Hôm nay,  

Lạc Khúc Kinh Cầu

24/12/202106:43:00(Xem: 7214)


“Cho mẹ mượn cái headphone.” Mẹ hỏi lúc con gái vừa ló mặt ra khỏi phòng. Con gái đứng sựng lại, toan hỏi mẹ mượn headphone làm gì vậy nhưng ngừng lại đúng lúc. Con bé mở vội hộc tủ, lấy cái headphone bạn trai mua cho hôm trước, chạy ra đưa cho mẹ.

Mẹ vội vàng đón lấy. Con bé nhìn mẹ, nhoẻn miệng cười theo thói quen. Rồi vội vã quay về phòng. Chợt con bé đứng sựng lại. Dường như lúc mẹ đưa tay đón lấy cái headphone, những đầu ngón tay gầy của mẹ run rẩy ít nhiều. Bên ngoài tuyết đổ trắng phố phường nhưng trong này ấm áp. Ít ra là ấm áp đối với con bé. Sao hình như những ngón tay của mẹ run run. Nhà đâu có lạnh mà mẹ run thế nhỉ. Ngẫm nghĩ, rồi con bé nhún vai. Chắc chẳng có gì đâu. Mình hấp tấp nên nhìn ra như vậy thôi. Con bé tự trấn an, rồi lại nhìn mình trong tấm gương hình chữ nhật. Một vệt son lem ở cánh môi. Con bé trong gương mỉm cười. Hai con mắt to tròn. Jimmy bảo Jimmy thích hai con mắt to tròn và đen láy này. Jimmy là bạn trai của con bé. Bố cũng thường bảo con bé có hai con mắt của mẹ. Ngày trước bố vẫn hay nói vậy.

Con bé nhìn đồng hồ. Còn gần một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ hẹn. Và Jimmy sẽ lại đón. Biết vậy sao mình vẫn nôn nóng. Con bé lại nhìn mình trong gương. Mái tóc đong đưa hai bờ vai. Hai con mắt chớp điệu đà.

Con bé bước ra phòng khách, vén tấm mành cửa, nhìn ra ngoài. Tuyết đang rơi. Bụi tuyết bay lượn như lũ bướm đêm dưới ánh sáng của ngọn đèn đường. Lái xe cẩn thận nghe Jimmy; lái xe cẩn thận nghe cưng! Cô gái thì thầm một mình. Tuyết nhiều lắm đó!

Con bé quay vào. Những ngón tay xoắn lấy đuôi tóc quăn quăn đậu trên vai. Con bé đi qua phòng ngủ của mẹ. Cửa phòng mở hé. Mẹ ngồi bệt dưới thảm, lưng dựa vào thành giường. Headphone của con bé viền quanh đầu tóc mẹ, trông như chiếc vương miện lỏng lẻo trên đầu một nữ hoàng bị thất sủng trong cổ tích. Mặt mẹ ngước lên trần nhà. Mắt mẹ nhắm. Mẹ đang nghe nhạc.

Buổi tối hôm Giáng Sinh, mẹ ngồi một mình. Mẹ mở nhạc nghe một mình.

Khoảng một tiếng đồng hồ nữa Jimmy sẽ đến. Khoảng một tiếng đồng hồ nữa nhà sẽ vắng tanh. Cây thông Giáng Sinh ở phòng khách nhấp nháy những ngọn đèn. Những ngọn đèn xanh xanh đỏ đỏ không làm ấm nổi căn nhà. Con gái nhìn mình trong gương. Con mắt của mẹ. Bố vẫn bảo thế. Ấy là ngày trước, lúc con gái còn bé. Lâu lắm rồi bố không còn nói vậy nữa. Có phải tại con bé chỉ có đôi mắt của mẹ khi còn nhỏ. Con gái nghĩ thế nhưng ngại hỏi bố. Bố bận rộn tối ngày. Rồi bố đi đi về về thất thường, chả có dịp nào cho con bé hỏi nữa. Con bé cũng không muốn hỏi mẹ. Bởi mẹ có bao giờ nói là con gái có đôi mắt của mẹ đâu, cũng có thể tại mẹ không nhìn rõ được mắt của mẹ nên mẹ không so sánh được.

Con bé muốn đẩy cánh cửa phòng mẹ đang hé mở, để bước vào ngồi xuống cạnh mẹ. Ít ra hai mẹ con sẽ có được với nhau những giây phút ấm cúng buổi tối hôm lễ Giáng Sinh trước khi con bé đi lễ nửa đêm với bạn trai. Và không chừng sẽ vắng nhà cho tới hết ngày mai. Lễ Giáng Sinh nơi đây là mở đầu cho cả một mùa lễ nghỉ.


Chợt con bé thấy những giọt long lanh ở đuôi mắt mẹ.

Mẹ khóc.

Tim con bé đập hụt mất một nhịp. Đúng là mẹ khóc. Một giọt long lanh lăn dài xuống một bên má của mẹ. Con bé đẩy cửa bước vào. Ngồi thụp xuống bên mẹ.

“You okay, mom? Are you crying, mom? You okay?” Những câu hỏi tuột ra khỏi cánh môi hồng con gái. Lúc hoảng hốt con bé hay nói tiếng Anh. Mẹ ngồi im như pho tượng. Hai tay đặt trên lòng. Một chân co một chân duỗi dài trên thảm.

Con gái gỡ cái headphone ra khỏi tai mẹ, đeo vào tai mình. Tiếng chuông giáo đường. Những lời ca tiếng Việt. Con bé cố lắng nghe. “Nhớ tới đêm đầy ánh sáng, hương trong gió tràn mênh mang giây phút như ngừng thôi rơi tiếng kinh muôn lời...” Con bé tròn đôi con mắt, cố hình dung những hình ảnh đang được nhắc tới qua lời bài hát. “Trong giáo đường đêm Noel ấy…” Những câu những chữ quen thuộc. Ngày trước bố vẫn dạy con bé Noel là Christmas. Giáo đường là church. Nàng là cô gái, là she; là her... Nhưng sao những câu hát ấy cứ lập đi lập lại. Con bé cầm cái máy hát cassette cũ kỹ của mẹ lên xem. Tới thế kỷ này mà mẹ vẫn ôm ghì lấy cái máy hát cũ mèm. Một cuộn băng mỏng teo trong ấy. Và dường như cuộn băng chỉ có mỗi một bài với những “đến chốn xưa nàng vắng bóng” và “mắt nàng huyền mơ” mà con bé không hiểu cho lắm.

Chợt mẹ như bừng tỉnh. Mẹ mở choàng hai mắt, vội vàng đưa tay áo chùi những giọt long lanh trên má.

“Mẹ nghe gì mà mỗi một bài vậy?” Con bé hỏi.

Mẹ gượng một nụ cười, “Mẹ chỉ thích mỗi bài ấy thôi.”

“Tại sao? Why?”

Nụ cười nặn ra một cách khó khăn trên cánh môi mẹ. “Cái máy này của bố tặng mẹ, lâu rồi.” Và mẹ đổi giọng vui, “Con chưa đi lễ nửa đêm à?”

Con bé không trả lời câu hỏi của mẹ. “Kể cho con nghe đi. Tell me about it, mom!”

Thế là mẹ kể hết.

Và đêm Giáng Sinh con bé biết thêm một chương sách dễ thương trong cuốn truyện tình yêu của bố mẹ. Một cô gái ngoan đạo, một chàng thanh niên vì yêu thầm cô gái mà cũng trở thành ngoan đạo. Con gái ngồi dựa vào người mẹ. Mẹ là cô gái của Sài Gòn ngày xưa, cô gái ấy đang ngồi ở đây. Còn người thanh niên của Sài Gòn ngày trước giờ này ở đâu?

Tiếng chuông cửa. Có khi nào giờ này bố về không nhỉ. Con bé thầm hỏi. Và chạy vội ra cửa. Cái lạnh gay gắt bám lấy cô. Cô rùng mình. Không phải bố. Cũng không phải Jimmy. Giờ này Jimmy chưa đến được. Chỉ là bà hàng xóm. Một cái thư nhân viên bưu điện đưa nhầm địa chỉ.

“Jimmy lại hở con?” Đứng sau lưng con gái, mẹ hỏi.

Cô gái nhìn mẹ. “Con sẽ bảo Jimmy ở đây đón Giáng Sinh với mình.”

Mẹ ngập ngừng, “Cũng được, nhưng cho mẹ mượn lại cái headphone! Mẹ muốn nghe hoài bài hát Giáng Sinh của mẹ.”

***
Ghi chú: “Giáo Đường Im Bóng” là tựa đề bài hát được nhắc đến trong truyện. Nhạc của Nguyễn Thiện Tơ, lời của Phi Tâm Yến.
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.