay,  

Kỷ Niệm và Tỵ Nạn

29/11/202109:16:00(Xem: 4444)
Tran Mong Tu
Cho tôi lại ngày nào

Trăng lên bằng ngọn cau
Me tôi ngồi khâu áo
Bên cây đèn dầu hao
Cha tôi ngồi xem báo
Phố xá vắng hiu hiu
Trong đêm mùa khô ráo
Tôi nghe tiếng còi tàu
- Phạm Duy


Bây giờ là tháng 6, năm dương lịch 2017. Tôi sống ở đất nước này đã 42 năm. Thời gian tôi sống ở đây, lâu hơn thời gian tôi sống ở cả hai miền Bắc, Nam cộng lại. Frank (chồng tôi) có tổ chức một buổi nói chuyện di dân với bạn bè. Anh có một nhóm bạn người Mỹ thuộc nhà thờ St. Louise, nơi chúng tôi tới dự thánh lễ hàng tuần. Nhóm bạn trên dưới mười người, họ đến nhà chúng tôi, có khi mỗi tuần, có khi một tháng hai lần tùy theo thời khóa biểu của cả nhóm.

Tuần qua theo thời sự toàn cầu, Frank mời một vài người bạn di dân, một vài người tỵ nạn như tôi, đến chia sẻ với nhau về kinh nghiệm của một người tỵ nạn. Anh có hỏi tôi là có muốn chia sẻ không? Tôi lắc đầu, tôi chỉ tham dự, ngồi nghe và sẵn sàng mời các bạn anh một bữa ăn sau buổi họp.

Tại sao tôi từ chối không nói? Tôi biết tôi dễ xúc động, khi nhắc về những hồi ức tỵ nạn trước mọi người, thế nào tôi cũng khóc.

Tháng Tư đã đi qua, nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng, nhất là tiếp theo cuối tháng 5, kỷ niệm ngày Trận Vong Chiến Sĩ. Dù có tiệc tùng hàng tuần, bận rộn cả ngày thu dọn nhà cửa, nấu nướng cho con, cháu hay mời bạn, hoặc đến nhà bạn, bao giờ cũng là thời điểm nỗi buồn xa xứ trở về với tôi. Nhớ cha mẹ, nhớ quê hương, nhớ tuổi trẻ đẹp đẽ thơ ngây ở quê nhà, nhớ những mối tình ngắn, mối tình dài đi qua trong đời mình. Tất cả những thứ đó làm tôi khóc. Kỷ niệm như viên kẹo đắng bọc đường, khi ngậm trong miệng, đắng ngọt cùng tan trên lưỡi.

Cả nửa năm nay nước Mỹ xôn xao với những tin tức liên quan đến tỵ nạn. Những tin xấu cho những người tỵ nạn bất hợp pháp (con số này không nhỏ) và làm hoang mang không ít những người hợp pháp. Cái hoang mang của chính những người cũng thuộc thành phần “tỵ nạn” như tôi. Không biết việc mình “chống” có làm tổn thương những người vô tội và việc mình “ủng hộ” có làm thêm rối việc quốc gia.

Như tuần trước, khi ở chợ ra, trời đang nắng, bỗng dưng mưa xuống, nhìn trời mưa cám cảnh xa quê, nước mắt tôi cứ ứa ra không sao cầm được, chạy vội vào trong xe ngồi, một mình thổn thức. Tự nhiên câu thơ viết năm đầu tiên đến Mỹ trở về trong đầu. Mình em một ngôn ngữ / mình em một màu da / mình em một màu mắt / mình em một lệ nhòa.

Tôi không phải là người tỵ nạn duy nhất trên đất nước này, tôi biết rất rõ như thế. Chung quanh tôi, nếu ngay lúc này, tôi níu lại một người vừa ở trong chợ bước ra, hỏi bạn từ nước nào tới, tôi sẽ gặp ngay một người tỵ nạn giống tôi.

Nước Mỹ là một nước hợp chủng và có thể nói truyền thống của họ là mở cửa đón người mọi nơi trên thế giới, bằng cách này hay cách khác đã đến định cư trên quê hương họ. Và chính cung cách mở tay đón nhận này, danh sách nhân tài trên thế giới trong mọi lãnh vực mang quốc tịch Hoa Kỳ được kể là dài nhất (mặc dù gốc của họ thuộc về nước khác.)

Mỗi một người bỏ xứ sở của mình, đến định cư trên một miền đất lạ bằng bất cứ nguyên do nào cũng mang theo bao nhiêu kỷ niệm của quê nhà với mình. Sống xa quê bao nhiêu năm, miền đất mới bao dung hay hắt hủi mình, mỗi người bằng ngọt ngào hay cay đắng đều canh cánh mang trong lòng đầy ắp ký ức của kẻ “lưu vong”.

Chị Maria một phụ nữ Mễ Tây Cơ nói, năm đó chị 16 tuổi, chị sang Mỹ qua đường vượt biên không chính thức, chị được nhét lên một chiếc xe ca, phải đợi 17 năm mới được hợp thức hóa và có giấy tờ cư trú hợp pháp.

Trong 17 năm đó chị sống trong một tình trạng bấp bênh, mặc dù một thời gian sau, chị xin được số An Sinh, chị đi làm, chị đóng thuế, nhưng chị vẫn chưa có thẻ xanh. Chị vẫn là người sống bên lề Xã Hội. Chị mới được thẻ xanh năm ngoái, và chị đã trở về quê nhà một lần thăm mẹ và bà ngoại.

Chị nói khi cầm tấm thẻ xanh trên tay, chị bật khóc. Chị nói thêm, tôi không thể nào quên được cái cảm xúc này, cái kỷ niệm này sẽ theo tôi suốt đời.

Một người khác nói, anh sanh ở Mỹ, nhưng cha mẹ anh là người gốc Canada. Thỉnh thoảng anh cũng theo cha mẹ về Canada thăm họ hàng, nhưng anh không có một chút gì quyến luyến với xứ sở đó khi anh chia tay. Anh có sống ở đó ngày nào của thời thơ dại đâu mà có kỷ niệm. Kỷ niệm tuổi thơ của anh là ở nơi này. Các ngôi trường anh đi qua, để lại trên sân trường dấu giầy, cái bóng tuổi thơ hắt xuống trên bãi cỏ của những trận bóng chày, bóng rổ. Những thành phố gia đình anh cư trú, những liên hệ thâm giao với nhà hàng xóm, rồi mối tình đầu thời mới lớn. Anh kết luận: Đây mới đích thực là quê hương tôi nhưng thật tình trong thâm tâm tôi vẫn nhớ ông nội, ông ngoại của mình là người Gia Nã Đại.

Một người bạn gốc Đức ở tuổi 80 cho biết gia đình anh sang Mỹ từ thời ông nội của anh. Nghĩa là cách đây cả thế kỷ. Vợ anh cũng là người Đức, sang Mỹ từ năm lên 6. Hồi còn cha mẹ, anh có nói một ít câu tiếng Đức ở nhà, bây giờ thì quên hết hoàn toàn, vì không có dịp thực hành. Anh nói, trong cuộc sống hàng ngày, tôi quên hẳn tôi là người Đức, mặc dù tôi chưa bị Alzheimer. Nhưng nếu có ai hỏi tôi về gốc gác của tôi, thì tôi sẵn sàng kể lể cội nguồn, gốc gác mình.

Nước Mỹ có tên là Hiệp Chủng Quốc quả không sai. Những người cư ngụ trên đất này tùy theo ở vào tuổi nào họ tới để họ có thể hòa mình vào thổ ngơi phong tục, văn hóa được bao nhiêu. Càng hòa đồng được nhiều họ càng thấy gắn bó, bén rễ với phần đất này.

Những đứa trẻ lớn lên đầy ắp kỷ niệm với thành phố với trường học, với bạn bè, làm sao mà bắt nó phải tìm về một nơi khác được, nhất là nơi nó chưa được biết bao giờ. Nếu cha mẹ nhắc nhở từ nhỏ, rồi dẫn dắt tìm về, thì đó là tìm về nguồn gốc của tổ tiên chứ không phải tìm về kỷ niệm.

Kỷ niệm là những gì đáng ghi nhớ người ta đã có trong quá khứ, chứ không phải là điều người ta tưởng tượng ra.

Những cha mẹ lưu vong này mang con về thăm quê, cho con học tiếng nước mình, dậy con văn hóa, sử, địa của quê hương mình. Nhiều đứa trẻ lớn lên biết yêu mến tha thiết với nguồn gốc của ông bà, cha mẹ, nhưng chúng cũng lớn lên với kỷ niệm tuổi thơ của vùng đất chúng trưởng thành.

Sức mạnh của kỷ niệm khuyến khích chúng vững mạnh tiến tới tương lai trước mặt.

Trong nhà chúng tôi ngồi quây quần nói chuyện, những cánh cửa sổ mở rộng ra vườn sau, một đàn chim không biết từ đâu kéo tới chúng ríu rít vang cả sân. Tiếng gọi nhau tràn cả vào buồng đang họp mặt, đến nỗi mọi người phải ngưng nói, nhìn ra ngoài sân. Những con chim tìm về vườn cũ, chúng tìm về kỷ niệm. Chúng xa vườn lâu quá rồi.

Bao giờ tôi mới lại trở về quê? Tôi nghe tiếng đập cánh của chúng lao xao trong lồng ngực xa xứ của mình.


Trần Mộng Tú

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.